Khung điểm Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường

Ngày 11/7/2025, Hội đồng Giáo sư Nhà nước đã ban hành Quyết định số 26/QĐ-HĐGSNN phê duyệt Danh mục Tạp chí khoa học được tính điểm năm 2025, Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường là một trong những Tạp chí đạt điểm cao nhất trong danh mục các tạp chí khoa học được Hội đồng Giáo sư Nhà nước phê duyệt.

Tạp chí có 9 Hội đồng Giáo sư tính điểm, trong đó có: 4 Hội đồng Giáo sư ngành, liên ngành đạt điểm tối đa là 01 điểm, 3 Hội đồng Giáo sư ngành đạt 0,5 điểm; 02 Hội đồng Giáo sư ngành đạt 0,25 điểm.

Số hiện tại

Số 17 (2026)
					Xem Số 17 (2026)
Đã Xuất bản: 10-09-2026

Bài viết

  • XÁC ĐỊNH LƯỢNG PHÂN BÓN VÀ LƯỢNG HẠT GIỐNG GIEO THẲNG CHO CANH TÁC GIỐNG LÚA NGẮN NGÀY DCG66 TẠI XÃ TAM XUÂN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

    Abstract : 0 PDF: 0
    Tăng Thị Hạnh, Đinh Mai Thùy Linh, Phạm Văn Cường
    3-10

    Thí nghiệm đồng ruộng được bố trí trong vụ đông xuân và hè thu năm 2021 tại xã Tam Xuân, thành phố Đà Nẵng (trước đây là xã Tam Xuân 2, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam) nhằm xác định lượng phân bón và lượng hạt giống gieo thẳng phù hợp cho canh tác giống lúa DCG66. Thí nghiệm được bố trí theo kiểu ô lớn - ô nhỏ (split - plot), 3 lần nhắc lại, bao gồm 3 mức phân bón là 90 kg N + 68 kg P2O5 + 68 kg K2O/ha; 115 kg N + 86 kg P2O5 + 86 kg K2O/ha và 140 kg N + 105 kg P2O5 + 105 kg K2O/ha và 2 lượng hạt giống gieo thẳng là 60 và 80 kg hạt giống/ha. Kết quả cho thấy, lượng phân bón và lượng giống gieo thẳng khác nhau ảnh hưởng rõ rệt đến số nhánh/m2, chỉ số diện tích lá, số bông/m2 và năng suất thực thu của giống lúa DCG66 nhưng không ảnh hưởng đến số hạt trên bông, tỷ lệ hạt chắc và khối lượng 1.000 hạt. Lượng phân bón thích hợp cho giống lúa DCG66 là 115 kg N + 86 kg P2O5 + 86 kg K2O/ha. Lượng hạt giống gieo thẳng phù hợp trong vụ đông xuân là 60 kg hạt giống/ha/vụ, trong vụ hè thu là 80 kg hạt giống/ha/vụ.

    DOI: https://doi.org/10.71254/dh4sa217
  • XÂY DỰNG MÔ HÌNH TRỒNG THÂM CANH GIỐNG NGÔ NẾP BẢN ĐỊA BÁC ÁI MỚI CHỌN LỌC TẠI PHÍA NAM TỈNH KHÁNH HÒA

    Abstract : 0 PDF: 0
    Phạm Trung Hiếu, Nguyễn Văn Sơn, Phan Công Kiên, Trần Thị Thảo, Trịnh Thị Vân Anh
    11-19

    Xây dựng mô hình trồng thâm canh giống ngô nếp bản địa Bác Ái mới chọn lọc tại các địa phương phía Nam của tỉnh Khánh Hòa nhằm đánh giá khả năng sinh trưởng, tiềm năng cho năng suất và hiệu quả kinh tế của giống ngô nếp bản địa mới được chọn lọc, kết hợp với áp dụng các biện pháp kỹ thuật trồng thâm canh so với sản xuất đại trà sử dụng giống ngô nếp bản đại Bác Ái nguyên bản và canh tác theo phương thức truyền thống. Nghiên cứu được thực hiện trong hai vụ xuân hè và hè thu năm 2025 tại phía Nam tỉnh Khánh Hoà với quy mô 11,7 ha và 18 hộ dân tham gia (vụ xuân è quy mô 5,0 ha và 8 hộ dân tham gia; vụ hè hu quy mô 6,7 ha và 10 hộ dân tham gia). Kết quả cho thấy, mô hình sản xuất giống ngô nếp bản địa Bác Ái mới chọn lọc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới giúp cây sinh trưởng và phát triển tốt, năng suất ngô hạt trung bình đạt từ 2,80-3,22 tấn/ha, cao hơn so với sản xuất đại trà sử dụng giống ngô nếp bản địa Bác Ái nguyên bản và canh tác theo phương thức truyền thống 42,2-59,6%; lãi thuần đạt 11,81-32,55 triệu đồng/ha, cao hơn so với đối chứng 10,565-20,455 triệu đồng/ha (vượt 62,8 - 130,6%); tỷ suất lợi nhuận cận biên MBCR > 2 (MBCR = 2,08 và 2,16). Mô hình được chấp nhận cho phát triển vào sản xuất ngô nếp bản địa Bác Ái tại phía Nam tỉnh Khánh Hoà.

