Khung điểm Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường

Ngày 11/7/2025, Hội đồng Giáo sư Nhà nước đã ban hành Quyết định số 26/QĐ-HĐGSNN phê duyệt Danh mục Tạp chí khoa học được tính điểm năm 2025, Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường là một trong những Tạp chí đạt điểm cao nhất trong danh mục các tạp chí khoa học được Hội đồng Giáo sư Nhà nước phê duyệt.

Tạp chí có 9 Hội đồng Giáo sư tính điểm, trong đó có: 4 Hội đồng Giáo sư ngành, liên ngành đạt điểm tối đa là 01 điểm, 3 Hội đồng Giáo sư ngành đạt 0,5 điểm; 02 Hội đồng Giáo sư ngành đạt 0,25 điểm.

Số hiện tại

Số 12 (2026)
					Xem Số 12 (2026)
Đã Xuất bản: 24-06-2026

Bài viết

  • PHÂN TÍCH MÃ VẠCH ADN CỦA NGUỒN GEN LÚA ĐỊA PHƯƠNG VIỆT NAM DỰA TRÊN TRÌNH TỰ GEN rbcL

    Abstract : 6 PDF: 8
    Lã Tuấn Nghĩa, Lê Thị Thu Trang, Nguyễn Thanh Nhung, Đỗ Hà Thu, Lã Hoàng Nhật Minh, Đàm Thị Thu Hà, Nguyễn Hoài Thu, Tạ Điệp Viễn Phương
    3-10

    Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định đặc điểm mã vạch ADN vùng gen rbcL của 180 mẫu giống lúa địa phương thu thập từ các vùng sinh thái khác nhau tại Việt Nam. Sau khi khuếch đại bằng PCR, các sản phẩm gen rbcL được giải trình tự bằng phương pháp Sanger, dữ liệu trình tự được xử lý và phân tích bằng các phần mềm BioEdit và MEGA 7. Kết quả cho thấy, chiều dài trình tự dao động từ 541 - 551 bp. Thành phần nucleotide trung bình gồm: 26,67% A, 29,13% T, 23,24% G và 20,96% C. So sánh với cơ sở dữ liệu GenBank bằng công cụ BLAST ghi nhận mức độ tương đồng từ 99,45 - 99,82% với độ bao phủ đạt 100%, cho thấy vùng gen rbcL có tính bảo tồn cao ở cây lúa. Phân tích đa hình trình tự phát hiện 10 vị trí biến dị, bao gồm 4 SNP và 6 InDel. Các biến dị này hình thành các haplotype đặc trưng, cho phép nhận diện và phân biệt một số giống lúa như: Nàng Keo Sim, Nàng Hoa, Nghọo Tan Ơi, Tép An Giang và Cằm. Khoảng cách di truyền theo mô hình Kimura-2-parameter (K2P) dao động từ 0,0000 - 0,0037. Phân tích phát sinh loài bằng phương pháp UPGMA đã chia 180 mẫu giống thành hai nhóm chính. Kết quả nghiên cứu cho thấy, chỉ thị rbcL có thể hỗ trợ đánh giá đa dạng và phân nhóm sơ bộ nguồn gen lúa địa phương; cần kết hợp thêm các vùng gen có độ đa hình cao hơn để nâng cao khả năng phân biệt giữa các mẫu giống có quan hệ di truyền gần.

    DOI: https://doi.org/10.71254/m3dg8707
  • TƯƠNG QUAN VỀ ĐẶC TÍNH LÝ HỌC VÀ HÓA HỌC ĐẤT VƯỜN TRỒNG THANH NHÃN (Euphoria longana) Ở TỈNH CÀ MAU

    Abstract : 1 PDF: 5
    Đoàn Thị Trúc Linh, Đặng Duy Minh, Trần Minh Tiền, Nguyễn Thị Kim Phượng, Châu Minh Khôi
    11-18

