Khung điểm Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường

Ngày 11/7/2025, Hội đồng Giáo sư Nhà nước đã ban hành Quyết định số 26/QĐ-HĐGSNN phê duyệt Danh mục Tạp chí khoa học được tính điểm năm 2025, Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường là một trong những Tạp chí đạt điểm cao nhất trong danh mục các tạp chí khoa học được Hội đồng Giáo sư Nhà nước phê duyệt.

Tạp chí có 9 Hội đồng Giáo sư tính điểm, trong đó có: 4 Hội đồng Giáo sư ngành, liên ngành đạt điểm tối đa là 01 điểm, 3 Hội đồng Giáo sư ngành đạt 0,5 điểm; 02 Hội đồng Giáo sư ngành đạt 0,25 điểm.

Số hiện tại

Số 16 (2026)
					Xem Số 16 (2026)
Đã Xuất bản: 25-08-2026

Bài viết

  • NGHIÊN CỨU TẠO RỄ In vitro VÀ THUẦN HÓA CÂY HOA GIẤY CẨM THẠCH ĐỎ SEN (Bougainvillea ‘Tropical Rainbow’) NGOÀI VƯỜN ƯƠM

    Abstract : 0 PDF: 0
    Phan Diễm Quỳnh, Hà Thị Loan, Nguyễn Kim Thủy
    3-11

    Hoa giấy Cẩm thạch đỏ sen (Bougainvillea 'Tropical Rainbow') nhập nội từ Thái Lan được đánh giá cao nhờ điểm đặc biệt nằm ở những chiếc lá có sự pha trộn giữa màu xanh lục và màu trắng kem đặc trưng, làm nổi bật các lá bắc màu đỏ tươi rất bắt mắt. Nghiên cứu này nhằm xác định môi trường tạo rễ thích hợp cho chồi hoa giấy nuôi cấy mô và đánh giá ảnh hưởng của các loại giá thể và phân bón lá khác nhau đến quá trình thuần hóa cây con trong điều kiện vườn ươm. Môi trường tạo rễ tối ưu là WPM bổ sung 30 g/L đường, 7 g/L agar, 0,5 g/L than hoạt tính, 3 mg/L IBA và 1 mg/L NAA đạt tỷ lệ ra rễ 90,0% với trung bình 8,33 rễ/chồi, chiều dài rễ 7,20 cm và chiều cao cây 6,63 cm. Trong giai đoạn thuần hóa tại vườn ươm, cây con trồng trên giá thể 100% mụn dừa cho tỷ lệ sống cao nhất (93,3%). Phun phân bón lá NPK 33-11-11 ở nồng độ 1 g/L kết hợp với Atonik ở nồng độ 1 ml/L đã cải thiện đáng kể khả năng sinh trưởng của cây, làm tăng chiều cao cây và số lá lần lượt là 29,8% và 83,9% so với đối chứng. Nghiên cứu đã bước đầu hoàn thiện quy trình tạo rễ và thuần hóa cây hoa giấy Cẩm thạch đỏ sen tại Việt Nam, tạo cơ sở cho việc sản xuất cây giống đồng đều và có chất lượng.

    DOI: https://doi.org/10.71254/qbess940
  • ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ NHIỄM MẶN ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ GIỐNG CẢI VÀ ĐẶC TÍNH CỦA ĐẤT TRONG ĐIỀU KIỆN NHÀ LƯỚI

    Abstract : 0 PDF: 0
    Nguyễn Minh Ngọc, Võ Thị Phương Thảo, Nguyễn Ngọc Hân, Tôn Thiên Giáp, Phạm Ngọc Hân, Nguyễn Châu Thanh Tùng, Ngô Thụy Diễm Trang
    12-21

