Khung điểm Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường

Ngày 11/7/2025, Hội đồng Giáo sư Nhà nước đã ban hành Quyết định số 26/QĐ-HĐGSNN phê duyệt Danh mục Tạp chí khoa học được tính điểm năm 2025, Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường là một trong những Tạp chí đạt điểm cao nhất trong danh mục các tạp chí khoa học được Hội đồng Giáo sư Nhà nước phê duyệt.

Tạp chí có 9 Hội đồng Giáo sư tính điểm, trong đó có: 4 Hội đồng Giáo sư ngành, liên ngành đạt điểm tối đa là 01 điểm, 3 Hội đồng Giáo sư ngành đạt 0,5 điểm; 02 Hội đồng Giáo sư ngành đạt 0,25 điểm.

Số hiện tại

Số 14 (2026)
					Xem Số 14 (2026)
Đã Xuất bản: 25-07-2026

Bài viết

  • KHÔNG GIAN XANH ĐÔ THỊ VÀ VAI TRÒ TRONG NÂNG CAO SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

    Abstract : 0 PDF: 0
    Phạm Thị Bích Phương, Li Shuhua
    3-15

    Nghiên cứu tổng quan có hệ thống 30 tài liệu về mối quan hệ giữa không gian xanh đô thị và sức khỏe cộng đồng theo quy trình PRISMA. Kết quả cho thấy, không gian xanh có tác động tích cực đến sức khỏe tâm lý, sinh lý và hành vi của cư dân đô thị, song mức độ ảnh hưởng phụ thuộc vào đặc điểm cảnh quan và bối cảnh sử dụng. Các nghiên cứu hiện nay chủ yếu tiếp cận ở cấp độ tổng thể, trong khi vai trò của cấu trúc cây xanh và quần xã thực vật chưa được phân tích hệ thống. Về phương pháp, điều tra bảng hỏi chiếm ưu thế, các nghiên cứu tích hợp giữa sinh thái, sinh lý và không gian còn hạn chế. Đồng thời, hệ thống chỉ tiêu thiếu mô hình liên kết giữa cấu trúc thực vật, cảm nhận môi trường và hiệu quả sức khỏe, đặc biệt trong bối cảnh đô thị nhiệt đới. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất khung tiếp cận “cây xanh - cảm nhận - sức khỏe” nhằm làm rõ cơ chế tác động và hỗ trợ quy hoạch không gian xanh đô thị theo định hướng nâng cao sức khỏe cộng đồng.

    DOI: https://doi.org/10.71254/53kngg91
  • NGHIÊN CỨU, KHAI THÁC BIẾN DỊ SNP VÀ INDEL GENE PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN CHỈ THỊ PHÂN TỬ TRONG CHỌN TẠO GIỐNG LÚA LIÊN QUAN ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG

    Abstract : 0 PDF: 0
    Khổng Ngân Giang, Võ Thị Minh Tuyển, Nguyễn Thị Hảo, Đoàn Văn Sơn, Trần Thị Huệ Hương, Nguyễn Trường Giang, Trần Mạnh Cường, Lê Đức Thảo
    16-26

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm khai thác các biến dị SNP và INDEL phục vụ phát triển chỉ thị phân tử ở các dòng lúa đột biến triển vọng. Dữ liệu giải trình tự hệ gene của ba dòng lúa đột biến A64, A68, A83 và giống đối chứng D3 được sử dụng để phân tích biến dị trên 186 gene liên quan đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng lúa. Các biến dị SNP và INDEL nằm trong vùng trình tự gene được trích xuất, sàng lọc và so sánh giữa các dòng đột biến với giống đối chứng nhằm xác định các locus đa hình tiềm năng phục vụ phát triển chỉ thị phân tử. Kết quả phân tích xác định được tổng cộng 10.614 biến thể SNP và INDEL trong tập hợp các gene khảo sát, bao gồm: 3.479 biến thể ở dòng A64; 3.877 biến thể ở dòng A68 và 3.258 biến thể ở dòng A83. Nhiều gene liên quan đến cấu trúc bông, kiến trúc cây và kích thước hạt ghi nhận mức đa hình cao, tiêu biểu như: ANK1, ANK2, GN2, APO1/SCM2, DEP1, IPA1/OsSPL14, GW2 và GS5. Từ các biến dị đã xác định, nghiên cứu đã lựa chọn và thiết kế 42 chỉ thị INDEL ứng viên phục vụ nhận diện kiểu gene và phát triển chỉ thị phân tử. Kết quả nghiên cứu cung cấp nguồn dữ liệu biến dị di truyền có giá trị và các chỉ thị phân tử tiềm năng phục vụ đánh giá nguồn gene và hỗ trợ chọn giống lúa bằng chỉ thị phân tử trong tương lai.