    Thanh nhãn (Euphoria longana) trồng tại tỉnh Cà Mau (tỉnh Bạc Liêu cũ) là loại cây trồng đặc sản của địa phương do có phẩm chất nổi trội. Nghiên cứu này được thực hiện để đánh giá hiện trạng dinh dưỡng và phân tích tương quan giữa các đặc tính vật lý và hóa học của đất. Tổng cộng 30 vườn được thu mẫu đất để phân tích các chỉ tiêu vật lý và hóa học đất. Kết quả ghi nhận sa cấu đất trồng Thanh nhãn đa dạng, bao gồm: Đất thịt nhẹ pha cát, đất thịt nhẹ, đất thịt nhẹ pha sét, đất cát, đất thịt trung bình pha sét, đất sét pha thịt và đất thịt trung bình. Giá trị pHH2O của các mẫu đất phổ biến ở mức trung tính và có xu hướng giảm theo thời gian canh tác. Hàm lượng dinh dưỡng như: Đạm (N) và lân (P) hữu dụng, kali (K), canxi (Ca) và magie (Mg) trao đổi, kẽm (Zn), mangan (Mn) và bo (B) hữu dụng trong đất được đánh giá ở mức trung bình đến cao, trong khi chất hữu cơ, N tổng số ở mức thấp. Phân tích tương quan Spearman ghi nhận, tỷ lệ cát và hệ số thấm bão hòa tương quan nghịch có ý nghĩa với EC, chất hữu cơ, CEC, Na trao đổi, Ca hòa tan và Zn hữu dụng (P < 0,01), cho thấy nguy cơ rửa trôi dinh dưỡng cao trên đất có sa cấu thô. Vì vậy, cần kết hợp giữa bón phân vô cơ và hữu cơ nhằm hạn chế rửa trôi dinh dưỡng để nâng cao hiệu quả kinh tế và tính bền vững trong canh tác Thanh nhãn.

    DOI: https://doi.org/10.71254/36hz5177
  • PHÂN LẬP, TUYỂN CHỌN VI KHUẨN HÒA TAN LÂN CÓ HIỆU QUẢ HỖ TRỢ SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG RAU ĂN LÁ

    Abstract : 2 PDF: 3
    Phạm Thị Hải Nghi, Đỗ Thị Xuân, Đặng Kim Thảo, Phan Vương Ái Vy, Trần Thị Bạch Kim, Phạm Văn Trọng Tính, Nguyễn Võ Châu Ngân
    19-30

    Nghiên cứu thực hiện nhằm phân lập và tuyển chọn vi khuẩn có khả năng hòa tan lân khó tan (VK-P) hỗ trợ năng suất và chất lượng rau muống (Ipomoea reptans L.) và cải xanh (Brassica juncea L.). Kết quả, đã phân lập được 30 chủng VK-P có khả năng hòa tan lân khó tan Ca3(PO4)2 và tuyển chọn được 10 chủng VK-P có chỉ số hòa tan lân cao, dao dộng trong khoảng 1,22 - 2,52. Sáu trong 10 chủng VK-P cao với hàm lượng lân hòa tan đạt từ 26,3 - 38,0 mg/L và hàm lượng IAA đạt từ 10,0 - 19,6 mg/L sau 9 ngày ủ. Kết quả bổ sung VK-P vào hạt rau muống và cải xanh cho thấy, chủng AG5.3 và AG2 giúp tăng tỉ lệ nảy mầm và tỉ lệ sống của 2 loại rau trong điều kiện phòng thí nghiệm cũng như giúp tăng năng suất, khối lượng thương phẩm, hàm lượng vitamin C, hàm lượng nitrate trong điều kiện thí nghiệm nhà lưới. Mật độ vi sinh vật có hại trong rau nằm trong ngưỡng cho phép theo QCVN 8-3:2012/BYT của Bộ Y tế. Kết quả giải trình tự gen 16S rRNA cho thấy chủng AG5.3 có độ tương đồng 99,71% với vi khuẩn Enterobacter sp. AG5.3 và chủng AG2 có độ tương đồng 100% với vi khuẩn Acinetobacter sp. AG2. Hai chủng VK-P này có tiềm năng sử dụng trong canh tác rau muống và cải xanh ở điều kiện nhà lưới.