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng nồng độ tưới mặn (4, 6, 8‰) đến sinh trưởng cải bẹ xanh (Brassica juncea), cải ngọt (Brassica integrifolia) và sự tích lũy mặn trong đất trong điều kiện nhà lưới. Thí nghiệm được thực hiện từ tháng 10/2025 đến tháng 12/2025 trong điều kiện nhà lưới. Cây được tưới mặn theo các nghiệm thức với tần suất 2 lần/ngày liên tục từ giai đoạn 28 ngày sau khi gieo (NSKG) đến thu hoạch (42 NSKG) và nghiệm thức đối chứng được tưới nước ngọt (0‰). Hai giống cải đều là đối tượng nghiên cứu, không có giống đối chứng. Việc so sánh giữa hai giống nhằm xác định giống có khả năng chịu mặn tốt hơn, làm cơ sở lựa chọn giống phù hợp cho canh tác ở vùng chịu ảnh hưởng xâm nhập mặn. Sự gia tăng độ mặn trong nước tưới đã làm giảm các chỉ tiêu sinh trưởng như: Chiều cao cây, chiều dài rễ, số lá và diện tích lá, với mức giảm từ 6,5-34,5% và giảm mạnh nhất ở các nghiệm thức 6-8‰. Khối lượng tươi thân lá của cải xanh và cải ngọt khi tưới mặn 4, 6,8‰ giảm lần lượt 14,76; 46,50; 58,07% và 26,06; 37,65; 43,08% so với cây đối chứng không tưới mặn (305,84 và 229,53 g/cây tương ứng cải xanh và cải ngọt). Khối lượng tươi và khô của rễ cũng giảm theo độ mặn, với mức giảm 12,5-31,3% ở cải xanh và 13,0-36,2% ở cải ngọt. Chỉ số khả năng chịu mặn (STI) khi tưới mặn 4, 6, 8‰ của cải ngọt đạt 79,3; 72,4; 61,7% cao hơn so với cải xanh đạt 72,9; 53,7; 41,5%. Giá trị ECe và hàm lượng Na⁺ trong đất tăng rõ rệt và pH đất có xu hướng giảm nhẹ sau 14 ngày tưới mặn. Cụ thể, giá trị ECe trong đất tăng từ 1,1-1,2 mS/cm ở nghiệm thức không tưới mặn lên 3,2-3,4; 4,3-4,6; 5,1-5,2 mS/cm, tương ứng với các mức 4, 6, 8‰, cao hơn 2,0 - 4,8 lần so với đối chứng. Đất sau khi tưới mặn 4‰ thuộc nhóm mặn ít và tưới mặn 6-8‰ thuộc nhóm mặn trung bình đến mặn cao. Cả hai giống cải có khả năng chịu mặn đến khoảng 6‰, trong đó cải ngọt thích nghi và chịu mặn tốt hơn trong điều kiện nhiễm mặn trung bình đến mặn cao, phù hợp với điều kiện canh tác tại Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh xâm nhập mặn.

    DOI: https://doi.org/10.71254/y5k4ph52
  • ẢNH HƯỞNG NGẮN HẠN CỦA CÁC CHẾ ĐỘ BÓN PHÂN ĐẾN MỘT SỐ TÍNH CHẤT HÓA HỌC ĐẤT TRỒNG XÀ LÁCH TẠI PHƯỜNG HÓA CHÂU, THÀNH PHỐ HUẾ

    Abstract : 0 PDF: 0
    Trần Thị Minh Châu, Phạm Gia Tùng, Trần Thị Ánh Tuyết
    22-27

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng ngắn hạn của các chế độ bón phân đến một số tính chất hóa học đất trồng xà lách tại phường Hóa Châu, thành phố Huế. Thí nghiệm ngoài đồng ruộng được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ với 4 nghiệm thức gồm: Đối chứng không bón phân (CT1), phân gà (CT2; 20 tấn/ha), phân gà kết hợp NPK (CT3; 10 tấn phân gà/ha + 100 kg NPK 16-16-8/ha) và NPK (CT4; 250 kg NPK 16-16-8/ha), với 3 lần lặp lại. Mẫu đất được thu sau 35 ngày để phân tích pHH2O, EC, NH4⁺-N, NO3⁻-N, các bon tổng số (TC), nitơ tổng số (TN) và tỷ lệ C/N. Kết quả cho thấy, các chế độ bón phân làm thay đổi rõ pHH2O, EC và nitơ khoáng của đất, trong khi TC, TN và tỷ lệ C/N chưa khác biệt có ý nghĩa thống kê. EC tăng từ 0,11 dS m⁻¹ ở CT1 không bón phân lên 0,21 dS m⁻¹ ở nghiệm thức CT4, trong khi NO3⁻-N tăng từ 49,6 mg kg⁻¹ ở nghiệm thức CT1 không bón phân lên 102,7 mg kg⁻¹ ở nghiệm thức CT3. Các nghiệm thức có bổ sung phân gà duy trì pHH2O đất ở mức cao hơn so với nghiệm thức chỉ bón phân NPK. Nhìn chung, trong điều kiện nghiên cứu ngắn hạn, công thức phối hợp phân gà và NPK (CT3) tạo phản ứng hóa học đất trung gian hơn so với chỉ bón phân NPK, đặc biệt đối với pHH2O, EC và các dạng nitơ khoáng.