    DOI: https://doi.org/10.71254/2bya2205
  • ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN HỮU CƠ VI SINH TỪ PHỤ PHẨM CÂY RAU ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA CẢI BẸ XANH (Brassica juncea L.), MỒNG TƠI (Basella alba L.) VÀ RAU DỀN ĐỎ (Amaranthus tricolor L.) TẠI XÃ RẠCH KIẾN, TỈNH TÂY NINH

    Abstract : 0 PDF: 0
    Nguyễn Minh Quang, Đặng Thế Hiển, Phan Hữu Tín, Nguyễn Thị Thùy Trang, Võ Thị Thúy Huệ , Huỳnh Văn Biết
    27-35

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm tận dụng phụ phẩm cây rau để sản xuất phân hữu cơ vi sinh và đánh giá hiệu quả sử dụng sản phẩm trên một số loại rau ăn lá tại tỉnh Tây Ninh. Phân bón được sản xuất bằng phương pháp ủ hiếu khí từ hỗn hợp gồm 70% phụ phẩm cây rau, 20% phân bò, 10% than sinh học và 0,3% chế phẩm vi sinh. Sau 30 ngày ủ, sản phẩm thu được đạt tiêu chuẩn phân hữu cơ vi sinh theo QCVN 01-189:2019/BNNPTNT, với pH 6,49, độ ẩm 29,4%, chất hữu cơ 37%, tỷ lệ C/N 11,24 và mật độ vi sinh vật phân giải xenlulo đạt 7,1 × 106 CFU/g. Kết quả đánh giá trên cải bẹ xanh, rau dền và mồng tơi cho thấy các công thức sử dụng phân hữu cơ vi sinh đều cải thiện sinh trưởng và năng suất so với đối chứng. Năng suất thực thu cải bẹ xanh đạt 24.024-24.089 kg/ha, rau dền 13.789-13.830 kg/ha và mồng tơi 19.756-20.044 kg/ha, cao hơn công thức đối chứng tương ứng là 17.556, 12.850 và 17.322 kg/ha. Đáng chú ý, việc sử dụng phân hữu cơ vi sinh kết hợp giảm 20% lượng phân vô cơ vẫn duy trì năng suất tương đương công thức bón đầy đủ phân hóa học. Kết quả cho thấy, phân hữu cơ vi sinh sản xuất từ phụ phẩm cây rau có tiềm năng thay thế một phần phân bón vô cơ, góp phần giảm chất thải, thúc đẩy nông nghiệp tuần hoàn và hướng đến sản xuất nông nghiệp an toàn, bền vững.

    DOI: https://doi.org/10.71254/zr7mer36
  • ẢNH HƯỞNG CỦA TỶ LỆ BỔ SUNG KHOAI LANG TÍM ĐẾN ĐẶC TÍNH LÝ HÓA, HOẠT TÍNH CHỐNG OXY HÓA VÀ CHẤT LƯỢNG CẢM QUAN CỦA SỮA ĐẬU NÀNH

    Abstract : 0 PDF: 0
    La Thị Liễu, Châu Chí Bảo, Nguyễn Duy Khánh
    36-45

    Sữa đậu nành là loại thức uống bổ dưỡng và phổ biến, việc phát triển công thức sữa đậu nành mới, được bổ sung khoai lang tím giàu anthocyanin có tiềm năng tạo ra thức uống với màu sắc hấp dẫn và giàu chất chống oxy hóa. Mục đích của nghiên cứu này là đánh giá tác động của tỷ lệ bổ sung khoai lang tím hấp chín (10 - 50% theo khối lượng đậu nành) đến các đặc tính lý hóa, hàm lượng các hợp chất có hoạt tính sinh học, hoạt tính chống oxy hóa và chất lượng cảm quan của sữa đậu nành. Kết quả cho thấy, việc bổ sung khoai lang tím hấp giúp tạo màu tím hấp dẫn, tăng cường hàm lượng các hợp chất phenolic, flavonoid và anthocyanin, giúp tăng hoạt tính chống oxy hóa và độ yêu thích của sản phẩm sữa đậu nành. Các mẫu sữa đậu nành được bổ sung khoai lang tím dạng hấp với tỷ lệ từ 10 - 50% (w/w) có các đặc điểm như: Chất khô hòa tan (2,33 - 3,0%), hàm lượng protein (4,56 - 4,99 g/L), hàm lượng phenolic (354,99 - 427,47 mg GAE/L), flavonoid (64,98 - 369,31 mg QE/L) và anthocyanin tổng (6,70 - 22,93 mg CGE/L) cũng như hoạt tính quét gốc tự do DPPH (32,40 - 76,68%) so với sữa đậu nành truyền thống (p < 0,05). Qua đó, việc bổ sung khoai lang tím dạng hấp ở nồng độ thích hợp (40% w/w) cho thấy tiềm năng trong phát triển sữa đậu nành giàu chất chống oxy hóa.

