Khung điểm Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường
Ngày 11/7/2025, Hội đồng Giáo sư Nhà nước đã ban hành Quyết định số 26/QĐ-HĐGSNN phê duyệt Danh mục Tạp chí khoa học được tính điểm năm 2025, Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường là một trong những Tạp chí đạt điểm cao nhất trong danh mục các tạp chí khoa học được Hội đồng Giáo sư Nhà nước phê duyệt.
Tạp chí có 9 Hội đồng Giáo sư tính điểm, trong đó có: 4 Hội đồng Giáo sư ngành, liên ngành đạt điểm tối đa là 01 điểm, 3 Hội đồng Giáo sư ngành đạt 0,5 điểm; 02 Hội đồng Giáo sư ngành đạt 0,25 điểm.
Số hiện tại
Bài viết
-
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN GIỐNG NẾP THƠM: HATRI 11NẾP
Abstract : 0 PDF: 0Giống lúa HATRI 11NẾP được chọn lọc từ tổ hợp lai Nếp Thái Lan/OM7898. Giống HATRI 11NẾP có thời gian sinh trưởng thuộc nhóm A1 (90-95 ngày), chiều cao cây 105-110 cm và độ dài bông 24-27 cm. HATRI 11NẾP có số bông trên bụi trung bình (10-15 bông/bụi), số hạt chắc trên bông 110 hạt. Tuy nhiên trên một số vùng đất phì nhiêu thì số hạt chắc trên bông cũng đạt tới 120,5 hạt, khối lượng 1000 hạt đạt 25,3 gr. Tỷ lệ hạt lép trong vụ đông xuân khoảng 12,2%. HATRI 11NẾP có khả năng thụ phấn rất mạnh. HATRI 11NẾP có chỉ số thu hoạch (HI) tương đối cao, đạt 0,57. Để xác nhận sự hiện diện hoặc không có hương thơm trong HATRI 11NẾP đã đánh giá kiểu hình bằng cách sử dụng tách sắc ký khí để định lượng 2AP. Thêm vào đó cũng phân tích mùi thơm bằng KOH và phương pháp PCR với chỉ thị FMU1-2 và đã ghi nhận là giống có mùi thơm và gen Wx. HATRI 11NẾP có năng suất trong vụ đông xuân đạt 7,08 tấn/ha trên 5 điểm và vụ hè thu đạt 5,40 tấn/ha trên 5 điểm. Đây là giống có tính thích nghi rộng, năng suất ổn định trong sản xuất ở đồng bằng sông Cửu Long.
-
NGHIÊN CỨU TUYỂN CHỌN GIỐNG LÚA THÍCH HỢP CHO PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT TẠI TÂY NGUYÊN
Abstract : 0 PDF: 0Đánh giá, khảo nghiệm 6 giống lúa thuần mới tại Tây Nguyên. Thí nghiệm diện hẹp, bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên (RCD), 3 lần lặp lại. Kết quả đã xác định được 02 giống lúa triển vọng: giống ST24, thời gian sinh trưởng 130 ngày (vụ đông xuân), 112 ngày (vụ hè thu); năng suất trung bình 70,86 tạ/ha; chất lượng gạo khá và chất lượng cơm tốt; cứng cây, khả năng bị nhiễm sâu bệnh hại gồm: rầy nâu (điểm 0 - 1), bệnh đạo ôn (điểm 0 - 1), bệnh khô vằn (điểm 0 - 1). Giống ST25, thời gian sinh trưởng 136 ngày (vụ đông xuân), 114 ngày (vụ hè thu); năng suất trung bình 71,93 tạ/ha; chất lượng gạo khá và chất lượng cơm tốt; cứng cây, khả năng bị nhiễm sâu bệnh hại gồm: rầy nâu (điểm 0 - 1), bệnh đạo ôn (điểm 0 - 1), bệnh khô vằn (điểm 0- 1).
-
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ CẤY VÀ LIỀU LƯỢNG ĐẠM ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG LÚA VAAS16 TRONG VỤ XUÂN TẠI THANH HÓA
Abstract : 0 PDF: 0Nghiên cứu được thực hiện với mục đích xác định ảnh hưởng của mật độ cấy và liều lượng đạm đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống lúa VAAS16 trong vụ xuân 2017 và vụ xuân 2018 tại tỉnh Thanh Hóa. Thí nghiệm gồm hai yếu tố (mật độ và liều lượng đạm) được bố trí theo kiểu ô lớn, ô nhỏ; rong đó mật độ được bố trí vào ô lớn (3 mật độ), liều lượng đạm được bố trí tại ô nhỏ (5 liều lượng đạm), 3 lần nhắc lại. Kết quả nghiên cứu cho thấy: mật độ cấy và liều lượng đạm đã có tác động rõ rệt đến khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lúa VAAS16. Mật độ cấy 45 khóm/m2 và liều lượng đạm 90 kg N/ha trên nền phân bón (tính cho 1 ha): 8,0 tấn phân chuồng + 100 kg P2O5 + 80 kg K2O là thích hợp nhất cho giống lúa VAAS16 trong vụ xuân tại vùng đồng bằng, tỉnh Thanh Hóa. Với mức bón đạm và mật độ cấy này giống lúa VAAS16 đạt năng suất thực thu cao nhất 6,63 tấn/ha (tại Đông Sơn) và 6,47 tấn/ha (tại Hoằng Hóa).
