Khung điểm Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường
Ngày 11/7/2025, Hội đồng Giáo sư Nhà nước đã ban hành Quyết định số 26/QĐ-HĐGSNN phê duyệt Danh mục Tạp chí khoa học được tính điểm năm 2025, Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường là một trong những Tạp chí đạt điểm cao nhất trong danh mục các tạp chí khoa học được Hội đồng Giáo sư Nhà nước phê duyệt.
Tạp chí có 9 Hội đồng Giáo sư tính điểm, trong đó có: 4 Hội đồng Giáo sư ngành, liên ngành đạt điểm tối đa là 01 điểm, 3 Hội đồng Giáo sư ngành đạt 0,5 điểm; 02 Hội đồng Giáo sư ngành đạt 0,25 điểm.
Số hiện tại
Bài viết
-
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU HOÀN THIỆN QUY TRÌNH KỸ THUẬT CANH TÁC GIỐNG BÍ ĐỎ MẬT SAO 2 TẠI XÃ YÊN KHÁNH, TỈNH NINH BÌNH
Abstract : 0 PDF: 0Nghiên cứu nhằm hoàn thiện quy trình kỹ thuật canh tác giống bí đỏ Mật Sao 2 tại xã Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình được thực hiện trong vụ thu đông năm 2025 và xuân hè năm 2026. Kết quả nghiên cứu cho thấy, giống bí đỏ Mật Sao 2 trồng ở mật độ 12.120 cây/ha và lượng phân đạm 140 kg N/ha trên nền phân 5 tấn phân hữu cơ vi sinh + 100 kg P2O5 + 120 Kg K2O, cây sinh trưởng, phát triển tốt, thời gian sinh trưởng là 112 ngày trong vụ xuân hè và 100 ngày trong vụ thu đông, năng suất thực thu cao nhất, đạt 37,03 tấn/ha trong vụ xuân hè và 32,18 tấn/ha trong vụ thu đông. Việc áp dụng kỹ thuật bấm ngọn ở lá thứ 5 và chỉ để 2 nhánh cấp 1 ở đốt lá thứ 4 và lá thứ 5 có độ che phủ đạt 100% sau trồng 60 - 70 ngày, mức độ biểu hiện triệu chứng bệnh sương mai, phấn trắng trên đồng ruộng thấp, ở điểm 1 - 2, năng suất thực thu, đạt 37,13 tấn/ha (vụ xuân hè) và 33,28 tấn/ha (vụ thu đông). Kỹ thuật định quả ở công thức 2 quả/cây có năng suất cao nhất, đạt 37,13 - 37,79 tấn/ha vụ xuân hè và 33,28 - 33,96 tấn/ha vụ thu đông. Biện pháp sử dụng loại thuốc trừ bệnh BellKute 40 WP hoặc Anvil 5SC để phòng, trừ bệnh phấn trắng cho giống bí đỏ Mật Sao 2 cho hiệu quả tốt nhất về điểm 1 sau 15 ngày phun.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT ĐIỀU HÒA SINH TRƯỞNG VÀ GIÁ THỂ ĐẾN NHÂN GIỐNG VÔ TÍNH CÂY THỔ PHỤC LINH (Smilax glabra Wall. ex Roxb.) BẰNG HOM CỦ
Abstract : 0 PDF: 0Thổ phục linh (Smilax glabra Wall. ex Roxb.) là loài cây dược liệu có giá trị cao, hiện đang bị suy giảm mạnh trong tự nhiên do khai thác quá mức. Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định tổ hợp chất điều hòa sinh trưởng (NAA, IBA) và giá thể giâm hom phù hợp cho nhân giống vô tính cây Thổ phục linh bằng hom củ, thông qua các thí nghiệm bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên với ba lần lặp lại. Kết quả cho thấy, xử lý hom củ bằng NAA 500 ppm trong 30 giây kết hợp giá thể phối trộn Đất + Trấu hun + Phân hữu cơ vi sinh Nông lâm - HDT01 (3: 2: 1) cho hiệu quả cao nhất, với tỷ lệ ra rễ đạt 91,11%, tỷ lệ bật chồi 93,33%, tỷ lệ cây xuất vườn 86,67% và rút ngắn thời gian tạo cây giống xuống còn khoảng 60 ngày. Kết quả nghiên cứu góp phần hoàn thiện cơ sở khoa học cho quy trình nhân giống cây Thổ phục linh, có tiềm năng ứng dụng trong sản xuất giống quy mô lớn phục vụ bảo tồn và phát triển bền vững nguồn dược liệu quý này.