    DOI: https://doi.org/10.71254/jzfb7041
  • NGHIÊN CỨU BẢO QUẢN LẠNH VÀ XỬ LÝ AXIT ĐỂ TRỨNG NỞ NHÂN TẠO CỦA GIỐNG TẰM LƯỠNG HỆ TN2019

    Abstract : 0 PDF: 0
    Nguyễn Thị Thu, Phạm Thị Thơ, Nguyễn Thị Nga
    20-28

    Trứng tằm lưỡng hệ (bivoltine) có đặc tính ngủ đông (diapause), do đó cần quy trình bảo quản lạnh và xử lý axit thích hợp để điều tiết quá trình nở, đảm bảo nguồn trứng cung cấp kịp thời cho sản xuất. Nghiên cứu kỹ thuật bảo quản lạnh và xử lý axit clohydric (HCl) đối với giống tằm lưỡng hệ mới chọn tạo TN2019 ở 3 giai đoạn trứng trắng, trứng hồng và trứng đen. Trứng ở từng giai đoạn đem bảo quản ở nhiệt độ 3±0,5oC trong các khoảng thời gian khác nhau, sau đó được xử lý bằng dung dịch HCl có tỷ trọng khác nhau ở nhiệt độ 46°C trong 6 phút. Lựa chọn công thức có tỷ lệ trứng nở hữu hiệu trên 90% tiếp tục nuôi tằm kiểm định theo dõi tỷ lệ tằm giảm ở tằm con, tỷ lệ tằm sống và năng suất kén. Kết quả cho thấy, đối với trứng trắng bảo quản lạnh 10 ngày và xử lý HCl tỷ trọng 1,075 cho tỷ lệ trứng nở 95,72%, tỷ lệ tằm giảm 11,56% và năng suất kén 387 g/300 tằm tuổi 4. Đối với trứng hồng, bảo quản lạnh 50 ngày và xử lý HCl tỷ trọng 1,095 cho tỷ lệ nở 94,27%, tỷ lệ tằm giảm 9,68% và năng suất kén 387 g. Đối với trứng đen, bảo quản lạnh 100 ngày và xử lý HCl tỷ trọng 1,100 cho tỷ lệ nở 96,71%, tỷ lệ tằm giảm 8,08% và năng suất kén 390 g. Kết quả bước đầu xác định được chế độ xử lý phù hợp cho từng giai đoạn trứng TN2019, làm cơ sở hoàn thiện quy trình bảo quản lạnh và xử lý axit HCl phục vụ sản xuất trứng giống.

    DOI: https://doi.org/10.71254/zmrknq34
  • ĐÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA SÁU DÒNG ĐẬU NÀNH BC3F4 TẠI XÃ LỊCH HỘI THƯỢNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

    Abstract : 0 PDF: 0
    Nguyễn Châu Thanh Tùng, Vũ Thị Xuân Nhường, Võ Thị Phương Thảo, Ngô Thụy Diễm Trang
    29-38