    DOI: https://doi.org/10.71254/6c9kak92
  • TỐI ƯU HÓA QUÁ TRÌNH THU NHẬN TINH BỘT CỦ ẤU (Trapa natans) BẰNG PHƯƠNG PHÁP BỀ MẶT ĐÁP ỨNG

    Abstract : 0 PDF: 0
    Lê Minh Chiến, Nguyễn Hữu Nghị, Lâm Ngọc Thảo Vi, Nguyễn Tuấn Anh, Cao Thanh Bình, Đỗ Thị Tuyết Nhung, Nguyễn Nhật Minh Phương, Trần Chí Nhân
    46-53

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm tối ưu hóa quá trình thu nhận tinh bột từ củ ấu bằng dung dịch sodium hydroxide (NaOH) theo mô hình Central Composite Design. Bốn yếu tố ảnh hưởng bao gồm: tỷ lệ dung môi: Nguyên liệu (2: 1 - 4: 1, w/w), nồng độ dung dịch NaOH (0,15 - 0,35%), thời gian ngâm khuấy (40 - 90 phút) và tốc độ khuấy (750 - 1.250 vòng/phút) được khảo sát nhằm xác định các điều kiện tối ưu để có hiệu suất thu nhận tinh bột và khả năng duy trì độ trắng (WI) của tinh bột ở mức tối đa cũng như hiệu suất thu hồi bột sơ thấp nhất. Tỷ lệ dung môi: nguyên liệu 3,55: 1 (w/w), nồng độ dung dịch NaOH 0,25%, thời gian ngâm khuấy 73 phút và tốc độ khuấy 1.022 vòng/phút được xác định là điều kiện tối ưu để thu nhận tinh bột từ củ ấu. Ở điều kiện này, hiệu suất thu nhận tinh bột (61,09%) và WI (95,11) đạt giá trị cao nhất, đồng thời tối thiểu được hiệu suất thu nhận bột xơ (26,49%). Kết quả nghiên cứu cho thấy, dung dịch NaOH có khả năng hỗ trợ hiệu quả quá trình tách tinh bột ra khỏi thành phần xơ của củ ấu, góp phần cải thiện hiệu suất thu nhận và chất lượng tinh bột thành phẩm.

    DOI: https://doi.org/10.71254/nmj5dj82
  • ỨNG DỤNG ENZYME PROTEASE TRONG TRÍCH LY TINH BỘT TỪ HẠT BƠ (Persea americana Mill.)

    Abstract : 0 PDF: 0
    Dương Thị Phượng Liên, Võ Lê An Phụng, Võ Thị Diệu, Dương Kim Thanh
    54-63

    Hạt bơ (Persea americana M.), là phụ phẩm từ quá trình chế biến trái bơ, chứa nhiều polysaccharide, đặc biệt là tinh bột, protein và lipid. Nghiên cứu thực hiện nhằm khảo sát ảnh hưởng của tỷ lệ enzyme protease (1 - 3 U/mL cùng với mẫu đối chứng không bổ sung enzyme) và thời gian xử lý enzyme (2 - 4 giờ) đến hiệu suất thu hồi và chất lượng tinh bột hạt bơ theo phương pháp nghiền ướt. Kết quả cho thấy, quá trình ngâm trích đạt hiệu quả tốt khi xử lý enzyme protease với tỉ lệ 2 U/mL dịch trích, trong thời gian 3 giờ cho hiệu suất thu hồi tinh bột đạt 49,50%. Tinh bột thu được có độ ẩm 8,38%, hàm lượng tinh bột 83,63% và protein 2,63%. Các đặc tính vật lý bao gồm: Độ sáng (L*) 68,33, khối lượng riêng biểu kiến và khối lượng riêng thực lần lượt là 0,71 và 0,74 g/cm³, chỉ số hấp thụ nước 2,64 g/g, chỉ số hòa tan trong nước 6,94% và khả năng trương nở 8,14%. Kết quả cho thấy, hạt bơ là nguồn nguyên liệu tiềm năng cho sản xuất tinh bột với các đặc tính phù hợp ứng dụng trong công nghiệp thực phẩm.