    DOI: https://doi.org/10.71254/s9y3gm12
  • ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN RUỒI LÍNH ĐEN (Hermetia illucens) ĐẾN SINH TRƯỞNG CỦA CẢI BẸ XANH (Brassica juncea)

    Abstract : 2 PDF: 5
    Hồ Trương Huỳnh Thị Bạch Phượng, Nguyễn Thuỳ Trinh, Nguyễn Thị Diễm Kiều, Nguyễn Văn Phước, Huỳnh Bá Di, Trương Nhật Thiên
    31-39

    Trong những năm gần đây, ấu trùng ruồi lính đen (RLĐ) nổi lên như một công cụ sinh học mạnh mẽ, có khả năng tiêu thụ đa dạng chất thải hữu cơ và giảm thể tích rác thải từ 55 - 79% trong thời gian ngắn. Sản phẩm phụ từ quá trình này là phân RLĐ, một loại phân bón hữu cơ giàu dinh dưỡng (N, P, K) và các chất kích thích sinh học. Ấu trùng ruồi lính đen 7 ngày tuổi được dùng để phân giải 4 loại chất thải (rau, trái cây, phân bò, bã bia) trong 12 - 15 ngày. Các chỉ tiêu hóa học như: Chất hữu cơ, nitơ tổng số, photpho và kali hữu hiệu của phân đã được phân tích. Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 4 nghiệm thức: Phân RLĐ, phân trùn quế, phân hóa học và đối chứng (không bón phân). Cải bẹ xanh được trồng trong nhà lưới, theo dõi định kỳ các chỉ tiêu sinh trưởng (chiều cao, số lá, chỉ số SPAD) và năng suất khi thu hoạch. Phân thu được từ nguồn rau thải có giá trị dinh dưỡng cao nhất: Hàm lượng chất hữu cơ đạt 60,85%, nitơ tổng số 4,13%, P2O5 hữu hiệu 3,94% và K₂O hữu hiệu 9,61%. Ngược lại, bã bia cho kết quả dinh dưỡng thấp nhất. Phân RLĐ giúp tăng chiều cao và số lá cây cải bẹ xanh một cách ổn định, đạt hiệu quả tương đương với phân trùn quế và phân hóa học ở giai đoạn muộn của chu kỳ sinh trưởng. Nghiệm thức bón phân RLĐ cho đường kính thân cao nhất (0,78 cm) và năng suất thương phẩm (311 g), gần tương đương với bón phân hóa học (316,33 g), vượt trội hoàn toàn so với đối chứng không bón phân. Ấu trùng RLĐ có khả năng xử lý hiệu quả các loại phụ phẩm hữu cơ, tạo ra nguồn phân bón chất lượng cao. Phân RLĐ không chỉ cung cấp đầy đủ các nguyên tố đa lượng mà còn giúp cải thiện sinh trưởng và năng suất cây cải bẹ xanh tương đương với các loại phân bón phổ biến hiện nay. Khuyến khích sử dụng phân RLĐ để thay thế một phần hoặc hoàn toàn phân hóa học trong canh tác rau ăn lá nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm và bền vững môi trường. 

    DOI: https://doi.org/10.71254/drf9mw02
  • KHẢO SÁT BỆNH DO Hepatozoon canis TRÊN CHÓ VÀ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN THÚ Y HOPE PET

    Abstract : 2 PDF: 4
    Nguyễn Cửu Thái San, Nguyễn Thành Tú, Huỳnh Trường Giang, Trần Long Hải
    40-48

    Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 02/2026 đến tháng 4/2026 trên 194 chó đến khám tại Bệnh viện Thú y Hope Pet nhằm xác định tỷ lệ nhiễm Hepatozoon canis (H. canis) bằng phương pháp nhuộm Giemsa trên tiêu bản buffy coat (lớp rìa bạch cầu) thu từ ly tâm vi lượng theo thiết kế mô tả cắt ngang trên các chó có biểu hiện nghi ngờ nhiễm ký sinh trùng đường máu thông qua khám lâm sàng. Kết quả cho thấy, có 21/194 mẫu dương tính, tương ứng tỷ lệ nhiễm 10,82%. Phân tích các yếu tố nguy cơ cho thấy, không có sự khác biệt tỷ lệ nhiễm theo tuổi (8,00 - 11,86%), giới tính (10,32% ở đực và 10,23% ở cái) và giống (6,93% ở chó ngoại và 15,05% ở chó nội) (P > 0,05). Điều này cho thấy, các đặc điểm cá thể không phải là yếu tố nguy cơ chính. Các biểu hiện lâm sàng thường gặp gồm: Nhiễm ve (85,71%), sốt (80,95%) và mệt mỏi (71,43%). Các dấu hiệu khác như: Niêm mạc nhợt nhạt (38,10%), giảm vận động (28,57%), bỏ ăn (23,81%), xuất huyết dưới da (23,81%) và co giật (14,29%) xuất hiện với tỷ lệ thấp hơn. Về điều trị, tất cả chó nhiễm H. canis được áp dụng cùng một phác đồ điều trị gồm giai đoạn điều trị ban đầu bằng floxy kết hợp vita Hemo trong 3 ngày nhằm kiểm soát triệu chứng lâm sàng và cải thiện thể trạng, tiếp theo là giai đoạn điều trị duy trì bằng doxycycline, clindamycin, imidocarb dipropionate và các thuốc hỗ trợ trong 21 - 28 ngày. Phác đồ này đạt tỷ lệ hồi phục 80,95% (17/21), trong khi 19,05% (4/21) trường hợp không đạt hiệu quả điều trị, chủ yếu do chủ nuôi không tuân thủ phác đồ và các biến chứng lâm sàng phát sinh.