    DOI: https://doi.org/10.71254/kzcqnh38
  • KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA BAO BÌ VÀ NHIỆT ĐỘ BẢO QUẢN ĐẾN MỘT SỐ ĐẶC TÍNH CỦA KẸO DẺO TRÁI GIÁC (Cayratia trifolia L.)

    Abstract : 0 PDF: 0
    Đoàn Thị Kiều Tiên, Trần Thị Thùy Linh, Trần Hoàng Hiệp, Huỳnh Thị Ngọc Mi, Nguyễn Thị Yến Như, Võ Thị Thúy Cầm, Huỳnh Quốc Dương Em
    28-37

    Giác là một loại dây leo thân gỗ mọc hoang dại trong trảng cỏ và rừng thưa, dọc hàng rào hay các bụi ở Việt Nam và nhiều quốc gia trên thế giới. Trái giác có chứa nhiều thành phần có hoạt tính sinh học tốt cho sức khỏe. Các sản phẩm chế biến từ trái giác như rượu, cider, mứt, kẹo dẻo. Đối với sản phẩm kẹo dẻo, dù đã công bố quy trình công nghệ chế biến sản phẩm nhưng chưa có bất kỳ khảo sát nào về sự biến đổi chất lượng sau khi chế biến. Nghiên cứu này đã khảo sát thành công khả năng duy trì chất lượng kẹo dẻo trái giác bởi 3 loại bao bì là lọ thủy tinh, túi zip và hộp nhựa, đồng thời đánh giá tác động của điều kiện nhiệt độ tồn trữ sản phẩm đến sự thay đổi các chỉ tiêu hóa lý, vi sinh, cảm quan. Kết quả cho thấy, khi bảo quản trong lọ thủy tinh, kẹo dẻo trái giác duy trì được các đặc tính sản phẩm tốt nhất. Tốc độ giảm độ ẩm chậm, cấu trúc gel ổn định hơn, độ cứng ít gia tăng, đồng thời duy trì màu sắc và chất lượng cảm quan. Thêm vào đó, bảo quản ở điều kiện nhiệt độ lạnh (4-10°C) giúp làm chậm đáng kể các biến đổi bất lợi về hóa lý và cảm quan của sản phẩm so với bảo quản ở nhiệt độ phòng (28-32°C). Qua 60 ngày tồn trữ trong hũ thủy tinh ở điều kiện lạnh (4-10°C), sản phẩm kẹo dẻo có độ ẩm là 35,17±0,33%, hàm lượng acid tổng số là 1,16±0,00%, hàm lượng vitamin C là 14,80±2,56 mg%, hàm lượng đường tổng số là 48,90±0,00 %, giữ giá trị cảm quan phù hợp, mật số vi sinh vật tổng số <10 CFU/g đáp ứng yêu cầu theo tiêu chuẩn việt Nam. Đây là nghiên cứu đầu tiên về bảo quản kẹo dẻo trái giác.