    Nghiên cứu này nhằm đánh giá sinh trưởng và năng suất của 6 dòng đậu nành BC3F4 được thực hiện tại xã Lịch Hội Thượng, thành phố Cần Thơ (trước sáp nhập là xã Lịch Hội Thượng, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng). Hai giống đối chứng làm mẹ trong tổ hợp lai là MTĐ176 và MTĐ878-2; trong khi các giống làm cha mang gen chịu mặn Ncl là NILs và FH 92-1. Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 4 lần lặp lại và tổng diện tích thí nghiệm là 150 m2. Các chỉ tiêu sinh trưởng như: Chiều cao cây lúc trổ, chiều cao cây lúc chín và chiều cao đóng trái, số cành hữu hiệu và số lóng được ghi nhận ở thời điểm ra hoa và thu hoạch. Tổng số trái/cây, tổng số hạt/trái, số trái lép, khối lượng 100 hạt và năng suất hạt của các dòng đậu nành được đánh giá khi thu hoạch. Dòng 1500 có chiều cao cây lúc trổ (25,6 cm), chiều cao cây lúc chín (73,3 cm) và số lóng (13 lóng) cao nhất, trong khi có số trái lép thấp nhất (0,88 trái). Chiều cao đóng trái cao nhất ở dòng 1600-1 (12,48 cm), dòng 1400-1 và 1200-3 có số cành hữu hiệu là 3 cành. Các dòng đậu nành 1500 (3,87 tấn/ha), 1600-1 (3,74 tấn/ha), 1400-1 (3,41 tấn/ha) cao nhất, đây là những dòng đậu nành có năng suất triển vọng. Đặc biệt là dòng đậu nành 1500 có số trái lép thấp nhất và năng suất hạt cao nhất thích hợp ở điều kiện địa phương.

    DOI: https://doi.org/10.71254/src7z525
  • NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG PHEROMONE GIỚI TÍNH ĐỂ QUẢN LÝ SÂU ĐỤC QUẢ, Conogethes punctiferalis Guenée (Lepidoptera: Pyralidae) GÂY HẠI TRÊN CÂY SẦU RIÊNG TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

    Abstract : 0 PDF: 0
    Châu Nguyễn Quốc Khánh, Nguyễn Tiến Anh, Lê Nhựt Thanh, Lê Văn Vàng
    39-46

    Bẫy pheromone giới tính tổng hợp được khảo sát ở điều kiện ngoài đồng cho thấy bẫy, gồm 2 hợp chất E10-16:Ald và Z10-16:Ald với tỷ lệ 9:1 cho hiệu quả hấp dẫn ngài đực C. punctiferalis cao nhất, khác biệt so với đối chứng và cao gấp 5 lần so với bẫy chỉ chứa một thành phần E10-16:Ald. Mật độ ngài sâu đục quả C. punctiferalis hiện diện quanh năm trên các vườn sầu riêng khảo sát. Trong đó, mật độ ngài sâu đục quả tạo một cao điểm vào cuối tháng 12 dương lịch, trùng với thời gian cây ra hoa và quả non. Trên vườn sầu riêng, đặt 15 bẫy pheromone/1.000 m2, 1 mg/bẫy cho hiệu quả phòng trừ, tương đương với biện pháp xử lý thuốc theo nông dân  ở giai đoạn từ 2-3,5 tháng sau khi đặt bẫy đối với giống Ri 6 và giai đoạn từ 2,5-3 tháng sau khi đặt bẫy đối với giống khổ qua xanh.

    DOI: https://doi.org/10.71254/g1hsz858
  • PHÂN LẬP VÀ XÁC ĐỊNH CẤU TRÚC CÁC HỢP CHẤT TỪ CAO CHLOROFORM CỦA TRÁI KHẾ TÀU (Averrhoa bilimbi)

    Abstract : 0 PDF: 0
    Nguyễn Xuân Dũ, Nguyễn Thị Hoa
    47-54

    Cây khế tàu (khế kiểng, khế dưa) có tên khoa học là Averrhoa bilimbi, thuộc họ Chua me đất (Oxalidaceae). Các nghiên cứu về công dụng y học cổ truyền như trị ho, tăng cường miễn dịch, hỗ trợ giảm sốt, trị cảm và các hoạt tính kháng vi khuẩn, kháng viêm, gây độc tế bào, kháng oxy hoá… cho thấy loài Averrhoa bilimbi có giá trị kinh tế và dược học cao. Từ cao chloroform chiết xuất từ trái khế tàu, các kỹ thuật sắc ký dùng trong chiết tách, phân lập hợp chất thiên nhiên đã được áp dụng nhằm phân lập các hợp chất tinh sạch và tiến hành xác định cấu trúc hoá học bằng phổ cộng hưởng từ hạt nhân (NMR) kết hợp với khối phổ MS cũng như so sánh với tài liệu tham khảo, 6 hợp chất được đề nghị là trans-cinnamic acid (1), cucumegastigmane I (2), betulinic acid (3), stigmast-4-ene-3-one (4) và hỗn hợp hai chất stigmasterol (5), β-sitosterol (6), trong đó hợp chất cucumegastigmane (2) được phân lập lần đầu từ loài Averrhoa bilimbi.

