Khung điểm Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường

Ngày 11/7/2025, Hội đồng Giáo sư Nhà nước đã ban hành Quyết định số 26/QĐ-HĐGSNN phê duyệt Danh mục Tạp chí khoa học được tính điểm năm 2025, Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường là một trong những Tạp chí đạt điểm cao nhất trong danh mục các tạp chí khoa học được Hội đồng Giáo sư Nhà nước phê duyệt.

Tạp chí có 9 Hội đồng Giáo sư tính điểm, trong đó có: 4 Hội đồng Giáo sư ngành, liên ngành đạt điểm tối đa là 01 điểm, 3 Hội đồng Giáo sư ngành đạt 0,5 điểm; 02 Hội đồng Giáo sư ngành đạt 0,25 điểm.

Số hiện tại

Số 15 (2026)
					Xem Số 15 (2026)
Đã Xuất bản: 10-08-2026

Bài viết

  • NGHIÊN CỨU TUYỂN CHỌN MỘT SỐ DÒNG LÚA THUẦN MỚI CÓ NĂNG SUẤT CAO VÀ ỔN ĐỊNH PHÙ HỢP CHO SẢN XUẤT VỤ MÙA TẠI TỈNH PHÚ THỌ

    Abstract : 0 PDF: 0
    Trần Thị Thu, Tô Thị Mai Hương, Vũ Đăng Tường, Vũ Đăng Toàn
    3-8

    Nghiên cứu nhằm đánh giá sinh trưởng, năng suất và khả năng chống chịu sâu, bệnh của các dòng lúa mới trong điều kiện vụ mùa phụ thuộc nước mưa tại tỉnh Phú Thọ nhằm tuyển chọn giống triển vọng cho sản xuất. Thí nghiệm được thực hiện trên 10 dòng lúa mới (ND1-ND10) và 3 giống đối chứng (CH5, TBR225, IR64) trong vụ mùa năm 2023-2024 tại tỉnh Phú Thọ, trên đất ruộng bậc thang không chủ động tưới. Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh với 3 lần nhắc lại. Kết quả cho thấy, các dòng có thời gian sinh trưởng dao động 97-120 ngày và năng suất đạt 3,89-5,45 tấn/ha, có sự khác biệt rõ về sinh trưởng, năng suất và khả năng chống chịu sâu, bệnh. Một số dòng thể hiện khả năng chống chịu tốt với rầy nâu, bệnh đạo ôn và bạc lá. Các dòng ND1, ND2 và ND6 có mức độ nhiễm sâu bệnh thấp hơn so với đối chứng và đạt năng suất lần lượt là 5,45, 5,29 và 5,33 tấn/ha. Trong đó, dòng ND1 nổi bật với thời gian sinh trưởng ngắn (98 ngày), dạng cây thấp (khoảng 90,5 cm); dòng ND6 có các yếu tố cấu thành năng suất cân đối, góp phần duy trì năng suất ổn định. Kết quả nghiên cứu đã tuyển chọn được 2 dòng lúa ND1 và ND6 triển vọng, phù hợp cho sản xuất vụ mùa tại tỉnh Phú Thọ.

    DOI: https://doi.org/10.71254/04mp5e27
  • CHẾ TẠO NANO NHŨ TƯƠNG TỪ DỊCH CHIẾT LÁ BÌNH BÁT (Annona glabra), SẢ (Cymbopogon citratus) VÀ ĐÁNH GIÁ HOẠT TÍNH KHÁNG NẤM Pyricularia oryzae, KHÁNG VI KHUẨN Xanthomonas oryzae pv. oryzae

    Abstract : 0 PDF: 0
    Nguyễn Văn Phước, Hồ Trương Huỳnh Thị Bạch Phượng Huỳnh Bá Di, Cao Khởi Nghĩa
    9-18