-
ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ TUẦN HOÀN CHO MỘT SỐ CÂY ĂN TRÁI CHỦ LỰC TẠI TỈNH ĐỒNG THÁP
Abstract : 0 PDF: 0Nghiên cứu đánh giá tiềm năng và đề xuất các mô hình tận dụng phụ phẩm từ sầu riêng, quýt và nhãn theo hướng kinh tế tuần hoàn được thực hiện tại các xã Lai Vung, Hòa Long, Phong Hòa, Tân Dương, Tân Phú Trung, Phú Hựu và Tân Nhuận Đông. Thông qua việc thu thập số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại tỉnh Đồng Tháp và các mô hình sản phẩm tuần hoàn từ các nghiên cứu đã được công bố. Khảo sát nông hộ (90 mẫu) và phân tích thống kê cho thấy lượng phụ phẩm (vỏ, hạt, cành, lá, trái loại) dồi dào (chiếm 20% so với sản lượng), trong đó sầu riêng có tỷ lệ phụ phẩm bị thải bỏ cao (khoảng 80%). Ngược lại, đối với quýt và nhãn, phụ phẩm được tận dụng hiệu quả hơn, chủ yếu ở mức dưới 20% và từ 20-50% sản lượng. Mặc dù nhận thức của nông hộ về kinh tế tuần hoàn còn hạn chế, mức độ sẵn sàng áp dụng tương đối cao khi có sự hỗ trợ phù hợp từ Nhà nước và địa phương như hỗ trợ vốn, kỹ thuật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các mô hình như sản xuất phân hữu cơ, chế phẩm sinh học và các sản phẩm giá trị gia tăng, đồng thời kết hợp phân tích SWOT, xác định các điểm mạnh (strengths), điểm yếu (weaknesses), cơ hội (opportunities) và thách thức (threats) trong việc tận dụng phụ phẩm cây ăn trái theo hướng kinh tế tuần hoàn; làm cơ sở đề xuất các mô hình và giải pháp phù hợp với điều kiện sản xuất, tiêu thụ và tái sử dụng phụ phẩm trong chuỗi giá trị. Kết quả nghiên cứu góp phần gia tăng thu nhập cho nông hộ từ các sản phẩm tuần hoàn, đồng thời giảm thiểu chất thải, cải thiện chất lượng đất và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng bền vững.
-
NGHIÊN CỨU THU NHẬN VÀ TINH SẠCH DẦU HẠT GẤC (Momordica cochinchinensis Spreng.) BẰNG PHƯƠNG PHÁP ÉP TRỤC VÍT
Abstract : 0 PDF: 0Hạt gấc (Momordica cochinchinensis Spreng.) chứa hàm lượng lipid cao, chứa 49,60 ± 0,49 g lipid/100 g nhân hạt. Trong nghiên cứu này, tập trung khảo sát các điều kiện ảnh hưởng của chế độ ép trục vít đến hiệu suất thu hồi và chất lượng dầu hạt gấc. Đồng thời khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến công đoạn khử keo và khử màu trong quy trình tinh sạch dầu. Kết quả cho thấy, điều kiện ép dầu thích hợp tại 150oC với tốc độ trục vít là 12,5 rpm, tương ứng với hiệu suất thu hồi dầu đạt 89,43 ± 0,95%, AV = 0,29 ± 0,02 mg/g, PV = 5,26 ± 0,13 mEq/kg. Ở công đoạn khử gum, hiệu suất khử gum và hiệu suất khử phospho đạt 94,70 ± 0,25% và 96,53 ± 0,19% tại tỷ lệ axit citric 0,3% ở 70oC trong 15 phút. Tiếp theo, khi khử màu dầu hạt bằng than hoạt tính với tỷ lệ 2% trong 20 phút ở 100oC, dầu thu được có độ sáng L* = 28,57 ± 0,38, a* = -2,56 ± 0,29, b* = 5,35 ± 0,18, chỉ số PV = 8,11 ± 0,17 mEq/kg, BI = 13,18 ± 0,73, ∆E = 1,92 ± 0,10. Nghiên cứu đã xây dựng quy trình thu nhận và tinh sạch dầu nhân hạt gấc bằng phương pháp ép trục vít kết hợp khử keo và khử màu, làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo về đặc tính sinh học, độ ổn định oxy hóa và tiềm năng ứng dụng của sản phẩm trong lĩnh vực thực phẩm và dược phẩm.