    DOI: https://doi.org/10.71254/j1ggq326
  • TRÍCH LY CHẤT XƠ TỪ PHỤ PHẨM CAM SÀNH (Citrus sinensis) BẰNG ACID CITRIC VỚI SỰ HỖ TRỢ VI SÓNG VÀ SIÊU ÂM

    Abstract : 0 PDF: 0
    Nguyễn Cẩm Hường, Trần Chí Nhân, Trần Thanh Trúc
    38-48

    Nghiên cứu này khảo sát thành phần hóa học của phụ phẩm cam sành (Citrus sinensis) và đánh giá hiệu quả thu nhận chế phẩm giàu SDF bằng phương pháp trích ly có hỗ trợ vi sóng (AMAE) và siêu âm (AUAE) trong dung dịch acid citric. Phụ phẩm cam sành chứa hàm lượng carbohydrate cao (89,06% cbk), trong đó chất xơ tổng số chiếm 75,22% với tỷ lệ SDF/IDF cân đối. Kết quả cho thấy, AMAE ở 40-60 W/g, 300-420 giây cho hiệu suất thu nhận 24,31-34,56% với thành phần chất xơ ở điều kiện tối ưu 50,30% SDF và 18,08% IDF, cùng các đặc tính hóa lý như độ hòa tan 73,30% WS và độ bền nhũ 79,78% ES tốt hơn AUAE ở 12-40 W/g, 5-15 phút (23,91-32,56% hiệu suất, 41,45% SDF và 20,44% IDF), kém hơn ở khả năng giữ nước (WHC), trương nở (WSC) và tạo nhũ (EC). Nhìn chung, AMAE là phương pháp hiệu quả hơn để thu nhận chế phẩm giàu SDF từ phụ phẩm cam sành, mở ra tiềm năng ứng dụng trong sản xuất thực phẩm giàu xơ hòa tan.

    DOI: https://doi.org/10.71254/q9qy9151
  • THU NHẬN ĐỒNG THỜI BỘT PROTEIN THỦY PHÂN VÀ LIPID THÔ TỪ PHỤ PHẨM THỊT VỤN CÁ TRA (Pangasianodon hypophthalmus) TẠI CÔNG ĐOẠN CHỈNH HÌNH CÁ BẰNG ENZYME THƯƠNG MẠI

    Abstract : 0 PDF: 0
    Phạm Viết Nam, Hoàng Ngọc Cương, Trần Thị Mỹ Kim, Lý Thị Kiều, Đinh Thị Phương Nhiên, Nguyễn Đỗ Bảo Trân, Cù Ngọc Huỳnh, Phan Thị Phương Thảo
    49-59

    Nghiên cứu này đánh giá khả năng tận dụng thịt vụn cá tra phát sinh tại công đoạn chỉnh hình cá phi lê đông lạnh để thu nhận đồng thời bột protein thủy phân và lipid thô bằng enzyme Alcalase. Kết quả khảo sát cho thấy, thịt vụn cá tra phát sinh với tỷ lệ cao (22,5-24,7%) và có tiềm năng trở thành nguồn nguyên liệu giàu protein, lipid cho quá trình chế biến sâu. Quá trình thủy phân ở điều kiện Alcalase 0,8%, nhiệt độ 60°C trong thời gian 6 giờ đạt độ thủy phân 30,32% và hiệu suất thu hồi nitơ đạt 89,28%, tạo dịch protein có hàm lượng protein hòa tan cao và đặc tính phù hợp cho ứng dụng thực phẩm. Đồng thời, phân đoạn lipid thu hồi chứa hàm lượng đáng kể acid béo không bão hòa, trong đó có EPA và DHA. Bột protein thủy phân thu nhận có hàm lượng protein cao, độ hòa tan tốt (98,65%) và chất lượng vi sinh đạt yêu cầu. Nghiên cứu cho thấy tiềm năng khai thác thịt vụn cá tra theo hướng thu hồi đa sản phẩm, góp phần nâng cao giá trị phụ phẩm và phát triển bền vững ngành chế biến thủy sản.

    DOI: https://doi.org/10.71254/6qzjd237
  • TÍCH HỢP CÔNG CỤ KINH TẾ VÀ HỆ THỐNG MRV TRONG QUẢN LÝ KHÍ NHÀ KÍNH TẠI VIỆT NAM HƯỚNG TỚI MỤC TIÊU PHÁT THẢI RÒNG BẰNG "0"

    Abstract : 0 PDF: 0
    Nguyễn Thanh Giao, Nguyễn Thị Lành, Nguyễn Văn Linh, Hà Thảo Nguyên
    60-67