-
ẢNH HƯỞNG CỦA LƯỢNG GIỐNG GIEO SẠ VÀ MỨC PHÂN ĐẠM BÓN ĐẾN SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT GIỐNG LÚA CHỐNG CHỊU NGẬP HL5 TẠI QUẢNG NGÃI
Abstract : 0 PDF: 0Nghiên cứu lượng hạt giống lúa HL5 chịu ngập gieo sạ và phân đạm trên đơn vị diện tích nhằm xác định mật độ thích hợp và lượng đạm tối ưu phục vụ sản xuất đại trà tại các vùng sinh thái trồng lúa đối với giống đã được cấp phép. Kết quả này đã đưa ra một số thông số kỹ thuật canh tác quan trọng là lượng hạt giống gieo và đạm bón khác nhau ảnh hưởng rõ rệt đến số nhánh/m2. Trong các yếu tố cấu thành năng suất cao thì lượng hạt giống và đạm bón ảnh hưởng mạnh đến số bông/m2, số hạt/bông. Do vậy, đối với giống lúa HL5 trong điều kiện vụ hè thu (HT) bón phân đạm với lượng P2 (110 kg N/ha), với lượng giống gieo sạ là M3 (90 kg/ha) và vụ đông xuân (ĐX) sử dụng đạm thích hợp ở mức P3 (120 kg N/ha), lượng giống gieo sạ thích hợp là M2 (80 kg/ha) vừa tiết kiệm lượng hạt giống và phân đạm vẫn đảm bảo năng suất cao, ít bị sâu bệnh. Từ kết quả nghiên cứu này, giống lúa HL5 chịu ngập đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận lưu hành chính thức cho các tỉnh Nam Trung bộ và các tỉnh phía Bắc theo Quyết định số 167/QĐ-TT-CLT ngày 26/7/2021.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN ĐẠM BÓN VÀ MẬT ĐỘ TRỒNG ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG CỦA GIỐNG NGÔ NẾP TÍM LAI VNUA141
Abstract : 0 PDF: 0Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm đánh giá ảnh hưởng của các mức phân đạm bón và mật độ trồng khác nhau đến năng suất, chất lượng của giống ngô nếp tím lai VNUA141. Thí nghiệm được bố trí ô lớn - ô nhỏ với ba lần nhắc lại trong vụ đông 2019 và vụ xuân 2020 tại Gia Lâm, Hà Nội. Kết quả cho thấy, ở cả hai vụ thí nghiệm, thời gian thu bắp tươi của giống VNUA141 ngắn hơn từ 2-3 ngày khi trồng với mật độ thưa (M1: 48.000; M2: 51.000 cây/ha) so với mật độ dày (M3: 57.000; M4: 62.000 cây/ha). Tăng mật độ trồng làm tăng đáng kể chỉ số diện tích lá (LAI) của giống VNUA141 trong vụ đông 2019 nhưng không có sự sai khác lớn trong vụ xuân 2020. Chỉ số thu hoạch (HI) tăng khi tăng lượng phân đạm bón từ P1 lên P3 sau đó giảm ở mức P4. Tăng lượng phân đạm bón làm giảm đáng kể hiệu suất sử dụng đạm (NUE). HI và NUE đạt cao nhất ở mật độ trồng M2 và sau đó giảm dần khi tăng lên mức M3 và M4. HI và NUE có tương quan thuận và chặt ở mức có ý nghĩa thống kê với năng suất bắp tươi (r2 = 0,80*** và r2 = 0,66*** tương ứng trong vụ đông 2019; r2 = 0,53* và r2 = 0,30* tương ứng trong vụ xuân 2020). Bón đạm với liều lượng cao (P4) làm giảm năng suất bắp tươi có thể do HI và NUE giảm. Hàm lượng anthocyanin trung bình của giống VNUA141 ở vụ đông 2019 cao hơn so với vụ xuân 2020, tuy nhiên không có sự sai khác có ý nghĩa thống kê giữa các công thức thí nghiệm. Kết quả phân tích độ ổn định và thích nghi bằng mô hình AMMI ở cả hai vụ thí nghiệm cho thấy tổ hợp phân bón đạm P3 (160N:90P2O5:90K2Okg/ha) và mật độ trồng M2 (70x28cm) là tối ưu nhất để canh tác giống ngô nếp tím lai VNUA141.