    DOI: https://doi.org/10.71254/0q0bfp82
  • KHẢO SÁT HOẠT TÍNH KHÁNG Campylobacter jejuni VÀ Campylobacter coli CỦA MỘT SỐ LOẠI TINH DẦU

    Abstract : 2 PDF: 3
    Lâm Hoàng Quân, Đoàn Thị Kim Duyên, Tống Thị Ánh Ngọc, Lê Nguyễn Đoan Duy
    49-59

    Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của bốn loại tinh dầu thiên nhiên gồm: Tràm trà (Melaleuca alternifolia), hương nhu (Ocimum gratissimum), hương thảo (Rosmarinus officinalis) và gừng (Zingiber officinale) đối với Campylobacter jejuniCampylobacter coli, đồng thời đánh giá hiệu quả phối hợp giữa các tinh dầu nhằm xác định tiềm năng ứng dụng như tác nhân kháng khuẩn tự nhiên. Hoạt tính kháng khuẩn được xác định bằng phương pháp khuếch tán trên thạch và xác định nồng độ ức chế tối thiểu (MIC), đồng thời đánh giá hiệu quả phối hợp tinh dầu thông qua chỉ số nồng độ ức chế phân đoạn (FICI). Kết quả cho thấy, tất cả các tinh dầu đều có khả năng ức chế C. jejuniC. coli, trong đó tinh dầu tràm trà thể hiện hoạt tính mạnh nhất với đường kính vòng kháng khuẩn đạt 19,00 ± 1,83 mm và 22,90 ± 1,10 mm tương ứng. Giá trị MIC của tinh dầu tràm trà và hương nhu đều đạt 0,625%, thấp hơn so với tinh dầu hương thảo và gừng. Khi phối hợp tinh dầu tràm trà và hương nhu theo tỉ lệ 2: 1, đường kính vòng kháng khuẩn tăng lên 23,67 ± 1,27 mm đối với C. jejuni và 24,33 ± 1,56 mm đối với C. coli. MIC của hỗn hợp giảm xuống còn 0,3125% và chỉ số FICI đạt 0,50, cho thấy sự tương tác hiệp đồng hoặc cộng hợp giữa hai loại tinh dầu. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hỗn hợp tinh dầu tràm trà và hương nhu có tiềm năng ứng dụng trong việc kiểm soát Campylobacter spp. trong thực phẩm và chuỗi chế biến gia cầm.

    DOI: https://doi.org/10.71254/6145eh67
  • ẢNH HƯỞNG CỦA CHIẾT XUẤT CỦ SÂM NGỌC LINH (Panax vietnamensis) ĐẾN ĐẶC TÍNH CẤU TRÚC VÀ HOẠT TÍNH SINH HỌC CỦA SỮA CHUA ĐẬU NÀNH LÊN MEN BỞI Levilactobacillus brevis

    Abstract : 2 PDF: 1
    Nguyễn Quốc Duy, Lý Thị Quỳnh Mi, Nguyễn Thị Vân Linh, Huỳnh Quốc Trung, Đỗ Anh Duy
    60-71