    DOI: https://doi.org/10.71254/f2eqqa85
  • ĐÁNH GIÁ TRỮ LƯỢNG CÁC-BON RỪNG BẰNG DỮ LIỆU VIỄN THÁM ĐA NGUỒN: MỘT TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU TẠI KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN THẾ GIỚI NÚI CHÚA

    Abstract : 0 PDF: 0
    Nguyễn Viết Lương
    55-65

    Nghiên cứu này kết hợp dữ liệu khảo sát thực địa với ảnh vệ tinh Landsat 8 OLI, Sentinel-2 và ra-đa ALOS-2 PALSAR-2 nhằm đánh giá trữ lượng sinh khối, các-bon và khả năng hấp thụ CO2 của thảm thực vật tại Khu Dự trữ Sinh quyển Thế giới Núi Chúa. Các tham số tán xạ ngược và đặc trưng cấu trúc từ dữ liệu ra-đa cùng với chỉ số NDVI từ ảnh quang học được sử dụng để xây dựng mô hình ước tính sinh khối rừng. Hiệu quả các mô hình ước tính sinh khối rừng sử dụng dữ liệu ảnh vệ tinh đơn nguồn và đa nguồn được đánh giá thông qua các chỉ tiêu sai số nhằm so sánh và lựa chọn mô hình tối ưu. Kết quả cho thấy, mô hình tích hợp dữ liệu ảnh vệ tinh ALOS-2 PALSAR-2 và Sentinel-2 đạt độ chính xác trên 83%, vượt trội so với mô hình đơn nguồn nhờ khả năng kết hợp thông tin phổ và cấu trúc đối tượng. Trên cơ sở đó, bản đồ phân bố trữ lượng sinh khối của khu vực nghiên cứu được thành lập, với tổng trữ lượng các-bon rừng được ước tính khoảng 1,36 triệu tấn, tương đương khoảng 4,97 triệu tấn CO2 hấp thụ. Kết quả cho thấy, tích hợp dữ liệu viễn thám đa nguồn giúp nâng cao độ chính xác ước tính sinh khối và trữ lượng các-bon. Nghiên cứu góp phần cung cấp cơ sở khoa học phục vụ quản lý, bảo tồn tài nguyên rừng và hỗ trợ các mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính và hướng tới trung hòa các-bon.

    DOI: https://doi.org/10.71254/xpsjvr11
  • ỨNG DỤNG VIỄN THÁM, HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐỊA LÝ VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH THỨ BẬC AHP TRONG XÂY DỰNG BẢN ĐỒ TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN CÂY CÀ PHÊ CHÈ TRÊN VÙNG ĐẤT DỐC TỈNH ĐIỆN BIÊN

    Abstract : 0 PDF: 0
    Đinh Xuân Hùng, Bùi Tuấn Hải, Nguyễn Ngọc Sáng, Trần Thị Thanh Dung
    66-75

    Cà phê chè là loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao, sinh trưởng ở độ cao trên 600 m. Điện Biên là một trong những tỉnh có tiềm năng phát triển canh tác nhờ các điều kiện độ cao, thổ nhưỡng và nguồn nước thích hợp với đặc tính sinh trưởng của cây cà phê chè. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu viễn thám, công nghệ GIS và phương pháp phân tích thứ bậc AHP để xây dựng bản đồ tiềm năng phát triển cây cà phê chè từ các dữ liệu về cao độ số, thổ nhưỡng, độ dốc, mưa bình quân năm và mô đun dòng chảy bằng ma trận so sánh. Đây là hướng nghiên cứu mới giúp đánh giá tiềm năng canh tác cây cà phê chè trên địa bàn tỉnh. Kết quả cho thấy, tính logic, tin cậy của ma trận thông qua tỉ số nhất quán CR = 0,08 < 0,1 và phần lớn diện tích canh tác nông nghiệp của tỉnh Điện Biên phù hợp với cây cà phê chè với diện tích tiềm năng là 276.597 ha (28,96%), rất tiềm năng là 92.872 ha (9,72%), góp phần hỗ trợ trong công tác đánh giá, quy hoạch, chuyển đổi cơ cấu cây trồng đối với các nhà quản lý.