-
ĐÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÂY CÀ RỐT VÀ CÂY CẢI CỦ TRỒNG TRÊN ĐẤT CÁT BIỂN ĐƯỢC CẢI TẠO BẰNG CÁC VẬT LIỆU TỰ NHIÊN
Abstract : 0 PDF: 0Thí nghiệm tiến hành đánh giá ảnh hưởng của việc sử dụng các vật liệu tự nhiên, bao gồm: đất giàu sét, than sinh học và rơm đã oải đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng của cây củ cải trắng và cây cà rốt trên đất cát ven biển miền Trung. Thí nghiệm được thực hiện tại khu nhà lưới của Học viện Nông nghiệp Việt Nam từ tháng 8 đến tháng 12 năm 2019 với tổng cộng 6 công thức cải tạo đất khác nhau được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên áp dụng cho giống cải củ của Nhật và cà rốt. Thí nghiệm dùng kỹ thuật tưới nhỏ giọt tưới theo giới hạn 70-80% độ ẩm tối đa đồng ruộng và theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển của cây, sự thay đổi các tính chất lý hóa học của đất. Kết quả ban đầu cho thấy với tỷ lệ phối trộn 10% đất giàu sét và 0,5% than sinh học mang lại hiệu quả cao về mặt năng suất cho cây cải củ, trong khi tỷ lệ 10% đất giàu sét và 0,5% rơm oải mang hiệu quả cho cây cà rốt. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc cải tạo đất cát bằng đất giàu sét và rơm oải không mang lại hiệu quả đối với cây cải củ do các yêu cầu về độ ẩm. Hiệu quả mang lại về mặt năng suất được chứng minh qua kết quả cải thiện các tính chất lý hóa học đất như: giảm hệ số thấm, dung trọng và tỷ trọng, tăng pH, CEC, OM, nitơ tổng số, phốt pho tổng số của đất.
-
KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ GIỐNG CHUỐI TIÊU TRIỂN VỌNG TẠI KHOÁI CHÂU, HƯNG YÊN
Abstract : 0 PDF: 0Với mục đích chọn được bộ giống chuối tiêu năng suất cao (trên 45 tấn/ha), chất lượng quả tốt, phù hợp với điều kiện tỉnh Hưng Yên, đề tài tiến hành so sánh 8 giống đã sơ bộ sàng lọc ở các tỉnh phía Bắc, dưới dạng các thí nghiệm đồng ruộng, bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ, mỗi giống 30 cây/1 lần nhắc, thực hiện trong 2 vụ (2018 và 2019); vụ 1 trồng bằng cây giống nuôi cấy mô, vụ 2 để cây từ chồi của vụ 1. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các giống tiêu Hồng, tiêu Đài Loan, tiêu Williams, tiêu Phú Thọ, tiêu V6 và tiêu Quảng Nam có khả năng sinh trưởng khỏe, thời gian từ trồng đến thu hoạch xấp xỉ nhau, dao động trong khoảng 337,7 - 340,6 ngày, ngắn hơn các giống tiêu La Ba và Già Hương từ 35 - 40 ngày. Năng suất các giống chuối tiêu Hồng, tiêu Williams, tiêu V6 và tiêu Phú Thọ tương đương nhau (54,3 - 56,5 tấn/ha ở vụ 1; 56,0 - 57,8 tấn/ha ở vụ 2), cao hơn đáng kể so với các giống khác và thấp nhất là giống La Ba và Già Hương. Về chất lượng quả, các giống tiêu Hồng, tiêu Williams, tiêu V6, tiêu Phú Thọ và tiêu Quảng Nam không chênh lệch nhau đáng kể và vượt trội hơn các giống tiêu La Ba, Già Hương và tiêu Đài Loan.
-
SỬ DỤNG KỸ THUẬT LÔ KHUYẾT TRONG ĐÁNH GIÁ ĐÁP ỨNG NĂNG SUẤT CỦA CÂY VỪNG ĐEN (MÈ) (Sesamum indicum L.) TRỒNG TRÊN ĐẤT PHÙ SA KHÔNG ĐƯỢC BỒI
Abstract : 0 PDF: 0Mục tiêu của nghiên cứu là: (i) Xác định ảnh hưởng của phân NPK đến sinh trưởng, năng suất và hấp thu NPK của cây vừng đen; (ii) Đánh giá khả năng cung cấp dưỡng chất bản địa của đất. Thí nghiệm được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên bao gồm bốn nghiệm thức: (i) Bón đầy đủ N, P, K, (ii) Bón khuyết kali (iii) Bón khuyết lân, (iv) Bón khuyết đạm, với 4 lặp lại trên mỗi nghiệm thức. Kết quả nghiên cứu cho thấy đáp ứng năng suất của bón đạm, lân và kali được xác định là 53,3; 7,63 và 10,7 g m-2. Bón đạm giúp tăng năng suất hạt vừng thông qua tăng số trái trên cây. Ngoài ra, bón lân hoặc kali chỉ tăng chiều cao cây, nhưng chưa tăng năng suất vừng. Lượng hấp thu N, P, K ở nghiệm thức bón đầy đủ đạm, lân và kali lần lượt là 3,76; 1,54 và 4,20 g m-2. Tổng lượng N, P và K đất phù sa không được bồi có khả năng cung cấp là 1,54; 1,34 và 3,87 g m-2.
