Số 22 (2023)

					Xem Số 22 (2023)
Đã Xuất bản: 30-11-2023

Bài viết

  • ẢNH HƯỞNG CỦA NẤM RỄ NỘI CỘNG SINH VÀ KỸ THUẬT TƯỚI NƯỚC ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ MỘT SỐ CHỈ TIÊU HÓA HỌC ĐẤT TRỒNG LÚA TRONG ĐIỀU KIỆN THÍ NGHIỆM NHÀ LƯỚI

    Abstract : 15 PDF: 12
    Đỗ Thị Xuân, Nguyễn Quốc Khương, Lê Thị Hoàng Yến, Phạm Thị Hải Nghi
    3-16

    Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu đánh giá ảnh hưởng của quần thể nấm rễ nội cộng sinh (AM) và kỹ thuật quản lý nước tưới lên một số đặc tính hóa học đất và năng năng suất giống lúa OM5451 trong điều kiện thí nghiệm nhà lưới. Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với hai nhân tố, bao gồm: 5 quần thể nấm rễ AM và 2 kỹ thuật quản lý nước - ngập liên tục và khô ngập xen kẽ với tổng cộng 12 nghiệm thức (n=5). Kết quả thí nghiệm cho thấy, việc bổ sung nấm rễ AM hoặc quản lý nước tưới và sự kết hợp của nấm rễ AM, kỹ thuật quản lý nước giúp gia tăng hàm lượng các bon (3,02 - 3,98% C) và lân dễ tiêu (5,01 - 5,85 mg P/kg) so với điều kiện không chủng nấm (lần lượt 1,79% C và 4,71 mg P/kg). Từ đó, giúp cây lúa tăng trưởng về mặt hình thái thông qua chỉ tiêu chiều cao cây, số chồi, chỉ số diệp lục theo giai đoạn sinh trưởng, góp phần tăng năng suất của giống lúa OM5451 trong điều kiện nhà lưới. Trong 5 quần thể AM chủng cho lúa, quần thể VT có hiệu quả nhất trong việc hỗ trợ cây lúa gia tăng chỉ tiêu nông học và thành phần năng suất lúa, đồng thời giúp tăng sự hữu dụng của nguyên tố lân trong cả 2 kỹ thuật quản lý nước.

    DOI: https://doi.org/10.71254/xv43mq49
  • ĐA DẠNG THÀNH PHẦN LOÀI THỰC VẬT CÓ THỂ SỬ DỤNG LÀM RAU TẠI RỪNG PHÒNG HỘ CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

    Abstract : 16 PDF: 14
    Vũ Mạnh, Nguyễn Trung Đức, Vũ Trọng Hiếu, Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Thị Vân, Cao Huy Bình, Bùi Nguyễn Thế Kiệt, Trần Văn Lâm
    17-26

    Nghiên cứu thành phần loài thực vật có thể sử dụng làm rau ở Cần Giờ chủ yếu bằng phương pháp lập các tuyến khảo sát. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 44 loài, với 41 chi, thuộc 27 họ của 2 ngành thực vật bậc cao có mạch là ngành (Polypodiophyta) và ngành Ngọc lan (Magnoliophyta). Cây thân gỗ, cây bụi, cây thân bò leo (cả bò và leo) và cây thân thảo là 4 dạng sống chính của những loài thực vật này. Cây thân thảo có nhiều loài nhất (21 loài, 47,7%), tiếp đến là cây leo (10 loài, 22,7%), cây thân gỗ (8 loài, 18,2%), thấp nhất là cây bụi (5 loài, 11,4%). Tỷ lệ bắt gặp các loài rau trong các ô tiêu chuẩn là trên 50%, gồm các loài: Psychotria serpens, Sonneratia ovata, Wollastonia biflora, Dicliptera chinensis, Sauropus androgynous, Stenochlaena palustris, Coccinia grandis. 6 bộ phận chính của thực vật được sử dụng làm rau là: Lá; thân; ngọn; chồi; quả; hoa; rễ và củ. Trong đó, lá chiếm 43,75%, thân chiếm 21,87%, ngọn và chồi chiếm 17,19%, quả chiếm 7,81%, hoa chiếm 4,69%, rễ và củ chiếm 4,69%.