    Nghiên cứu này đánh giá ảnh hưởng của chiết xuất củ sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv.) đến quá trình lên men và chất lượng sữa chua đậu nành sử dụng chủng Levilactobacillus brevis. Kết quả cho thấy, chiết xuất củ sâm được bổ sung ở nồng độ 0,5 - 1,0% tăng tốc quá trình axit hóa và tăng cường sinh tổng hợp exopolysaccharide (EPS) cao hơn 1,9 lần so với đối chứng, qua đó cải thiện đáng kể độ cứng, khả năng giữ nước và làm giảm hiện tượng tách nước của sữa chua. Đặc biệt, bổ sung 1% chiết xuất củ sâm Ngọc Linh, hoạt tính β-glucosidase của L. brevis QD-1 được duy trì ở mức tối ưu, góp phần gia tăng hàm lượng phenolic tổng (từ 9,71 lên 16,80 mg GAE/100 g) và nâng cao khả năng khử gốc tự do ABTS (tăng 1,65 lần) và năng lực khử sắt FRAP (tăng 1,54 lần) so với trước lên men. Ngược lại, khi nồng độ chiết xuất củ sâm tăng lên 2,0%, hoạt tính β-glucosidase bị ức chế rõ rệt, dẫn đến sự suy giảm quá trình sinh axit, tổng hợp EPS và hiệu quả chuyển hóa các hợp chất sinh học. Những kết quả này cho thấy, bổ sung tinh chất sâm Ngọc Linh ở mức 1,0% là tối ưu để cải thiện đặc tính cấu trúc, đồng thời làm tăng hàm lượng phenolic tổng và hoạt tính chống oxy hóa của sữa chua đậu nành, đồng thời mở ra tiềm năng khai thác dược liệu đặc hữu Việt Nam trong phát triển các sản phẩm thực phẩm thuần chay hướng đến lợi ích sức khỏe.

    DOI: https://doi.org/10.71254/tyesas41
  • MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA ĐIỀU KIỆN BẢO QUẢN ĐẾN HAO HỤT KHỐI LƯỢNG, HIỆU SUẤT THU HỒI DẦU CỦA HẠT TRẨU (Vernicia montana Lour.) TRỒNG TẠI TỈNH QUẢNG TRỊ

    Abstract : 2 PDF: 1
    Đào Thùy Dương, Phan Thị Khánh Linh, Phạm Thị Mỹ Phương, Chu Huy Tưởng, Lê Đức Thắng, Hồ Xuân Hiếu
    72-79

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định một số đặc điểm vật lý của hạt trẩu (Vernicia montana Lour.) thu thập tại tỉnh Quảng Trị và đánh giá ảnh hưởng của điều kiện bảo quản đến tỷ lệ hao hụt nguyên liệu và hiệu suất thu hồi dầu. Kết quả cho thấy hạt trẩu có kích thước tương đối đồng đều, với độ cầu đạt 0,83 và tỷ lệ hình dạng đạt 100,06%. Tỷ lệ nhân trung bình chiếm 55,03 ± 2,23% khối lượng hạt; khối lượng 1.000 hạt đạt 3,12 ± 0,012 kg và độ ẩm hạt đạt 8,06 ± 0,40%. Hàm lượng dầu xác định bằng phương pháp Soxhlet đạt 37,80 ± 0,26%, cho thấy tiềm năng cao cho chế biến dầu công nghiệp. Trong các phương thức bảo quản thí nghiệm, bảo quản hạt trong bao PP dệt có tráng PE (50 kg/bao) ở nhiệt độ 18 - 22°C cho kết quả tốt nhất, với tỷ lệ hao hụt thấp nhất (1,9 ± 0,3%) và hiệu suất thu hồi dầu cao nhất (21,5 ± 0,4%) sau 6 tháng bảo quản. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho việc lựa chọn phương thức bảo quản nguyên liệu phù hợp, góp phần nâng cao hiệu quả thu hồi dầu và tối ưu hóa quy trình chế biến dầu trẩu trong điều kiện sản xuất tại Việt Nam.

    DOI: https://doi.org/10.71254/793fz263
  • XÁC ĐỊNH THUỘC TÍNH CẢM QUAN VÀ MỨC ĐỘ CHẤP NHẬN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG ĐỐI VỚI SẢN PHẨM MÍT (Artocarpus heterophyllus L.) SẤY GIÒN

    Abstract : 2 PDF: 2
    Phan Thị Thanh Quế, Thái Minh Phúc, Lê Duy Nghĩa, Dương Thị Phượng Liên
    80-88