-
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI CỦA CÁC GIỐNG SEN (Nelumbo nucifera Gaertn.) LẤY HẠT Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Abstract : 0 PDF: 0Nghiên cứu về các giống sen (Nelumbo nucifera) lấy hạt ở đồng bằng sông Cửu Long nhằm đánh giá, sưu tập và phân loại các giống sen để có thể bảo tồn, khai thác và làm nguồn lai tạo nhằm phát triển bền vững nghề trồng sen. Kết quả điều tra và khảo sát 45 điểm của 10 tỉnh/thành ĐBSCL với 105 phiếu khảo sát đã thu được 45 mẫu gồm 30 mẫu sen trong đó có 10 mẫu sen sản xuất lấy hạt. Qua đánh giá ban đầu và thời gian trồng khảo nghiệm đã ghi nhận được những đặc điểm hình thái và khả năng cho hạt của 6 giống sen hồng và 4 giống sen trắng. Trong đó, giống sen hồng Đồng Tháp gương xanh và gương tím, sen hồng Thoại Sơn và sen trắng Trà Mẹt là những giống sen có số hạt chắc trên gương nhiều, kích thước hạt to có triển vọng tốt trong canh tác lấy hạt. Bên cạnh đó giống sen hoa trắng Trà Mẹt còn có đặc tính ít bị sâu bệnh hơn các giống sen khác.
-
NGHIÊN CỨU TUYỂN CHỌN GIỐNG AN XOA (Helicteres hirsuta Lour) TẠI THANH TRÌ, HÀ NỘI
Abstract : 0 PDF: 0An xoa (Helicteres hirsuta Lour) thuộc họ Trôm (Sterculiaceae) là loài cây thuốc quý có nhiều tác dụng chữa bệnh trong y học. Nghiên cứu thực hiện từ tháng 1/2020 – 7/2021, tổng cộng 6 mẫu giống được thu thập tại các tỉnh Quảng Ninh, Tuyên Quang, Bình Phước, Phú Thọ, Vĩnh Phúc đã được sử dụng làm vật liệu ban đầu cho chọn lọc và đánh giá. Kết quả nghiên cứu đã tuyển chọn được mẫu giống tốt nhất thu thập tại Tuyên Quang có năng suất thực thu (2,246 tấn/ha), tỷ lệ flavonoid tổng số tính theo dược liệu khô kiệt đạt 0,95%, năng suất flavonoid tổng số đạt 2,13 kg/ha. Bên cạnh đó, đã so sánh các công thức trồng mới cây giống từ gốc và trồng mới từ hạt cho thấy công thức trồng mới từ gốc cho năng suất cao hơn (2,386 tấn/ha) so với công thức được trồng mới từ hạt (2,286 tấn/ha).
-
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA GIÁ THỂ DINH DƯỠNG ĐẾN SINH TRƯỞNG CỦA CÂY TRỒNG VƯỜN ĐỨNG
Abstract : 0 PDF: 0Mục tiêu nghiên cứu là tận dụng các nguồn vật liệu hữu cơ thải loại từ nông nghiệp và dịch vụ cảnh quan đô thị để làm giá thể dinh dưỡng ứng dụng cho mô hình vườn đứng trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu sản xuất phân trộn (phân compốt) được tạo ra từ thân chuối thải loại sau thu hoạch và biochar được tạo ra từ cành nhánh cây đô thị rong tỉa sau bảo dưỡng. Đã nghiên cứu sản xuất giá thể dinh dưỡng từ 2 nguyên liệu trên, cùng với đất tầng AB và xơ dừa. Kết quả nghiên cứu cho thấy: (i) loại giá thể được xác định phù hợp để gieo ươm cây và trồng vườn đứng cho 4 loài cây: trầu bà, trúc nhật mini, phất dụ lá hẹp và phú quí (Epipremnum aureum, Dracaena surculosa, Pseuderanthemum reticulatum, Dracaena angustifolia) có các thành phần sau: đất tầng AB 30% + xơ dừa 20% + biochar 25% + phân compốt 25%. Tỷ lệ sống của cây gieo ươm ở giá thể trên khá cao, từ 73,5% đến 98,5%. Cây sinh trưởng đồng đều, khỏe mạnh, đạt chỉ tiêu sinh trưởng về chiều cao và số lá tốt nhất; (ii) đã thiết kế được 02 mô hình vườn đứng ốp tường có gắn các thiết bị tưới tự động với kích thước dài x cao x rộng là 1000 x 1000 x 30 mm. Sau 4 tuần cấy ghép, tất cả các loài cây nghiên cứu đã thể hiện khả năng thích nghi tốt với môi trường sống mới. Kết quả này mở ra xu hướng tiếp cận mới gần gũi hơn đối với các hộ gia đình nơi đô thị khi mà không gian để trồng cây bị hạn chế.