    DOI: https://doi.org/10.71254/d5pt8n14
  • ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH NHIỄM HỘI CHỨNG RỐI LOẠN SINH SẢN VÀ HÔ HẤP (PRRS) TRÊN LỢN VÀ HIỆU QUẢ HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ TẠI TRẠI VIỆT PHƯƠNG

    Abstract : 0 PDF: 0
    Hà Huỳnh Hồng Vũ, Ngô Phú Cường, Trần Thị Cẩm Tú, Võ Duy Hoàng, Huỳnh Hòa Bình, Huỳnh Minh Hậu, Dương Vân Anh
    64-68

    Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 8/2021 đến tháng 12/2022 tại trại Việt Phương (Bình Dương) nhằm xác định căn nguyên gây hội chứng rối loạn hô hấp và đánh giá hiệu quả của các phác đồ hỗ trợ điều trị thực tế. Trong quá trình khảo sát, trại xuất hiện ổ dịch với tỷ lệ nhiễm bệnh lâm sàng lên tới 89,5% và tỷ lệ chết là 10,51%. Kết quả xét nghiệm sinh học phân tử (Real-time RT-PCR) khẳng định 100% mẫu bệnh phẩm dương tính với virus PRRS chủng châu Âu (PRRS_EU). Thí nghiệm hỗ trợ điều trị được bố trí trên 1.200 lợn bệnh chia làm hai lô: Lô 1 sử dụng kháng sinh Ftifur (tiêm bắp) và lô 2 sử dụng Tilmicosin (trộn thức ăn), kết hợp với thuốc trợ sức. Kết quả cho thấy, cả hai phác đồ đều mang lại hiệu quả cao với tỷ lệ hồi phục lâm sàng đạt 90,0%, sự sai khác giữa hai phương pháp không có ý nghĩa thống kê (P > 0,05). Bên cạnh đó, việc kết hợp hỗ trợ điều trị với quy trình an toàn sinh học chặt chẽ đã giúp trại giảm 10 - 15% chi phí thuốc thú y và rút ngắn thời gian nuôi 7 - 10 ngày so với dự kiến. Kết quả nghiên cứu khẳng định tầm quan trọng của việc kiểm soát bội nhiễm kế phát bằng kháng sinh đúng phổ trong việc khống chế thiệt hại do PRRS gây ra.

    DOI: https://doi.org/10.71254/jk6k8w41
  • ĐÁNH GIÁ HÀM LƯỢNG CỦA MỘT SỐ KIM LOẠI NẶNG TRONG ĐẤT Ở CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRỌNG ĐIỂM CỦA THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI

    Abstract : 0 PDF: 0
    Nguyễn Thanh Hùng, Trương Công Phú, Lê Minh Chiến, Hoàng Thị Thu Hoài, Phạm Thị Nguyên, Bùi Thị Thu Hà, Ngô Thị Hiệp
    69-78

    Nghiên cứu này nhằm đánh giá mức độ ô nhiễm và đặc điểm phân bố theo chiều sâu của các chất ô nhiễm trong đất tại các khu công nghiệp trọng điểm Thành phố Đồng Nai. Tổng cộng 150 mẫu đất được thu thập tại 6 khu công nghiệp, phân tích các chỉ tiêu pH và hàm lượng các kim loại nặng như: Pb, Zn, Cu, Cd, Hg, As và sunfat (SO₄²- ). Nghiên cứu dựa trên việc phân tích hệ số tích tụ bề mặt (R), xác định mối tương quan dựa trên phường trình hồi quy tuyến tính giữa tầng đất mặt (0 - 30 cm) và tầng sâu (30 - 60 cm), phân tích phương sai (ANOVA) và chỉ số tích lũy địa chất (Igeo). Kết quả cho thấy, đất có xu hướng chua (pHKCl = 4,21 - 5,48), có thể làm gia tăng tính linh động của một số kim loại nặng. Mối tương quan chặt chẽ giữa nồng độ hai tầng đất (R² > 0,90) phản ánh xu thế biến thiên đồng thời, tuy nhiên vẫn tồn tại sự khác biệt cục bộ theo không gian. Kết quả ANOVA (p < 0,05) cho thấy, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các khu công nghiệp. Đánh giá theo chỉ số Igeo cho thấy, Cd là nguyên tố có mức độ tích tụ đáng chú ý nhất, trong khi các kim loại khác chủ yếu thể hiện sự giàu hóa cục bộ tại một số khu vực. Nhìn chung, sự phân bố kim loại nặng trong đất khu công nghiệp tại thành phố Đồng Nai chịu ảnh hưởng tổng hợp của nguồn phát thải và các yếu tố thổ nhưỡng. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho công tác quan trắc theo chiều sâu và quản lý rủi ro môi trường đất trong điều kiện công nghiệp hóa.