    DOI: https://doi.org/10.71254/zry20e39
  • SỬ DỤNG ẢNH LANDSAT TRONG PHÂN TÍCH BIẾN ĐỘNG LỚP PHỦ ĐẤT GIAI ĐOẠN 2010-2025 TẠI ĐẶC KHU PHÚ QUỐC, TỈNH AN GIANG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP SỬ DỤNG ĐẤT HIỆU QUẢ

    Abstract : 0 PDF: 0
    Nguyễn Trương Anh Kiệt, Đặng Thị Hồng Ngọc, Nguyễn Kiều Diễm, Phan Hoàng Vũ, Ngô Thị Hiểu, Bùi Xuân Khanh
    76-87

    Đặc khu Phú Quốc có tốc độ đô thị hóa và phát triển du lịch nhanh, làm gia tăng áp lực chuyển đổi lớp phủ đất. Nghiên cứu đánh giá biến động lớp phủ đất tại đặc khu Phú Quốc giai đoạn 2010-2025. Ảnh Landsat 5 và Landsat 8 được phân loại bằng Random Forest trên Google Earth Engine, tích hợp NDVI, NDBI và MNDWI. Trạng thái lớp phủ của từng pixel tại bốn thời điểm được mã hóa theo chuỗi 2010-2015-2020-2025, qua đó theo dõi trình tự biến đổi tại cùng một vị trí thay vì chỉ so sánh từng cặp thời gian. Cách tiếp cận này xác định ba dạng biến động gồm: Duy trì, chuyển đổi và phục hồi lớp phủ, đồng thời xác định số lần chuyển đổi qua ba giai đoạn. Độ chính xác tổng thể năm 2010, 2015, 2020 và 2025 lần lượt là 87,6%, 92,5%, 91,3% và 98,1%, với hệ số Kappa lần lượt 0,83; 0,89; 0,88 và 0,97. Lớp phủ rừng duy trì 27.189,57 ha, tương đương 89,17% diện tích năm 2010; đất xây dựng và thảm thực vật duy trì lần lượt 36,92% và 10,07%. Chỉ 2,96% diện tích lớp phủ rừng chuyển sang đất xây dựng vào năm 2025, trong khi khoảng 1.553,31 ha được phục hồi. Có 32.815,75 ha pixel không chuyển đổi, chiếm 57,99% diện tích tự nhiên, các pixel chuyển đổi 1-3 lần tập trung tại hành lang trung tâm - phía Tây, Nam đảo và ven biển Bắc đảo. Nghiên cứu đề xuất ưu tiên bảo vệ khu vực lớp phủ rừng ổn định, phục hồi khu vực suy giảm và chuyển đổi, đồng thời kiểm soát phát triển xây dựng tại các vùng có số lần chuyển đổi pixel cao.

    DOI: https://doi.org/10.71254/f8v7bn25
  • PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CHUYÊN NGHIỆP CỦA NÔNG DÂN TẠI XÃ THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP

    Abstract : 0 PDF: 0
    Trần Đức Luân, Trương Thị Minh Huyền
    88-96

    Nghiên cứu này cung cấp bằng chứng thực nghiệm ban đầu về các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ chuyên nghiệp của nông dân trong bối cảnh chưa có tiêu chí chính thức về nông dân chuyên nghiệp ở Việt Nam. Dữ liệu khảo sát 120 nông hộ tại xã Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp cho thấy, nông nghiệp là sinh kế chính với thu nhập bình quân 160,90 triệu đồng/hộ/năm (trồng trọt 64,3%, chăn nuôi 28,5% và khác 7,2%). Phần lớn nông dân (người đại diện nông hộ) là nam giới (85,0%), từ 50 tuổi trở lên (67,5%) và có học vấn dưới lớp 10 (62,5%). Nông dân có nhận thức tích cực về các phương diện chuyên nghiệp (4/5 điểm) nhưng tự đánh giá sự chuyên nghiệp ở mức trung bình (57/100 điểm). Kết quả hồi quy thứ bậc chỉ ra 5 yếu tố ảnh hưởng tích cực đến mức độ chuyên nghiệp của nông dân, gồm: Diện tích đất, thu nhập nông nghiệp, tập huấn kỹ thuật, tham gia thương mại điện tử, mạng xã hội; trong đó thương mại điện tử có ảnh hưởng mạnh nhất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các hàm ý chính sách nhằm thúc đẩy quá trình chuyên nghiệp hóa nông dân trong thời gian tới.

    DOI: https://doi.org/10.71254/xpjdhp51
Xem Tất cả Các số