-
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NƯỚC VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ VẬN HÀNH TRONG CẤP NƯỚC SẠCH NÔNG THÔN VÙNG TÂY NGUYÊN BỊ ẢNH HƯỞNG CỦA HẠN HÁN THIẾU NƯỚC
Abstract : 0 PDF: 0Trong thời gian vừa qua tỷ lệ cấp nước sạch nông thôn vùng Tây Nguyên tăng nhanh đã góp phần chuyển biến rõ nét hạ tầng kỹ thuật khu vực, giúp người dân tiếp cận được nguồn nước sinh hoạt đạt quy chuẩn tăng đáng kể. Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều người dân nơi đây vẫn chưa thể tiếp cận được sử dụng nguồn nước sạch, nhất là trong bối cảnh ảnh hưởng của hạn hán do biến đổi khí hậu (BĐKH), dịch bệnh. Công tác quản lý vận hành sau đầu tư công trình cấp nước tập trung nông thôn chưa được quan tâm, phần lớn công trình do chính quyền xã hoặc cộng đồng quản lý. Công tác tổ chức quản lý vận hành chưa chuyên nghiệp, nguồn vốn đầu tư, sửa chữa, duy tu bảo dưỡng trong quá trình vận hành khó khăn nên dẫn đến công trình hoạt động chưa hiệu quả, nguồn nước cấp không được đảm bảo chất lượng và số lượng gây ảnh hưởng đến đời sống người dân, đặc biệt trong mùa khô. Đã đánh giá hiện trạng, mô hình quản lý vận hành sau đầu tư công trình cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn vùng Tây Nguyên trong bối cảnh hạn hán. Từ đó, đề xuất được mô hình xã hội hóa quản lý công trình cấp nước tập trung nông thôn dựa vào cộng đồng phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động các công trình cấp nước nông thôn, phát huy vai trò của cộng đồng trong công tác cấp nước sinh hoạt nông thôn.
-
NGHIÊN CỨU NHÂN GIỐNG CÂY TRÀ HOA VÀNG (Camellia euphlebia) BẰNG PHƯƠNG PHÁP GIÂM HOM
Abstract : 0 PDF: 0Trà hoa vàng là loại dược liệu quý trong việc sử dụng để chăm sóc sức khỏe của con người. Nhân giống bằng phương pháp giâm hom nhằm cung cấp những cây giống có chất lượng đồng đều và khả năng sản xuất lớn. Thí nghiệm được tiến hành với 2 chất điều hòa sinh trưởng IBA và NAA ở các nồng độ 1%, 1,5% và 2% để đánh giá tỷ lệ sống của hom, khả năng ra chồi, ra rễ và kích thước rễ của hom. Kết quả cho thấy tỷ lệ sống của hom ở các công thức thí nghiệm đạt trên 70%, khả năng ra chồi đạt từ 78,9% và 82,2% ở các nồng độ IBA 1,5% và 2%; tỷ lệ ra rễ của hom đạt trên 70% ở tất cả các công thức thí nghiệm. Kết quả thí nghiệm cũng cho thấy giữa hom ngọn và hom dưới ngọn không cho thấy có sự khác biệt về tỷ lệ sống, tỷ lệ ra chồi và khả năng ra rễ do đó có thể sử dụng cả 2 loại hom để sản xuất cây giống phục vụ bảo tồn và phát triển loài cây dược liệu quý này.
-
NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG PHÂN BỐ VÀ ĐẶC ĐIỂM TÁI SINH CỦA LOÀI TRÀ HOA VÀNG HAKODA (Camellia hakodae Ninh, Tr.) TẠI THÁI NGUYÊN
Abstract : 0 PDF: 0Kết quả nghiên cứu cho thấy loài Trà hoa vàng Hakoda (Camellia hakodae Ninh, Tr.) được phân bố tự nhiên tại các xã La Bằng, Mỹ Yên và Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Sự xuất hiện của Trà hoa vàng Hakoda liên quan chặt chẽ đến điều kiện tiểu hoàn cảnh rừng như độ cao, nhiệt độ, độ dốc, ẩm độ, độ tàn che. Loài này thích hợp với nhiệt độ trung bình khoảng 220ºC, lượng mưa trung bình khoảng 1.971 mm/năm. Loài có đặc trưng phân bố thành quần thể ở độ cao từ 250-750 m so với mặt biển. Trà hoa vàng Hakoda là cây chịu bóng, phân bố ở tầng dưới tán rừng IIA và IIIA1, có độ tàn che cao 0,55 - 0,72. Cây tái sinh tự nhiên tập trung ở cấp chiều cao từ 20-60cm, và chủ yếu tái sinh từ chồi chiếm 89,52%.