-
ẢNH HƯỞNG GIỐNG VÀ TỶ LỆ GẠO LỨT ĐẾN TÍNH CHẤT HÓA LÝ, TÍNH KHÁNG OXI HÓA VÀ CẢM QUAN CỦA SNACK ÉP ĐÙN
Abstract : 0 PDF: 0Gạo lứt là nguyên liệu giàu giá trị dinh dưỡng nhờ chứa nhiều hợp chất sinh học có hoạt tính kháng oxy hóa cao, đặc biệt là anthocyanin và polyphenol trong các giống gạo màu. Việc phát triển các sản phẩm snack từ gạo lứt thông qua công nghệ ép đùn là một hướng đi tiềm năng nhằm tạo ra thực phẩm tiện lợi có giá trị dinh dưỡng và cảm quan cao. Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá ảnh hưởng của giống gạo lứt (gạo tím Sóc Trăng, gạo đen và gạo nếp tím than) và tỷ lệ phối trộn với gạo trắng ST25 (20/80, 30/70 và 40/60, khối lượng/khối lượng) đến các đặc tính chất lượng của snack ép đùn. Các chỉ tiêu được khảo sát bao gồm độ ẩm, độ cứng, độ nở, khối lượng riêng, màu sắc (L*, a*, b* và góc màu Ho), hoạt tính kháng oxy hóa (DPPH) và giá trị cảm quan. Kết quả cho thấy, khi giống gạo có ảnh hưởng rõ rệt đến hàm lượng ẩm, giá trị màu b*, khối lượng riêng và khả năng kháng oxy hóa, trong khi tỷ lệ phối trộn chi phối chủ yếu đến L*, a*, độ cứng và độ nở của snack ép đùn. Việc tăng tỷ lệ gạo lứt trong công thức, các mẫu snack có xu hướng tăng độ ẩm trước sấy, hoạt tính kháng oxy hóa DPPH và độ nở, trong khi độ ẩm sau sấy, khối lượng riêng, độ cứng và giá trị L* có xu hướng giảm. Trong số các giống được khảo sát, gạo nếp tím than cho hoạt tính kháng oxy hóa cao nhất. Nhìn chung, sự kết hợp giữa gạo ST25 và các giống gạo lứt giàu hợp chất sinh học đã góp phần tạo ra sản phẩm snack giòn xốp, màu sắc tự nhiên và giá trị sức khỏe vượt trội với khả năng chống oxy hóa cao (DPPH đạt 2,32 mg TE/g CK) với độ nở 1,68 lần và độ cứng 30,11 N, cho thấy tiềm năng ứng dụng trong phát triển các sản phẩm snack dinh dưỡng từ gạo tại Việt Nam.
-
ĐÁNH GIÁ SỰ BIẾN ĐỔI CHẤT LƯỢNG TRONG QUÁ TRÌNH BẢO QUẢN LẠNH CỦA SỮA HẠT ĐIỀU - GẠO LỨT ĐỎ BỔ SUNG NƯỚC ÉP DỨA
Abstract : 0 PDF: 0Nghiên cứu này nhằm đánh giá sự biến đổi chất lượng của sản phẩm sữa hạt điều - gạo lứt bổ sung nước ép dứa trong điều kiện bảo quản lạnh (4 - 6°C) trong 15 ngày. Các chỉ tiêu được khảo sát bao gồm: Thành phần dinh dưỡng, hợp chất có hoạt tính sinh học, oxy hóa lipid, độ ổn định hệ phân tán, vi sinh và cảm quan. Kết quả cho thấy, hàm lượng đường, protein và lipid giảm nhẹ (4 - 6%), trong khi các hợp chất chống oxy hóa suy giảm rõ rệt, đặc biệt anthocyanin (17%) và carotenoid (13%). Đồng thời, các chỉ số oxy hóa lipid (AV, PV, TBARS) tăng mạnh (70 - 80%), phản ánh quá trình oxy hóa diễn ra liên tục. Độ ổn định hệ phân tán suy giảm với độ nhớt giảm 11%, độ bền nhũ giảm 6 - 7% và tách lớp tăng đáng kể. Các biến đổi này có mối liên hệ chặt chẽ với sự suy giảm cảm quan, trong đó kết cấu và vị giảm mạnh nhất (20 - 24%). Về vi sinh, sản phẩm duy trì an toàn trong 10 ngày đầu, nhưng xuất hiện nấm men - nấm mốc ở mức thấp vào ngày 15. Kết quả cho thấy, sự suy giảm chất lượng chịu chi phối bởi oxy hóa lipid, phân hủy hợp chất chống oxy hóa và mất ổn định hệ keo - nhũ tương. Thời hạn sử dụng đề xuất của sản phẩm là 10 ngày trong điều kiện bảo quản lạnh.