    DOI: https://doi.org/10.71254/h2h8c768
  • PHỔ KÝ CHỦ VÀ SỰ CHU CHUYỂN CỦA RUỒI ĐỤC QUẢ TRÊN MỘT SỐ CÂY TRỒNG CHÍNH TẠI VÙNG NAM TRUNG BỘ

    Abstract : 29 PDF: 18
    Mai Văn Hào, Nguyễn Văn Chính, Phạm Trung Hiếu, Phan Công Kiên, Võ Thị Kim Trâm
    27-33

    Qua quá trình nghiên cứu trong năm 2021 tại Nam Trung bộ, đã xác định được 32 loài cây ký chủ của Ruồi đục quả táo chính (B. dorsalisB. correcta). Trong đó, Ruồi đục quả gây hại rất phổ biến trên 9 loài cây: Nho, mận, ổi, na, mướp đắng, mướp hương, xoài, táo ta và táo dại. Ruồi đục quả gây hại ở mức phổ biến trên 6 loại cây: Dưa chuột, dưa gang, mãng cầu xiêm, thanh long, bưởi và sơ ri và 17 loại cây trồng khác. Ruồi đục quả gây hại ở mức ít phổ biến là: bầu, bí xanh, bí đỏ, dưa hấu, dưa lê, dưa chuột dại, cà chua, cà tím, điều, cam, quýt, mít, nhàu, đu đủ, khế, hồng xiêm, đậu đũa. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy rằng, ruồi đục quả B. dorsalisB. correcta  thường di chuyển từ các cây ký chủ như: Xoài, họ bầu bí (mướp hương, mướp đắng), na, thanh long, ổi sang gây hại cây táo.

    DOI: https://doi.org/10.71254/mz468k19
  • ẢNH HƯỞNG CỦA NẤM Trichoderma spp. ĐẾN ĐẶC TÍNH ĐẤT PHÈN TRỒNG KHÓM TẠI TỈNH HẬU GIANG

    Abstract : 17 PDF: 10
    Lê Thị Mỹ Thu, Trần Thị Hương Lan, Nguyễn Huỳnh Minh Anh, Lý Ngọc Thanh Xuân, Nguyễn Quốc Khương
    34-41

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng nấm Trichoderma spp. TC1, TC2, TC3 phân hủy cellulose và nấm Trichoderma sp. TF3 có khả năng đối kháng nấm Fusarium spp. đến đặc tính đất phèn trồng khóm. Thí nghiệm được bố trí khối hoàn toàn ngẫu nhiên gồm các nghiệm thức: (i) Đối chứng, bón phân theo công thức của nông dân, không bón phân hữu cơ vi sinh chứa nấm Trichoderma spp. và không phun nấm Trichoderma sp.; (ii) Bón 100% phân hóa học theo khuyến cáo và bổ sung phân hữu cơ vi sinh chứa nấm Trichoderma sp. của Trường Đại học Cần Thơ phân hủy cellulose (HCVS - ĐHCT) và phun nấm Trichoderma sp. của Trường Đại học Cần Thơ để phòng bệnh (NĐK - ĐHCT), được gọi là nấm Trichoderma đối chứng; (iii) Bón 100% phân hóa học theo khuyến cáo và bổ sung phân hữu cơ vi sinh có trên thị trường (HCVS - TT); (iv) Bón 50% N, P theo khuyến cáo kết hợp bổ sung phân hữu cơ vi sinh chứa hỗn hợp nấm Trichoderma spp. TC1, TC2, TC3 có khả năng phân hủy cellulose (HCVS - TN) và phun nấm Trichoderma sp. TF3 có khả năng đối kháng nấm Fusarium spp. (NĐK - TN); (v) Bón 75% N, P theo khuyến cáo kết hợp bổ sung HCVS - TN  và phun NĐK - TN; (vi) Bón 100% N, P theo khuyến cáo kết hợp bổ sung phân HCVS - TN và phun NĐK - TN. Kết quả cho thấy, bón phân hữu cơ chứa hỗn hợp nấm Trichoderma spp. TC1, TC2, TC3 kết hợp phun nấm Trichoderma sp. TF3 có tác dụng tăng giá trị pH của đất, hàm lượng NH4+, lân dễ tiêu, chất hữu cơ, giảm hàm lượng lân nhôm, lân sắt và Al3+.