-
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ CỦA MÔ HÌNH KHOÁN QUẢN LÝ BẢO VỆ RỪNG CHO CỘNG ĐỒNG VÀ LỰC LƯỢNG CHUYÊN TRÁCH BẢO VỆ RỪNG TẠI HUYỆN ĐÔNG GIANG, TỈNH QUẢNG NAM
Abstract : 0 PDF: 0Từ đầu năm 2020 trên địa bàn huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam đã triển khai hai mô hình quản lý bảo vệ rừng, đó là khoán quản lý bảo vệ rừng cho cộng đồng và lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đề xuất các giải pháp hỗ trợ phù hợp đối với mỗi mô hình để góp phần tăng hiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng ở địa bàn nghiên cứu. Thông qua thảo luận nhóm và phỏng vấn chuyên sâu, nghiên cứu này đã chỉ ra rằng: Cộng đồng nhận thức được vai trò và giá trị của rừng, phát huy truyền thống tốt đẹp của cộng đồng trong quản lý bảo vệ rừng, nhưng vẫn còn ngại va chạm và cả nể trong phát hiện và báo cáo các vụ vi phạm pháp luật lâm nghiệp; trong khi đó lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng thể hiện tính chuyên nghiệp, tập trung nhiệm vụ chính là tuần tra bảo vệ rừng và không ngại va chạm, nhưng vẫn chưa thật sự sâu sát với cộng đồng trong công tác quản lý bảo vệ rừng. Vì vậy, chính quyền địa phương và các chủ rừng nhà nước cần phải xác định những điều kiện cụ thể phù hợp cho mỗi mô hình để tiếp tục duy trì hai mô hình này nhằm tăng cường hiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng trong thời gian tới.
-
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG TIẾP CẬN TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI TRONG CUNG ỨNG VẬT TƯ NÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI HỘ CHĂN NUÔI HEO TẠI HUYỆN MỎ CÀY NAM, TỈNH BẾN TRE
Abstract : 0 PDF: 0Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng thương mại trong việc cung ứng vật tư nông nghiệp đối với các hộ chăn nuôi heo ở huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre. Trên cơ sở số liệu khảo sát 200 hộ chăn nuôi heo trong năm 2019 bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng, kết quả phân tích mô hình binary logistic cho thấy khả năng tiếp cận tín dụng thương mại của nông hộ chăn nuôi heo ở Mỏ Cày Nam bị tác động bởi: thời gian sống ở địa phương, thu nhập bình quân, giá trị quyền sử dụng đất của chủ hộ, số tiền vay chính thức, quy mô chăn nuôi, thời gian hộ quen biết với người bán và khoảng cách từ nhà nông hộ đến người bán. Từ kết quả nghiên cứu đã đưa ra một số giải pháp nhằm tăng khả năng tiếp cận tín dụng thương mại cho những nông hộ có nhu cầu.
-
ĐÁNH GIÁ BỆNH VIÊM RUỘT DO PARVOVIRUS GÂY RA TRÊN CHÓ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ THỬ NGHIỆM PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ
Abstract : 0 PDF: 0Bệnh do Parvovirus gây ra là một trong những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm đối với chó nuôi tại TP. Hồ Chí Minh. Việc khảo sát 532 cá thể chó nghi nhiễm bệnh do Parvovirus được thực hiện từ tháng 1/2021 đến tháng 7/2021 tại một số phòng khám thú y ở TP. Hồ Chí Minh bằng phương pháp khám lâm sàng, xét nghiệm nhanh và mổ khám. Kết quả cho thấy 21,05% số chó nuôi bị bệnh do Parvovirus. Tỷ lệ nhiễm ở giống chó nội và chó ngoại không khác biệt nhưng trong cùng giống chó ngoại thì chó Bergie (10%) nhiễm thấp nhất và chó Chihuahua nhiễm cao nhất (25,2%). Chó cái bị bệnh nhiều hơn chó đực (26,98% và 13,99%), chó 6 tuần tuổi – 3 tháng tuổi nhiễm nhiều hơn (34,19%) nhỏ hơn 6 tuần (18,97%), từ 3 tháng đến 6 tháng (21,69%) và trên 6 tháng (8,77%). Triệu chứng nôn mửa và ỉa chảy phân có máu thường xuất hiện ở chó bị bệnh do Parvovirus (91,07% và 91,96%). Bệnh tích đại thể rõ nhất là ở ruột gồm xung huyết, niêm mạc xuất huyết, chất chứa trong lòng ruột có mùi tanh máu và tim tụ huyết, xuất huyết, giãn cơ tim. Bệnh tích vi thể rõ nhất ở ruột với thành ruột có những điểm xuất huyết, nhung mao ruột bị đứt gãy, teo lại và hoại tử dẫn tới xơ hóa. Kết quả điều trị cho thấy có 39,29% chó mắc bệnh do Parvovirus khỏi bệnh.