-
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MÀNG BAO SINH HỌC SODIUM ALGINATE - XANTHAN GUM ĐẾN SỰ THAY ĐỔI MỘT SỐ CHỈ TIÊU CHẤT LƯỢNG QUẢ CHUỐI XIÊM (Musa paradisiaca var. Awak) SAU THU HOẠCH
Abstract : 0 PDF: 0Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của màng bao ăn được kết hợp xanthan gum (XG) và sodium alginate (SA) đến chất lượng quả chuối xiêm (Musa paradisiaca var. Awak) sau thu hoạch. Quả được nhúng trong dung dịch màng bao trong 15 giây và bảo quản ở 30 ± 2°C, độ ẩm tương đối 75 ± 5% với năm nghiệm thức gồm: Đối chứng (nhúng nước cất), 0,25%SA - 0,2%XG, 0,25%SA - 0,4%XG, 0,50%SA - 0,2%XG và 0,50%SA - 0,4%XG. Các chỉ tiêu màu sắc vỏ, hàm lượng chlorophyll, hao hụt khối lượng, độ cứng, hàm lượng tổng chất khô hòa tan (TSS), hàm lượng axit tổng số (TA), hàm lượng phenolic tổng số (TPC), vitamin C và tỷ lệ nhiễm bệnh được theo dõi trong quá trình bảo quản. Kết quả cho thấy, tất cả các nghiệm thức bao màng đều làm chậm quá trình chín và duy trì chất lượng quả tốt hơn so với đối chứng. Trong đó, nghiệm thức 0,50%SA - 0,2%XG cho hiệu quả bảo quản cao nhất với tỷ lệ nhiễm bệnh thấp hơn 50%, hao hụt khối lượng thấp hơn (7,00%), độ cứng cao hơn (4,14 N), đồng thời duy trì hàm lượng chlorophyll (0,0206 mg/g), TSS (17,83 ± 0,29 °Bx), TA (0,36 ± 0,02%), TPC (201,28 mg GAE/100 g) và vitamin C (218,99 mg/100 g) sau 6 ngày bảo quản. Kết quả cho thấy, màng bao SA - XG là giải pháp tiềm năng giúp kéo dài thời gian bảo quản và duy trì chất lượng chuối xiêm sau thu hoạch.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ KIỀM ĐẾN TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG CỦA CUA BIỂN (Scylla paramamosain) NUÔI TRONG HỘP LỌC NƯỚC TUẦN HOÀN
Abstract : 0 PDF: 0Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của độ kiềm đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của cua biển (Scylla paramamosain) trong hệ thống nuôi tuần hoàn (RAS). Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 4 nghiệm thức các mức độ kiềm khác nhau gồm: 80, 120, 160, 200 mg CaCO₃/L trong thời gian 90 ngày và được lặp lại 3 lần. Mỗi nghiệm thức được vận hành trên một hệ thống tuần hoàn độc lập và nuôi 9 cá thể cua riêng lẻ trong các hộp. Các chỉ tiêu môi trường nước, tăng trưởng và tỷ lệ sống được theo dõi định kỳ trong suốt quá trình thí nghiệm. Kết quả cho thấy, tăng trưởng của cua có sự khác biệt rõ rệt (p < 0,05), trong đó nghiệm thức 120 mg CaCO₃/L và 160 mg CaCO₃/L đạt khối lượng cuối (136,62–136,94 g), chiều rộng mai (10,15 - 10,21 cm), tốc độ tăng trưởng tuyệt đối (0,59 - 0,61 g/ngày) và tăng trưởng đặc biệt (0,55 - 0,57%/ngày) cao hơn so với các nghiệm thức còn lại. Tỷ lệ sống dao động từ 66,67 - 88,89% và không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức, mặc dù có xu hướng cao hơn ở mức độ kiềm trung bình. Kết quả nghiên cứu cho thấy, độ kiềm ở mức 120 mg CaCO₃/L và 160 mg CaCO₃/L là phù hợp cho nuôi cua biển trong hệ thống RAS, góp phần nâng cao tăng trưởng và duy trì môi trường ổn định.