    DOI: https://doi.org/10.71254/38vta041
  • TỐI ƯU HÓA QUÁ TRÌNH TRÍCH LY CLOROPHYLL, POLYPHENOL VÀ KHẢ NĂNG KHỬ GỐC TỰ DO DPPH TRONG MĂNG TÂY (Asparagus officinalis)

    Abstract : 11 PDF: 11
    Trần Xuân Hiển, Lê Thị Thúy Hằng
    42-50

    Các sản phẩm loại ra từ quá trình chế biến măng tây (Asparagus officinalis) - đặc biệt gốc măng tây có tiềm năng được sử dụng làm nguồn thực phẩm do chứa hàm lượng polyphenol, clorophyll và khả năng kháng oxy hóa cao. Phương pháp bề mặt đáp ứng được áp dụng để đánh giá quá trình trích ly các hợp chất có hoạt tính sinh học trong măng tây. Thiết kế Box-BehnKen với 4 điểm tâm  được sử dụng để tối ưu hóa các biến gồm: Tỷ lệ nguyên liệu/nước (g/mL), nhiệt độ (oC) và thời gian trích ly (phút). Mô hình bậc hai có ý nghĩa rất cao (p<0,05) cho các biến đáp ứng. Sau khi tối ưu hóa mô hình hồi quy đa biến, kết quả cho thấy, với tỷ lệ gốc măng tây/nước 1/4,09 g/mL; nhiệt độ trích ly 50,070C trong thời gian 20,10 phút thu nhận được hàm lượng clorophyll là 0,664 µg/g; hàm lượng polyphenol tổng số 5,75 mgGAE/g và khả năng khử gốc tự do DPPH là 83,55%. Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp dẫn liệu khoa học quý giá về măng tây, đặc biệt cho ngành công nghệ thực phẩm, nâng cao giá trị thương phẩm của măng tây.

    DOI: https://doi.org/10.71254/xkxhf988
  • ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ CHÍN MÍT THÁI (Artocarpus heterophyllus L.) VÀ THỜI GIAN CHẦN ĐẾN CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM SẤY DẺO

    Abstract : 21 PDF: 24
    Dương Thị Phượng Liên, Lê Duy Nghĩa, Phan Thị Thanh Quế, Dương Kim Thanh
    51-60

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của độ chín nguyên liệu và thời gian chần nguyên liệu đến chất lượng của sản phẩm mít sấy dẻo. Mít Thái từ vùng trồng thuộc tỉnh Hậu Giang được thu hoạch ở 90 - 105, 105 - 125 và trên 125 ngày tuổi (sau khi đậu trái). Sau khi xử lý tách múi, múi mít được chần ở 100oC trong thời gian 0 (đối chứng không chần), 2, 4 và 6 phút trước khi ngâm thẩm thấu và sấy. Sản  phẩm mít sấy dẻo được xác định độ ẩm, aw, hiệu suất thu hồi, độ cứng, hàm lượng vitamin C, polyphenol tổng số, flavonoid tổng số cùng với hoạt tính chống oxy hóa thông qua khả năng loại gốc tự do DPPH (1,1-diphenyl-2-picrylhydrazyl) và chất lượng cảm quan. Kết quả nghiên cứu cho thấy, thu hoạch mít Thái ở độ chín 105 - 125 ngày tuổi trở lên và được chần ở 100oC trong 4 phút cho sản phẩm mít sấy dẻo có chất lượng cao, thể hiện qua chất lượng cảm quan tốt, hiệu suất thu hồi cao (36,84%), có độ ẩm, aw và độ cứng thích hợp (tương ứng với 22,29%, 0,7 và 1251,33 g), đồng thời duy trì tốt tổng hàm lượng polyphenol (0,68 mg GAE/g), flavonoid (0,07 mg QE/g) và khả năng loại gốc tự do DPPH (26,86%). Sản phẩm chế biến từ mít chín hoàn toàn (trên 125 ngày) có chất lượng cảm quan và hoạt chất chống oxy hóa tương đương, song hiệu suất thu hồi thấp hơn. Kết quả nghiên cứu góp phần nâng cao giá trị sử dụng cho mít Thái khi phát triển thành sản phẩm mít sấy dẻo có chất lượng dinh dưỡng, chức năng và cảm quan tốt.