-
KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG SINH TRƯỞNG CỦA CỎ GHINE (PANICUM MAXIMUM) VÀ SETARIA (SETARIA SPHACELATA) Ở CÁC NỒNG ĐỘ TƯỚI MẶN KHÁC NHAU TRONG ĐIỀU KIỆN NHÀ LƯỚI
Abstract : 0 PDF: 0Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá khả năng đáp ứng sinh trưởng của hai loài cỏ Ghine (Panicum maximum) và Setaria (Setaria sphacelata) ở các nồng độ tưới mặn 0, 5, 10 và 15 g NaCl/L theo thời gian. Nghiên cứu được bố trí trong điều kiện nhà lưới theo thể thức thừa số nhân tố hoàn toàn ngẫu nhiên với ba lần lặp lại cho mỗi nghiệm thức. Nồng độ mặn 10 và 15 g NaCl/L đã gây suy giảm sinh trưởng và phát triển của hai loài cỏ nghiên cứu. Chiều cao cây, chiều dài lá, chiều rộng phiến lá giảm khi tăng nồng độ tưới mặn. Đặc biệt, hàm lượng diệp lục trong lá cỏ Ghine ở các nghiệm thức mặn 5-15 g NaCl/L cao hơn nghiệm thức đối chứng, trong khi ở cỏ Setaria chỉ có nghiệm thức 5 g NaCl/L cao hơn đối chứng. Kết quả ghi nhận, nồng độ mặn 10 và 15 g NaCl/L đã làm giảm 40-50% sinh khối tươi phần thân lá của hai loài cỏ so với cây đối chứng (0 g NaCl/L). Chỉ số chống chịu mặn (STI) trung bình của cỏ Setaria (86,4%) cao hơn cỏ Ghine (74,6%), minh chứng cỏ Setaria chịu mặn tốt hơn và có tiềm năng để chọn trồng trên những vùng đất xâm nhập mặn phục vụ cho sản xuất cỏ làm thức ăn gia súc ở các tỉnh ven biển đồng bằng sông Cửu Long.
-
PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG CANH TÁC KHÓM (Ananas comosus L.) TẠI THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG
Abstract : 0 PDF: 0Mục tiêu của nghiên cứu là: (i) xác định hiện trạng canh tác khóm trồng tại thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang, (ii) Phân tích điểm mạnh, điểm yếu để đề xuất giải pháp canh tác khóm phù hợp. Tổng số 40 nông hộ trên hai xã được phỏng vấn về kỹ thuật canh tác, tình hình sử dụng phân bón và sâu bệnh hại. Kết quả cho thấy các nông hộ bón phân hóa học N, P, K chưa cân đối cho cây khóm. Lượng N, P và K trung bình cho cây khóm của các nông hộ được khảo sát là 28,76 - 16,33 - 3,61 (g/cây/năm). Phân hữu cơ, hữu cơ vi sinh và các chế phẩm sinh học chưa được sử dụng phổ biến trên cây khóm. Rệp sáp được xem là trở ngại trong canh tác khóm tại Vị Thanh. Bệnh thối nõn, thân và trái là các bệnh phổ biến được ghi nhận. Diện tích mỗi vườn lớn thuận lợi cho sản xuất tập trung và phát triển sản phẩm đặc thù của vùng. Bên cạnh đó, kỹ thuật lên liếp và kỹ thuật trồng hợp lý giúp kéo dài chu kỳ sản xuất của cây khóm.