    Bệnh đạo ôn do nấm Pyricularia oryzae và bệnh cháy bìa lá do vi khuẩn Xanthomonas oryzae pv. oryzae gây ra là hai trong những bệnh hại quan trọng làm giảm năng suất lúa trên toàn thế giới. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm bào chế nano nhũ tương từ dịch chiết lá bình bát (Annona glabra) và sả (Cymbopogon citratus), đồng thời đánh giá hoạt tính kháng nấm và kháng khuẩn của chế phẩm trong điều kiện in vitro. Kết quả cho thấy, nano nhũ tương lá bình bát và sả có kích thước hạt lần lượt là 10,2 và 9,6 nm, chỉ số đa phân tán (PDI) thấp (0,154 - 0,249), thế zeta từ 3,5 - 6,1 mV và pH dao động từ 6,2 - 6,5, độ nhớt 8,0 - 8,5 cP, độ đục 0,566 cm⁻¹ và 0,181 cm⁻¹, không xuất hiện hiện tượng lắng hay tách lớp. Đối với nấm Pyricularia oryzae, nano nhũ tương lá bình bát nồng độ 6% thể hiện hiệu quả ức chế mạnh với tỷ lệ ức chế 56,37% ở thời điểm 7 ngày sau khi đặt khuẩn ty và trung bình đạt 46,88%. Nano nhũ tương sả nồng độ 2% cũng cho hiệu quả tương đương với tỷ lệ ức chế trung bình đạt 46,30%. Đối với vi khuẩn Xanthomonas oryzae pv. oryzae, nano nhũ tương lá bình bát nồng độ 6% tạo đường kính vòng vô khuẩn lớn nhất (19,59 mm), tiếp theo là nano nhũ tương sả nồng độ 6% (17,48 mm). Kết quả nghiên cứu cho thấy, nano nhũ tương từ lá bình bát và sả có tiềm năng ứng dụng như các chế phẩm sinh học thân thiện với môi trường trong quản lý bệnh đạo ôn và bạc lá trên lúa, góp phần giảm sự phụ thuộc vào thuốc bảo vệ thực vật hóa học.

    DOI: https://doi.org/10.71254/na2xbv40
  • KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC VÀ ĐA DẠNG DI TRUYỀN CỦA CÁC MẪU GIỐNG LÚA Japonica NHẬP NỘI

    Abstract : 0 PDF: 0
    Lê Trường Giang, Phạm Văn Dân, Trần Huệ Hương, Trần Mạnh Cường, Trần Thị Huyền, Đỗ Văn Đức, Trần Hoàng Lan, Trần Văn Quang
    19-30

    Nghiên cứu nhằm đánh giá một số đặc điểm nông sinh học và đa dạng di truyền của các mẫu giống lúa Japonica (O. sativa var. Japonica) nhập nội thông qua thí nghiệm khảo sát được triển khai trong năm 2023 tại Viện Sinh học và Công nghệ Nông nghiệp, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, xã Gia Lâm, Hà Nội. Kết quả đánh giá đã xác định được 23 mẫu giống có thời gian sinh trưởng ngắn, 29 mẫu giống có chiều cao cây thấp, 37 mẫu giống có khối lượng 1.000 hạt từ trung bình đến cao, 46 mẫu giống có hạt ngắn, bầu, 41 mẫu giống có hàm lượng amylose thấp và 38 mẫu giống có hàm lượng protein cao. Dựa trên các tính trạng hình thái, năng suất và chất lượng gạo, với mức sự sai khác 0,045, các mẫu giống lúa Japonica nhập nội được chia thành 05 nhóm di truyền. Thông tin chi tiết về đặc điểm nông sinh học, chất lượng và đa dạng di truyền của các mẫu giống lúa được trình bày trong bài báo này góp phần cho định hướng tạo biến dị di truyền và chọn tạo giống lúa Japonica ở Việt Nam.