    DOI: https://doi.org/10.71254/tb8tcg23
  • NGHIÊN CỨU BỔ SUNG VI KHUẨN LACTIC LÊN MEN WHEY TRONG SẢN XUẤT ĐẬU PHỤ

    Abstract : 19 PDF: 11
    Nguyễn Thị Lâm Đoàn, Nguyễn Thị Diễm
    61-71

    Để cải thiện chất lượng cho sản phẩm đậu phụ truyền thống, nghiên cứu đã bổ sung chủng vi khuẩn lactic vào whey để lên men (tác nhân đông tụ trong sản xuất đậu phụ). Tiến hành các thí nghiệm khảo sát để xác định chủng vi khuẩn lactic, tỷ lệ bổ sung và thời gian lên men whey thích hợp cho sản xuất đậu phụ thông qua đánh giá pH, chất lượng cảm quan của dịch whey sau lên men và chất lượng dinh dưỡng, hiệu suất thu hồi của đậu phụ. Kết quả, đã xác định chủng Lactobacillus fermentum D5.5 với tỷ lệ bổ sung 3% (v/v), lên men trong 18 giờ thích hợp để tạo whey cho sản xuất đậu phụ. Sản phẩm đậu phụ tạo ra từ dịch whey có hàm lượng protein 16,18%; lipid 5,33%; hàm lượng nước 81,87%; hiệu suất thu hồi 168,67%, tổng điểm cảm quan cao nhất 18,8 điểm, đạt mức tốt. Bên cạnh đó, đậu phụ được sản xuất từ whey lên men bởi Lactobacillus fermentum D5.5 có chất lượng vi khuẩn hiếu khí tổng số tốt hơn đậu phụ được sản xuất từ whey không lên men. Thời gian bảo quản sản phẩm có thể kéo dài 15 ngày bảo quản ở điều kiện nhiệt độ 4 - 6oC.

    DOI: https://doi.org/10.71254/dzqhgb29
  • PHÂN LẬP NẤM Fusarium solani TRÊN TÔM THẺ CHÂN TRẮNG (Litopenaeus vannamei) BỊ BỆNH ĐỐM ĐEN VÀ THỬ NGHIỆM KHẢ NĂNG KHÁNG NẤM CỦA CAO CHIẾT THẢO DƯỢC

    Abstract : 25 PDF: 23
    Trương Thị Hoa, Lê Quang An, Nguyễn Văn Cường, Mai Hữu Vũ, Nguyễn Đình Mai Duyên, Hồ Ngọc Thi, Trần Nam Hà
    72-79

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm phân lập nấm Fusarium solani trên tôm thẻ chân trắng bị bệnh đốm đen và thử nghiệm khả năng kháng nấm của cao chiết bách bộ, lá vối và tía tô. Kết quả phân lập nấm từ các mẫu tôm thẻ chân trắng bị bệnh đốm đen xác định được chủng nấm Fusarium (ký hiệu Fusarium - DHNL). Kết quả định danh bằng phân tích trình tự ITS của chủng nấm Fusarium - DHNL và dựa vào cây phân loại thể hiện mối quan hệ di truyền xác định chủng nấm phân lập là Fusarium solani. Nghiên cứu khả năng kháng nấm Fusarium solani của cao chiết thảo dược cho thấy nồng độ ức chế tối thiểu của cao chiết bách bộ và lá vối đến sợi nấm Fusarium solani là 2.500 mg/L và tía tô 5.000 mg/L. Nồng độ tiêu diệt tối thiểu của cao chiết bách bộ và tía tô đến sợi nấm Fusarium solani là 2.500 mg/L và tía tô là 5.000 mg/L khi ngâm trong 12 giờ, cao chiết lá vối là 2.500 mg/L (ngâm trong 6 giờ). Nồng độ tiêu diệt tối thiểu của cao chiết bách bộ và lá vối đến bào tử nấm Fusarium solani là 2.500 mg/L (ngâm trong 24 giờ) và tía tô 5.000 mg/L (ngâm trong 24 giờ). Nghiên cứu này cho thấy, tiềm năng sử dụng cao chiết bách bộ, lá vối và tía tô để phòng trị bệnh do nấm Fusarium solani gây ra trên tôm thẻ chân trắng.