-
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN QUY HOẠCH, KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT HUYỆN KIM ĐỘNG, TỈNH HƯNG YÊN
Abstract : 0 PDF: 0Nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (QH, KHSDĐ) huyện Kim Động giai đoạn 2014-2019. Các phương pháp nghiên cứu sử dụng là: điều tra số liệu thứ cấp, điều tra sơ cấp, đánh giá theo thang đo 5 cấp của Likert, đánh giá theo độ lệch giữa kế hoạch và thực hiện. Kết quả cho thấy việc thực hiện QH, KHSDĐ giai đoạn 2014 – 2019 tại huyện Kim Động chia thành 3 giai đoạn: (1) từ năm 2014 – 2015 thực hiện theo Quyết định số 2255/QĐ-UBND. (2) từ năm 2016 -2018, thực hiện theo Quyết định số 2255/QĐ-UBND và KHSDĐ hàng năm. (3) Năm 2019 thực hiện theo Quyết định số 3008/QĐ-UBND. Trong tổng số 174 chỉ tiêu sử dụng đất (SDĐ) có tới 107 chỉ tiêu (chiếm tới 61,49%) đạt mức thực hiện rất tốt (20 chỉ tiêu đất nông nghiệp, 84 chỉ tiêu đất phi nông nghiệp và 3 chỉ tiêu đất chưa sử dụng). Có tới 40 chỉ tiêu SDĐ (chiếm 22,99%) thực hiện ở mức rất kém (trong đó có tới 35 chỉ tiêu đất phi nông nghiệp). Tỷ lệ thực hiện các công trình, dự án rất thấp (chỉ đạt 28,15%). Số lượng công trình bị hủy bỏ là 30/302, chiếm 9,93%. Kết quả điều tra 30 cán bộ cho thấy trong 14 tiêu chí có 2 tiêu chí được đánh giá ở mức độ rất tốt; 2 tiêu chí được đánh giá ở mức độ trung bình; 1 tiêu chí được đánh giá ở mức độ kém; còn 9 tiêu chí được đánh giá ở mức tốt. Để nâng cao hiệu quả thực hiện QH, KHSDĐ cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau: nâng cao chất lượng phương án QH, KHSDĐ; giải pháp về đầu tư; khai thác và sử dụng hiệu quả quỹ đất; tăng cường quản lý việc thực hiện QH, KHSDĐ.
-
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN NÔNG LÂM NGHIỆP CHO VÙNG CÁT VEN BIỂN CÁC TỈNH HÀ TĨNH, QUẢNG BÌNH, QUẢNG TRỊ TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Abstract : 0 PDF: 0Bài báo là kết quả điều tra, khảo sát, đánh giá thực trạng về điều kiện canh tác, các mô hình phát triển nông lâm nghiệp, các yếu tố khí hậu, điều kiện đất đai và lượng nước có thể cung cấp của vùng đất cát ven biển các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị. Phương án quy hoạch định hướng sử dụng đất nông lâm nghiệp được đề xuất dựa trên trên cơ sở đánh giá thích nghi đất đai, khí hậu, định hướng phát triển kinh tế - xã hội của 3 tỉnh, kết quả tính toán cân bằng nước, tiềm năng khai thác nước ngầm của khu vực trong điều kiện có xét đến tác động của BĐKH. Kết quả nghiên cứu đã đề xuất được các mô hình canh tác hiệu quả trên đất cát. Kết quả cũng cho thấy, dưới ảnh hưởng của BĐKH, diện tích gieo trồng bị giảm đáng kể. Diện tích giảm các vùng là 160 ha đối với Hà Tĩnh, 140 ha đối với Quảng Bình và 100 ha đối với Quảng Trị.
-
THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ RỪNG VÀ ĐẤT LÂM NGHIỆP TẠI HUYỆN MƯỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
Abstract : 0 PDF: 0Diện tích rừng và đất lâm nghiệp ở huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên là 125.797,30 ha chiếm 80,17% tổng diện tích tự nhiên của toàn huyện. Diện tích có rừng chiếm 65,5% (82.368,83 ha), trong đó rừng tự nhiên là 80.866,42 ha, chiếm 64,3%, rừng trồng là 1,2% (1.502,41 ha). Toàn bộ diện tích rừng và đất lâm nghiệp do Ban quản lý Khu Bảo tồn Thiên nhiên (BTTN) Mường Nhé, UBND 11 xã thuộc huyện và các cộng đồng và hộ gia đình quản lý. Biện pháp quản lý chủ yếu là tuyên truyền vận động người dân, phối hợp với các ban ngành của huyện, các chủ rừng tiến hành kiểm tra, truy quét và ngăn chặn các vụ vi phạm, xâm lấn, chặt phá rừng, khai thác gỗ rừng tự nhiên trái phép…Công tác quản lý rừng và đất lâm nghiệp luôn được UBND huyện coi là nhiệm vụ quan trọng và thực hiện đầy đủ các nội dung quy định theo Quyết định số 07/2012/QĐ - TTg ngày 08/02/2012 của Thủ tướng Chính phủ. Tuy vậy, trong công tác quản lý rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện vẫn còn 1 số tồn tại cần khắc phục, đặc biệt là công tác quy hoạch, xác định ranh giới diện tích đất ngoài thực tế thông qua hệ thống cọc mốc tọa độ địa lý, giải quyết tranh chấp đất đai, giao đất giao rừng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; đội ngũ chuyên môn về lâm nghiệp còn thiếu và yếu.