    DOI: https://doi.org/10.71254/28b51t61
  • NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY TRÌNH CHẾ BIẾN BỘT DINH DƯỠNG KHOAI LANG HÒA TAN ĂN LIỀN

    Abstract : 0 PDF: 0
    Nguyễn Văn Lợi, Lê Anh Tuấn, Nguyễn Đoàn Nguyên Bình, Nguyễn Văn Hiếu, Đặng Bửu Tùng Thiện, Vũ Thị Cương
    31-41

    Củ khoai lang là loại nông sản giàu giá trị dinh dưỡng, đặc biệt là giàu tinh bột, vitamin và các chất khoáng. Bột dinh dưỡng khoai lang hoà tan ăn liền là sản phẩm thực phẩm được chế biến từ bột khoai lang, một số nguyên liệu phụ và phụ gia thực phẩm. Hiện nay, ở Việt Nam rất ít các công trình nghiên cứu công bố về quy trình chế biến bột dinh dưỡng khoai lang hoà tan ăn liền. Mục tiêu của nghiên cứu này là xây dựng quy trình chế biến bột dinh dưỡng khoai lang hoà tan ăn liền. Các thông số công nghệ bao gồm: Tỷ lệ phối trộn các nguyên liệu, thời gian đảo trộn và nhiệt độ sấy. Mỗi thông số công nghệ được bố trí theo 4 công thức thí nghiệm, mỗi công thức thí nghiệm có khối lượng 2 kg và được lặp lại 3 lần. Kết quả đã xác định được tỷ lệ phối trộn các nguyên liệu là: Bột khoai lang 80%, sữa bột không đường 8%, β-cyclodextrin 10% và đường trắng 2%; thời gian đảo trộn là 3 phút; nhiệt độ sấy là 70oC. Với các thông số công nghệ này, thời gian sấy là 120 phút, độ ẩm của sản phẩm nhỏ hơn 6%. Sản phẩm có hàm lượng protein (3,18-3,31 g/100 g), đường tổng số (34,97-35,79 g/100 g), vitamin B1 (0,23-0,25 mg/kg), vitamin B2 (0,3-0,32 mg/kg), vitamin A (1,53-1,57 mg/kg), canxi (825-897 mg/kg), sắt (13,62-15,62 mg/kg), không phát hiện nấm mốc, màu vàng nhạt đặc trưng, mùi thơm đặc trưng, vị ngọt bùi đặc trưng, cấu trúc và trạng thái tơi xốp, không bị vón cục.

    DOI: https://doi.org/10.71254/v6yahk15
  • TỐI ƯU HÓA ĐIỀU KIỆN TRÍCH LY POLYPHENOL, FLAVONOID TỪ VỎ ẤU BẰNG PHƯƠNG PHÁP BỀ MẶT ĐÁP ỨNG

    Abstract : 0 PDF: 0
    Cao Thúy Liễu, Dương Hiền Bửu, Đào Phúc Hậu, Lê Minh Chiến, Lê Uyển Nhi, Lưu Thái Danh, Đỗ Thị Tuyết Nhung, Trần Chí Nhân
    42-51

    Vỏ ấu là nguồn cung cấp dồi dào các hợp chất sinh học. Tuy nhiên, lượng lớn vỏ bị loại bỏ, gây tác động tiêu cực đến môi trường. Mặc dù có tiềm năng lớn, điều kiện trích ly các hợp chất này bằng phương pháp Soxhlet nhằm tối ưu hiệu suất thu hồi (Y), hàm lượng phenolic tổng số (TPC) và flavonoid tổng số (TFC) chưa được công bố đối với các giống ấu được trồng tại Việt Nam. Thiết kế Central Composite Design được sử dụng với 3 nhân tố: Khối lượng nguyên liệu (50-100 g), thời gian trích ly (50-150 phút) và nồng độ ethanol (70-90%). Bề mặt đáp ứng (RSM) cho thấy sự tương tác giữa khối lượng nguyên liệu, thời gian và nồng độ ethanol tác động đáng kể đến các đáp ứng. Kết quả tối ưu đồng thời cho thấy, Y, TPC và TFC lần lượt đạt 19,20±0,51%, 606,54±9,41 mg GAE/g và 129,01±0,76 mg QE/g tại điều kiện 88,3 g nguyên liệu, nồng độ ethanol 88,8% và 79,3 phút. Nghiên cứu góp phần nâng cao giá trị sử dụng của nguồn phụ phẩm từ vỏ ấu, mở ra hướng ứng dụng thực tiễn to lớn trong sản xuất thực phẩm chức năng tự nhiên, phát triển kinh tế tuần hoàn từ phụ phẩm nông nghiệp và tạo cơ sở khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo.