    DOI: https://doi.org/10.71254/2pv00w21
  • XÁC ĐỊNH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP CHO CÁC TIỂU VÙNG SINH THÁI NÔNG NGHIỆP CỦA HUYỆN HỒNG DÂN, TỈNH BẠC LIÊU

    Abstract : 18 PDF: 10
    Phan Chí Nguyện, Phạm Thanh Vũ, Nguyễn Quốc Khương, Trương Quốc Hưng, Võ Hoài Thơm, Lê Thị Anh Thơ
    80-90

    Nghiên cứu nhằm xác định yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp tại hai tiểu vùng sinh thái nông nghiệp của huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu. Từ đó, đề ra các chiến lược nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trong thời gian tới. Các số liệu về thống kê, kiểm kê đất đai và tình hình sản xuất nông nghiệp được thu thập. Đồng thời, 20 chuyên gia được tham vấn ý kiến nhằm xác định yếu tố và mức độ tác động của các yếu tố đến sản xuất nông nghiệp bằng phương pháp đánh giá đa tiêu chí. Kết quả cho thấy, huyện Hồng Dân có diện tích đất sản xuất nông nghiệp khoảng 39.205,5 ha. Trong đó, các loại hình sử dụng đất chủ yếu là lúa - tôm, lúa 2 vụ và cây lâu năm. Kết quả cũng đã xác định được 4 yếu tố cấp 1 và 18 yếu tố cấp 2 ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp tại hai tiểu vùng sinh thái. Trong đó, các yếu tố ảnh hưởng nhiều đến sản xuất nông nghiệp tại tiểu vùng sinh thái ngọt là lợi nhuận, thời tiết, hiệu quả đồng vốn, ngập lũ cục bộ và nguồn vốn nông hộ; đối với tiểu vùng sinh thái lợ là lợi nhuận, nguồn vốn nông hộ, chi phí đầu tư, hiệu quả đồng vốn và chính sách hỗ trợ vốn của địa phương. Qua đó, đã đề xuất 4 nhóm giải pháp về tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp trong thời gian tới tại hai tiểu vùng sinh thái. Trong đó, cần ưu tiên thực hiện các giải pháp về liên kết tiêu thụ sản phẩm, hoàn thiện hệ thống công trình phục vụ sản xuất nông nghiệp và chính sách hỗ trợ vốn cho người dân.

    DOI: https://doi.org/10.71254/sqf69y76
  • ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN SINH KẾ HỘ GIA ĐÌNH Ở HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN

    Abstract : 13 PDF: 11
    Đỗ Thị Ngọc Thúy, Vũ Thị Hoài Thu
    91-100

    Sinh kế của các hộ gia đình đặc biệt dễ bị tổn thương trước các tác động ngày càng tăng của biến đổi khí hậu. Đánh giá tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu đến sinh kế hộ gia đình sẽ giúp xác định các chiến lược sinh kế thích ứng phù hợp nhằm cân bằng giữa rủi ro và cơ hội để giúp các hộ gia đình có thể tiếp tục phát triển mà vẫn đảm bảo khả năng chống chịu trước các rủi ro từ khí hậu. Bài viết này kết hợp nghiên cứu định tính và định lượng qua việc vận dụng chỉ số LVI (chỉ số tổn thương sinh kế) để đánh giá tính dễ bị tổn thương của 6 hoạt động sinh kế phổ biến ở huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Dựa vào 3 yếu tố cấu thành tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu là tính phơi nhiễm, tính nhạy cảm và năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu, nghiên cứu đã chỉ ra hoạt động sinh kế nghề cá và hoạt động chăn nuôi tại hộ gia đình có mức độ tổn thương lớn nhất dưới tác động của biến đổi khí hậu ở các khía cạnh tính phơi lộ và tính nhạy cảm. Đồng thời, nghiên cứu đề xuất một số hoạt động sinh kế mới gồm thay đổi kỹ thuật canh tác trồng cây rau màu theo hướng hữu cơ, nghề nuôi biển và tham gia kinh doanh hàng hóa nông sản trên sàn thương mại điện tử nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu ở huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

    DOI: https://doi.org/10.71254/nccq1k75