    Tính chất cảm quan của thực phẩm là một trong những yếu tố quyết định khả năng thương mại hóa sản phẩm. Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định các thuộc tính cảm quan và đánh giá mức độ chấp nhận của người tiêu dùng đối với sản phẩm mít sấy giòn, đồng thời so sánh sản phẩm nghiên cứu với các sản phẩm thương mại trên thị trường. Các sản phẩm được khảo sát bao gồm 2 sản phẩm nghiên cứu (mít sấy giòn truyền thống và mít sấy giòn phủ gia vị) và 4 sản phẩm mít sấy giòn thương mại. Phân tích cảm quan mô tả được thực hiện bởi hội đồng 10 cảm quan viên được huấn luyện, sử dụng thang cường độ 0 - 5 cho 15 thuộc tính cảm quan; dữ liệu được xử lý bằng phân tích thành phần chính (PCA). Khảo sát thị hiếu được tiến hành với 200 người tiêu dùng (độ tuổi 7 - 35, tỷ lệ nam: nữ = 1: 1) bằng thang đo hedonic 9 điểm. Kết quả cho thấy, màu vàng sáng, cấu trúc xốp - giòn - mịn và mùi thơm đặc trưng của mít có ảnh hưởng tích cực đến mức độ chấp nhận, trong khi mùi hăng ôi của dầu chiên, cấu trúc thô ráp, cảm giác nhờn và màu nâu ảnh hưởng tiêu cực. Sản phẩm mít sấy giòn phủ gia vị đạt mức độ ưa thích cao (80 - 100%), tương đương các sản phẩm thương mại được ưa chuộng nhất và cao hơn sản phẩm truyền thống. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho việc cải tiến và phát triển các sản phẩm mới, mít sấy giòn phủ gia vị, đáp ứng yêu cầu cảm quan của người tiêu dùng, góp phần đa dạng hóa các sản phẩm snack mít trên thị trường.

    DOI: https://doi.org/10.71254/st2c6w97
  • XÁC ĐỊNH HẠN CHẾ ĐẤT ĐAI CHO CANH TÁC CÂY ĂN TRÁI TẠI VÙNG TRŨNG THÀNH PHỐ CẦN THƠ

    Abstract : 4 PDF: 4
    Phan Hoàng Vũ, Phạm Thanh Vũ, Võ Quang Minh. Trần Quốc Kiệt
    89-96

    Vùng trũng thành phố Cần Thơ có đặc trưng địa hình thấp, đất phèn phân bố rộng và chịu ảnh hưởng của lũ lụt, xâm nhập mặn theo mùa. Xu hướng chuyển đổi sang cây ăn trái, đặc biệt là sầu riêng và mít diễn ra mạnh mẽ nhưng chưa được đánh giá đầy đủ về mức độ phù hợp với điều kiện đất đai. Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định và phân tích các hạn chế đất đai đối với canh tác cây ăn trái phổ biến trong vùng. Dữ liệu đặc tính đất đai được thu thập từ cơ sở dữ liệu tài nguyên đất đai và chồng xếp với bản đồ hiện trạng cây trồng kế thừa từ giải đoán ảnh viễn thám. Phân cấp yếu tố được xây dựng theo khung đánh giá đất đai của FAO (1976), dựa trên yêu cầu sinh thái của từng loại cây. Bốn nhóm trở ngại được xác định gồm: Đất chua hoặc tiềm ẩn gây chua; đất khó thoát nước; ngập úng và nhiễm mặn. Kết quả cho thấy, rủi ro ngập úng xuất hiện trên toàn bộ diện tích canh tác. Cùng với rủi ro nhiễm mặn, đây là các trở ngại gián tiếp có thể kiểm soát thông qua hệ thống bờ bao. Trong khi đó, đất chua hoặc tiềm ẩn gây chua và đất khó thoát nước là trở ngại trực tiếp xuất phát từ đặc tính hiện hữu của đất. Sầu riêng chịu ảnh hưởng nghiêm trọng hơn mít do đất chua hoặc tiềm ẩn gây chua (18,6% so với 4,2%) và đất khó thoát nước (53,9% so với 38,7%). Diện tích sầu riêng chịu tác động đồng thời của ba và bốn trở ngại lần lượt chiếm 16,8% và 2,4%, (tổng cộng 19,2%), cao hơn 2,3 lần so với diện tích mít (8,2%). Một phần đáng kể diện tích sầu riêng đang được canh tác trên nền đất không phù hợp, tiềm ẩn rủi ro về năng suất và tính bền vững; mít có khả năng thích nghi tốt hơn với điều kiện đặc thù của vùng trũng sông Hậu.

    DOI: https://doi.org/10.71254/a5fbxz02
Xem Tất cả Các số