    DOI: https://doi.org/10.71254/hw4wcv60
  • NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA THỜI GIAN BẢO QUẢN LẠNH ĐÔNG THỊT QUẢ SA KÊ ĐẾN CHẤT LƯỢNG BỘT VÀ BÚN KHÔ BỔ SUNG BỘT SA KÊ

    Abstract : 0 PDF: 0
    Trần Thị Minh Thư, Huỳnh Thị Kiều Oanh
    52-59

    Mục đích của nghiên cứu nhằm đánh giá ảnh hưởng của thời gian bảo quản lạnh đông thịt quả sa kê tươi (ở nhiệt độ - 20°C) đến đặc tính hóa lý và chức năng của bột sa kê, cũng như chất lượng bún khô được chế biến từ bột này. Thịt quả sa kê được trữ đông trong 5 tháng; định kỳ mỗi tháng, mẫu được chế biến thành bột và phối trộn 20% để sản xuất bún khô. Các chỉ tiêu chất lượng của bột (màu sắc, khả năng hút nước, độ trương nở, hàm lượng amylose, tính chất nhiệt) và đặc tính nấu của bún (độ hút nước, độ trương nở, độ thất thoát khi nấu và độ cứng) được phân tích. Kết quả cho thấy, thời gian lạnh đông dài làm bột sa kê sẫm màu (độ sáng L* giảm từ 110,84 xuống 106,36), hàm lượng amylose giảm từ 27,23-22,35% trong khi khả năng hút nước tăng 1,05 lần và độ trương nở ở 80˚C tăng 1,11 lần, nhiệt độ hồ hóa giảm khoảng 3ºC sau 5 tháng. Bún khô tạo thành cũng giảm độ sáng L* từ 59,16 xuống 53,90; thời gian nấu giảm 1 phút, khả năng hút nước và trương nở giảm lần lượt là 1,57 và 1,13 lần, trong khi tỷ lệ thất thoát khi nấu và độ cứng của bún tăng là 33% và 27%. Kết quả này phản ánh hiện tượng thoái hóa tinh bột trong quá trình bảo quản lạnh đông kéo dài.

    DOI: https://doi.org/10.71254/nsqyn154
  • SỬ DỤNG PREBIOTIC VÀ PROBIOTIC TRONG AO NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG (Litopenaeus vannamei) Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

    Abstract : 0 PDF: 0
    Huỳnh Trường Giang, Phan Thị Cẩm Tú, Nguyễn Thị Kim Hà, Vũ Hùng Hải, Lâm Chí Nguyễn, Đỗ Thị Thanh Hương
    60-69

    Nghiên cứu khảo sát 90 hộ nuôi tôm thẻ chân trắng theo mô hình thâm canh (TC) và siêu thâm canh (STC) ở thành phố Cần Thơ và tỉnh Cà Mau nhằm đánh giá thực trạng sử dụng prebiotic, probiotic và synbiotic trong quản lý môi trường và sức khỏe tôm nuôi. Kết quả cho thấy, tỉ lệ hộ sử dụng prebiotic còn thấp, chiếm 15,9% ở nhóm nuôi TC và 34,8% ở nhóm nuôi STC, với các thành phần chủ yếu là β-glucan (100%) và mannan-oligosaccharide (MOS, 13%). Trong khi đó, 100% số hộ khảo sát sử dụng probiotic, phổ biến nhất là Bacillus (91,6%), tiếp theo là Saccharomyces (26,6%), Lactobacillus (17,5%), vi khuẩn tía quang hợp (6,5%) và vi khuẩn nitrate hóa (3,2%). Đối với synbiotic, chỉ 10% số hộ khảo sát sử dụng các sản phẩm kết hợp prebiotic và probiotic nhằm tăng hiệu quả hỗ trợ tiêu hóa, tăng trưởng và sức khỏe tôm nuôi. Hầu hết các sản phẩm prebiotic, probiotic và synbiotic được sử dụng trong giai đoạn nuôi thương phẩm thông qua phối trộn vào thức ăn, với tỷ lệ áp dụng ở các hộ STC cao hơn so với TC. Khoảng 55,6% số hộ tăng cường liều lượng sản phẩm gấp 1,5-2 lần khi điều kiện môi trường bất lợi hoặc sức khỏe tôm suy giảm. Người nuôi thường ưu tiên các sản phẩm chứa đa chủng lợi khuẩn, giá thành phù hợp và được cung cấp bởi các đơn vị uy tín. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở thực tiễn cho việc phát triển các sản phẩm synbiotic phục vụ nuôi tôm bền vững ở Đồng bằng sông Cửu Long.