-
NGHIÊN CỨU XỬ LÝ NƯỚC THẢI SINH HOẠT BẰNG HỆ HỖN HỢP VI KHUẨN VÀ VI TẢO
Abstract : 0 PDF: 0Nghiên cứu được tiến hành với mục đích tuyển chọn các chủng vi khuẩn hữu ích để kết hợp vi tảo xử lý nước thải sinh hoạt. Thông qua khảo sát hoạt tính sinh học theo phương pháp nuôi cấy trực tiếp ở các điều kiện khác nhau, đã tuyển chọn được 4 chủng vi khuẩn bao gồm: Bacillus sp. A1, Pseudomonas sp. A2, Bacillus sp. A3 và Bacillus sp. C2 có đặc tính sinh học tốt để phối hợp với hỗn hợp vi tảo dùng xử lý nước thải. Các chủng vi khuẩn tuyển chọn đều có khả năng sinh cả ba enzyme amylaza, proteaza và CMCaza, có sức chống chịu cao với mức kháng sinh 1.000 mg streptomycin/L, thích ứng pH và nhiệt độ rộng (pH 4 - 8 và nhiệt độ 30 - 50oC), có khả năng sinh trưởng mạnh trên các nguồn dinh dưỡng cacbon và nitơ khác nhau. Thử nghiệm xử lý nước thải sinh hoạt bằng hệ hỗn hợp vi khuẩn tuyển chọn kết hợp hỗn hợp vi tảo cho hiệu quả xử lý cao, trong đó hàm lượng COD trong nước thải chỉ còn 15,48 mg/l , đạt hiệu suất xử lý là 96,67% và hiệu suất đạt 94,32% đối với chỉ tiêu BOD5. Các thông số khác bao gồm: TSS, tổng photphat và amoni ở công thức xử lý cũng đều giảm mạnh sau 14 ngày với hiệu suất đều đạt trên 90%. Đặc biệt, hiệu quả xử lý vi sinh vật gây hại của thử nghiệm đạt 99%, mật độ vi khuẩn Coliform trong nước thải sau 14 ngày xử lý nằm trong ngưỡng cho phép theo QCVN 14:2008 (cột A). Kết quả thử nghiệm cho thấy tiềm năng ứng dụng hệ hỗn hợp vi khuẩn và vi tảo hữu ích trong việc xử lý nước thải.
-
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CỦA NÔNG HỘ ĐỐI VỚI DỊCH VỤ CẤP NƯỚC TƯỚI TẠI HỆ THỐNG THỦY LỢI GIAO THỦY TRONG BỐI CẢNH HẠN HÁN VÀ XÂM NHẬP MẶN
Abstract : 0 PDF: 0Nghiên cứu này phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của nông hộ đối với dịch vụ cấp nước tưới tại hệ thống thủy lợi Giao Thủy (tỉnh Ninh Bình) - một vùng chịu tác động kép của hạn hán mùa kiệt và xâm nhập mặn ngày càng sâu từ cửa Ba Lạt. Nghiên cứu khảo sát 185 nông hộ trong vụ đông xuân năm 2025 - 2026 và áp dụng mô hình Partial Least Squares - Structural Equation Modeling (PLS-SEM) với bootstrap 5.000 lần để kiểm định bốn giả thuyết về tác động của độ tin cậy cấp nước (REL), tính kịp thời (TIM), thái độ phục vụ của cán bộ thủy lợi (ATT) và minh bạch lịch tưới (TRN) lên sự hài lòng tổng thể (SAT). Kết quả cho thấy, REL (β = 0,290; p < 0,001) và TIM (β = 0,243; p = 0,001) là hai yếu tố có tác động mạnh và nhất quán, trong khi ATT đạt mức ý nghĩa biên (p = 0,053). Đáng chú ý, TRN không có tác động có ý nghĩa thống kê (p = 0,353) - một phát hiện trái chiều với nhiều nghiên cứu trước nhưng phù hợp với bối cảnh địa phương khi nông dân ưu tiên kết quả vật chất hơn thông tin minh bạch thuần túy. Hệ số R² = 0,286 cho thấy mô hình giải thích gần 29% biến thiên của sự hài lòng. Nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm trực tiếp cho cải cách vận hành hệ thống tưới trong bối cảnh biến đổi khí hậu tại vùng ven biển Bắc Bộ.