    Nghiên cứu phân tích quá trình kiến tạo khung pháp lý quản lý khí nhà kính (KNK) tại Việt Nam giai đoạn 2020-2025 nhằm thực hiện cam kết phát thải ròng bằng "0". Bằng phương pháp phân tích chính sách kết hợp đối sánh kỹ thuật với hướng dẫn của IPCC (2006), nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch quản lý sang các công cụ kinh tế thị trường. Kết quả cho thấy, hệ thống đo đạc, báo cáo, thẩm định (MRV) đã được thiết lập chặt chẽ cùng cơ chế kiểm soát những chất có tiềm năng nóng lên toàn cầu cao. Cơ quan chức năng đang triển khai đồng bộ phí xả thải, thị trường carbon và tín dụng xanh để tối ưu hóa nguồn lực. Đồng thời, các hàng rào kỹ thuật kiểm soát nguồn thải công nghiệp, giao thông cũng được thiết lập thông qua hệ thống quy chuẩn quốc gia. Những chính sách này trực tiếp thúc đẩy doanh nghiệp ứng dụng giải pháp công nghệ carbon thấp gắn với mô hình kinh tế tuần hoàn. Việc tích hợp quy định kỹ thuật môi trường cùng cơ chế tài chính là định hướng thiết thực để cân bằng giữa tăng trưởng và giảm nhẹ biến đổi khí hậu, tạo ra nguồn tài liệu khoa học, rõ ràng, cung cấp thông tin hữu ích cho cộng đồng học thuật cùng các nhà quản lý.

    DOI: https://doi.org/10.71254/dpywjs08
  • ỨNG DỤNG GOOGLE EARTH ENGINE VÀ DỮ LIỆU GEDI ĐỂ ƯỚC TÍNH TRỮ LƯỢNG CARBON TRÊN MẶT ĐẤT TẠI KHU VỰC ĐẦM THỊ NẠI, TỈNH GIA LAI

    Abstract : 0 PDF: 0
    Vũ Thị Hoài Thu, Đặng Thị Kiều Oanh, Triệu Ánh Ngọc
    68-79

    Đầm Thị Nại là hệ đầm phá ven biển lớn ở miền Trung, nơi tập trung các kiểu lớp phủ và thảm thực vật đặc trưng của cảnh quan ven đầm. Nghiên cứu này tích hợp ảnh Sentinel-2 mức phản xạ bề mặt, dữ liệu GEDI L2A/L4A V002 và DEM SRTM trên nền tảng Google Earth Engine nhằm: (i) phân loại lớp phủ sử dụng đất năm 2024; (ii) mô hình hóa chiều cao tán (TCH), mật độ sinh khối trên mặt đất (AGBD); và (iii) ước tính trữ lượng carbon trên mặt đất của các lớp phủ có thảm thực vật. Bộ biến đầu vào gồm các băng phổ gốc, NDVI, NDWI, NDBI, ba thành phần chính PCA và hai biến địa hình; bốn thuật toán RF, CART, GBT và SVM được so sánh. Dữ liệu GEDI được lọc theo các chỉ tiêu chất lượng trước khi liên kết với Sentinel-2. Kết quả phân loại cho thấy, mặt nước chiếm 53,81 km²; tiếp theo là cây hàng năm 44,78 km², rừng 39,88 km², đất xây dựng 30,88 km², đất trống 21,03 km² và cây lâu năm 10,26 km²; độ chính xác phân loại đạt OA=99,00% và Kappa=0,9877. Trong mô hình hồi quy, RF cho kết quả tốt nhất với RMSE=3,82 m đối với TCH và 7,77 Mg/ha đối với AGBD, tương ứng R²=0,62 và R²=0,64. Tổng trữ lượng carbon trên mặt đất của các lớp phủ có thảm thực vật ước tính đạt 71.583,47 Mg C. Kết quả khẳng định tiềm năng của việc kết hợp GEE, Sentinel-2 và GEDI trong giám sát carbon trên mặt đất ở hệ sinh thái ven đầm; đồng thời chỉ ra nhu cầu bổ sung kiểm chứng thực địa độc lập và lượng hóa carbon dưới mặt đất/trầm tích trong các nghiên cứu tiếp theo.