    DOI: https://doi.org/10.71254/8z35vn68
  • THỬ NGHIỆM KHẢ NĂNG KHỬ TRÙNG TRONG NƯỚC THẢI SINH HOẠT BẰNG SÓNG SIÊU ÂM

    Abstract : 0 PDF: 0
    Hoàng Đức An, Huỳnh Thị Minh Thành, Võ Thị Hồng Phượng
    70-75

    Nghiên cứu này đánh giá hiệu quả khử trùng bằng chiếu xạ siêu âm đối với nước thải sinh hoạt được lấy từ hệ thống nước thải tại phường Quy Nhơn Nam, tỉnh Gia Lai. Ảnh hưởng của tần số siêu âm (30 và 40 kHz), thời gian chiếu xạ (1-12 phút) và mật độ công suất (50-200 W/L) đến khả năng bất hoạt vi sinh vật được khảo sát. Sóng siêu âm ở tần số 30 kHz và 40 kHz được thử nghiệm với thời gian chiếu xạ từ 1-12 phút và công suất từ ​​50-200 W/L. Các chỉ tiêu vi sinh, bao gồm tổng số vi sinh vật hiếu khí và tổng số Coliform được xác định trước và sau khi xử lý bằng sóng siêu âm. Kết quả cho thấy, mật độ vi sinh vật giảm đáng kể sau khi chiếu xạ, với hiệu quả khử trùng tăng tỷ lệ thuận với thời gian và công suất siêu âm. Ở tần số 30 kHz, hiệu quả loại bỏ vi sinh vật tăng từ 0,13 LOG (tương đương với mức giảm 26,16%) ở 1 phút lên 0,37 LOG (mức giảm 57,56%) ở 12 phút. Xu hướng tương tự cũng được ghi nhận ở tần số 40 kHz, với mức giảm dao động từ 0,09 LOG (19,19%) đến 0,31 LOG (51,16%). Khi mật độ công suất được tăng lên 200 W/L ở tần số 30 kHz, hiệu quả khử trùng vi sinh vật đạt mức tối đa 0,78 LOG (giảm 83,37%). Nghiên cứu này chứng minh rằng, siêu âm công suất cao là một giải pháp tiềm năng nhắm đến giai đoạn tiền xử lý hoặc kết hợp như một bước xử lý khử trùng cuối cùng cho nước thải sinh hoạt.

    DOI: https://doi.org/10.71254/mdmj5k36
  • MỐI LIÊN HỆ GIỮA MÔI TRƯỜNG NƯỚC VÀ ĐA DẠNG SINH HỌC THỰC VẬT THỦY SINH Ở MỘT SỐ KÊNH, RẠCH THÀNH PHỐ CẦN THƠ

    Abstract : 0 PDF: 0
    Đào Hoàng Nam, Võ Thị Phương Thảo, Nguyễn Thanh Liêm, Huỳnh Thị Tú Uyên, Nguyễn Ngọc Hân, Tôn Thiên Giáp, Lê Minh Duy, Ngô Thụy Diễm Trang
    76-86