    DOI: https://doi.org/10.71254/bjnyz607
  • HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM VÀ NHU CẦU CẦN ĐƯỢC HỖ TRỢ ĐỂ THỰC HIỆN NHỮNG QUY ĐỊNH MỚI CỦA LUẬT HỢP TÁC XÃ NĂM 2023

    Abstract : 0 PDF: 0
    Phùng Giang Hải, Hoàng Minh Huy, Vũ Thị Thu Giang, Nguyễn Thị Mỹ
    79-87

    Luật Hợp tác xã (HTX) năm 2023 có hiệu lực từ ngày 01/7/2024. Cho đến nay, đã được phổ biến, tuyên truyền ở tất cả các cấp. Tuy nhiên, số đông thành viên ở các HTX nông nghiệp hiện nay chưa thực sự hiểu biết rõ ràng và sâu sắc về những quy định mới của Luật hoặc có hiểu biết nhưng chưa thực hiện được các quy định này vì có nhiều điều kiện mà HTX khó đáp ứng. Kết quả khảo sát gần đây cho thấy, cách thức tổ chức phổ biến Luật HTX; các quy định mới về điều kiện bắt buộc phải thực hiện đang làm chậm quá trình triển khai đưa Luật vào cuộc sống. Bài báo là kết quả điều tra, khảo sát thực địa một số HTX nông nghiệp đại diện cho 6 địa phương (6 tỉnh sau sáp nhập) trong năm 2025 về 6 nội dung mới của Luật HTX năm 2023 gồm: Thành viên, tài chính - tài sản, giao dịch nội bộ, cho vay nội bộ, kiểm soát nội bộ và doanh nghiệp trong HTX, nhằm nhận diện tình hình thực hiện, các vướng mắc và các nhu cẩu của các HTX nông nghiệp cần được hỗ trợ để thực hiện các quy định mới của Luật HTX năm 2023.

    DOI: https://doi.org/10.71254/57tf9r77
  • ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG KHAI THÁC CÁC KHOẢN THU TỪ ĐẤT TẠI VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI SỐ

    Abstract : 0 PDF: 0
    Phan Thị Thanh Huyền, Ngô Thị Hà, Tạ Ngọc Long, Trương Quang Ngân
    88-96

    Chuyển đổi số đang từng bước hỗ trợ quá trình khai thác các khoản thu từ đất thông qua việc số hóa thông tin đất đai, hoàn thiện hệ thống dữ liệu phục vụ xác định giá đất và tăng cường kết nối, chia sẻ thông tin giữa các cơ quan quản lý. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp về các khoản thu từ đất giai đoạn 2015 - 2024 kết hợp với phỏng vấn sâu chuyên gia. Dữ liệu được xử lý bằng thống kê mô tả, phân tích tốc độ biến động và phân tích chủ đề để làm rõ xu hướng và các hạn chế trong khai thác các khoản thu từ đất. Tổng thu từ đất tăng từ 85.982 tỷ đồng năm 2015 lên 292.352 tỷ đồng năm 2024. Tiền sử dụng đất chiếm tỷ trọng lớn nhất, từ 76,38 - 82,97%, trong khi các khoản thu thường xuyên chiếm tỷ lệ thấp. Khoản thu từ đất cũng biến động khá mạnh giữa các năm, trong đó mức giảm năm 2023 và tăng trở lại năm 2024 là đáng chú ý. Kết quả phỏng vấn cho thấy chất lượng dữ liệu, thời gian cập nhật và khả năng trao đổi thông tin giữa các hệ thống vẫn là những điểm hạn chế. Nghiên cứu đề xuất giảm sự phụ thuộc vào các khoản thu một lần, củng cố nguồn thu thường xuyên và xem xét cơ chế thu hồi giá trị tăng thêm từ đất. Trong quá trình khai thác các khoản thu từ đất, chuyển đổi số có thể hỗ trợ cơ quan quản lý thông qua việc cập nhật, kết nối và khai thác dữ liệu đất đai, thông tin giá đất và nghĩa vụ tài chính, qua đó phục vụ xác định, quản lý và giám sát các khoản thu từ đất.

    DOI: https://doi.org/10.71254/en4tzg59
Xem Tất cả Các số