    DOI: https://doi.org/10.71254/d2ehny13
  • ĐA DẠNG CÔN TRÙNG CÁNH VẨY (Lepidoptera) TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN PÙ HUỐNG, TỈNH NGHỆ AN

    Abstract : 0 PDF: 0
    Lê Bảo Thanh, Hoàng Thị Hằng, Võ Minh Sơn, Lê Nhật Minh
    80-87

    Áp dụng phương pháp điều tra tuyến, điểm kết hợp sử dụng các bẫy chuyên dùng để thu thập mẫu và xác định các loài côn trùng cánh vảy thuộc các sinh cảnh điển hình tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Huống, tỉnh Nghệ An. Kết quả đã ghi nhận được 256 loài côn trùng cánh vẩy thuộc 145 giống, 16 họ, bổ sung mới cho khu vực nghiên cứu 66 loài. Trong đó, họ Nymphalidae có số loài nhiều nhất chiếm 27,73% tổng số loài, tiếp theo là họ Hesperiidae chiếm 17,97% tổng số loài, họ Lycaenidae chiếm 15,63% tổng số loài, họ Papilionidae chiếm 8,98%, họ Pieridae chiếm 8,20%, họ Satyridae chiếm 6,25%, họ Danaidae chiếm 5,08%, họ Riodinidae chiếm 3,13%, họ Amathusiidae chiếm 1,56%, họ Sphingidae chiếm 1,17%, các họ Erebidae và Noctuidae đều chiếm 0,78%, các họ Acraeidae và Uraniidae đều chiếm 0,39% tổng số loài. Các loài côn trùng cánh vẩy tập trung nhiều ở sinh cảnh rừng hỗn giao gỗ tre nứa chiếm 62,11% tổng số loài ghi nhận, sinh cảnh ven suối chiếm 48,44%, tiếp theo là sinh cảnh thảm tươi cây bụi chiếm 43,36%, sinh cảnh nương rẫy và khu vực dân cư chiếm 39,45%, sinh cảnh rừng tự nhiên thường xanh chiếm 34,77% và thấp nhất là sinh cảnh rừng trồng chiếm 33,2% tổng số loài. Có 265 loài gây hại cho các loài thực vật,  243 loài tham gia vào quá trình thụ phấn, 22 loài có giá trị du lịch, 8 loài có giá trị làm chỉ thị môi trường và 2 loài quí hiếm.

    DOI: https://doi.org/10.71254/58keec78
  • ỨNG DỤNG GIS TRONG XÂY DỰNG VÀ KHAI THÁC CƠ SỞ DỮ LIỆU GIÁ ĐẤT PHƯỜNG TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH

    Abstract : 0 PDF: 0
    Lê Thị Giang, Trần Quốc Vinh
    88-96

    Mục tiêu của nghiên cứu là khai thác sức mạnh công cụ hệ thống thông tin địa lý (GIS) nhằm chuẩn hóa, quản lý và phân tích không gian về giá đất một cách khoa học, trực quan và hiệu quả. Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp thu thập các nguồn dữ liệu như bản đồ địa chính, bảng giá đất, dữ liệu giao dịch thực tế. Ứng dụng GIS để tích hợp, chuẩn hóa và xây dựng cơ sở dữ liệu giá đất, các công cụ phân tích không gian của GIS được sử dụng để khai thác cơ sở dữ liệu giá đất phục vụ công tác quản lý tài chính về đất đai, đồng thời phương pháp WebGIS cũng được sử dụng để chia sẻ dữ liệu giá đất lên web. Nghiên cứu đã xây dựng được cơ sở dữ liệu giá đất tích hợp cho 31 tờ bản đồ địa chính, đồng thời ứng dụng khai thác cơ sở dữ liệu cho các mục tiêu truy vấn dữ liệu, tính toán các giá trị thuế và nghĩa vụ tài chính cho các thửa đất. Bên cạnh đó đã xây dựng được WebGIS để chia sẻ dữ liệu giá đất cho địa bàn nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu giúp cơ quan quản lý nhà nước nâng cao hiệu quả quản lý đất đai, minh bạch hóa thông tin giá đất, hỗ trợ ra quyết định trong việc quản lý giá đất.

    DOI: https://doi.org/10.71254/yb5c4d20
Xem Tất cả Các số