    Nghiên cứu đánh giá mối quan hệ giữa chất lượng môi trường nước và đa dạng sinh học (ĐDSH) thực vật thủy sinh (TVTS) tại 5 thủy vực ở thành phố Cần Thơ bao gồm: Kênh Búng Xáng, rạch Ngỗng, rạch Cái Khế, rạch Cái Nai và sông Cần Thơ bằng phương pháp ô tiêu chuẩn (OTC) kết hợp phân tích môi trường nước bao gồm: pH, TDS, DO, COD, N-NH4+, N-NO3-, N-NO2- và TP. Tổng cộng có 90 OTC và 90 mẫu nước được thu thập qua 2 đợt khảo sát, bao gồm 9 OTC và 9 vị trí lấy mẫu nước/kênh/đợt. Chất lượng nước khác biệt rõ rệt giữa các thủy vực, trong đó kênh Búng Xáng và rạch Ngỗng bị ô nhiễm hữu cơ và dinh dưỡng cao với COD, N-NH4+ và TP vượt 1,7-2,3 lần so với giới hạn cho phép của QCVN 08:2023/BTNMT (Bảng 2, cột B), trong khi rạch Cái Nai và sông Cần Thơ có chất lượng nước tốt hơn. Tổng số loài TVTS xuất hiện ở cả 2 đợt là 14 loài thuộc 9 họ và 7 bộ, với các loài có khả năng thích nghi rộng với điều kiện môi trường như lục bình và rau muống đều xuất hiện ở hầu hết các thủy vực. Chỉ số đa dạng (H’) đạt 0,66-1,98; chỉ số phong phú (D) đạt 0,39-2,16; chỉ số ưu thế (Cd) đạt 0,17-0,53, trong đó đa dạng loài đợt 1 cao hơn đợt 2 và sông Cần Thơ đạt thấp nhất (D = 0,39). Phân tích PCA cho thấy, sự gia tăng hàm lượng dinh dưỡng và chất rắn hòa tan là yếu tố chính thúc đẩy sự đa dạng và phong phú loài (r = 0,44 và 0,61). Ngược lại, chỉ số Cd tương quan nghịch mạnh với H’ (r = -0,98) và D (r = -0,99) và tương quan thuận duy nhất với DO (r = 0,75). Môi trường giàu oxy hòa tan nhưng chịu tác động xáo trộn liên tục từ dòng chảy mạnh và ghe thuyền chợ Nổi làm cho hệ thực vật tại sông Cần Thơ (nơi có DO cao) bị thu hẹp, chỉ tồn tại hai loài lục bình và rau muống.

    DOI: https://doi.org/10.71254/em7v8v21
  • PHÂN LOẠI THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU NÔNG SẢN VIỆT NAM: PHƯƠNG PHÁP VÀ ÁP DÚNG THỰC TẾ

    Abstract : 0 PDF: 0
    Trần Công Thắng, Nguyễn Anh Phong, Vũ Huy Phúc
    87-96

    Trong bối cảnh xuất khẩu nông sản của Việt Nam tiếp tục mở rộng về quy mô và thị trường, tính đến năm 2025 nông sản Việt Nam đã có mặt ở trên 180 quốc gia và vùng lãnh thổ, việc phân loại thị trường xuất khẩu có ý nghĩa quan trọng đối với quản lý nhà nước, xúc tiến thương mại và định hướng kinh doanh của doanh nghiệp. Nghiên cứu này đề xuất phương pháp phân loại thị trường xuất khẩu nông sản của Việt Nam dựa trên chấm điểm đa tiêu chí có trọng số, kết hợp giữa chỉ tiêu định lượng và đánh giá chuyên gia. Bộ chỉ số gồm 11 tiêu chí thuộc 4 nhóm: Quy mô thị trường, khả năng cạnh tranh, tiềm năng phát triển và mức độ rủi ro. Trên cơ sở tổng điểm đánh giá, các thị trường được phân thành 5 nhóm: Thị trường trọng điểm, thị trường tiềm năng, thị trường mới nổi, thị trường ngách và thị trường cận biên. Phương pháp được thử nghiệm đối với một số ngành hàng xuất khẩu chủ lực gồm: Gạo, rau quả và cà phê. Kết quả cho thấy, phương pháp đề xuất có khả năng nhận diện mức độ ưu tiên của từng thị trường, phản ánh tương đối sát thực tiễn xuất khẩu theo ngành hàng và hỗ trợ xây dựng chiến lược tiếp cận phù hợp. Nghiên cứu có thể là cơ sở tham khảo cho cơ quan quản lý và doanh nghiệp trong phát triển thị trường xuất khẩu nông sản của Việt Nam.

    DOI: https://doi.org/10.71254/q388gv29
Xem Tất cả Các số