Số 21 (2023)

					Xem Số 21 (2023)
Đã Xuất bản: 15-11-2023

Bài viết

  • SÀNG LỌC NGUỒN GEN LÚA ĐỊA PHƯƠNG CÓ KHẢ NĂNG MANG GEN KHÁNG ĐẠO ÔN, RẦY NÂU, BẠC LÁ BẰNG CHỈ THỊ PHÂN TỬ LIÊN KẾT VỚI GEN MỤC TIÊU

    Abstract : 16 PDF: 8
    Hoàng Thị Huệ, Hà Minh Loan, Lê Thị Thu Trang, Đàm Thị Thu Hà, Lã Tuấn Nghĩa
    3-14

    Nghiên cứu đã sử dụng chỉ thị SSR liên kết với gen kháng đạo ôn, rầy nâu, bạc lá để bước đầu sàng lọc khả năng mang gen kháng của 90 nguồn gen lúa địa phương. Kết quả khảo sát cho thấy, 2 chỉ thị RM1337 và RM7012 liên kết chặt với gen kháng đạo ôn Pi20(t)Pita có khả năng phân biệt đa hình giữa các giống lúa sử dụng trong nghiên cứu; hai chỉ thị RM119 và RM6997 liên kết với gen kháng rầy nâu Bph6 cho băng ADN đa hình, có khả năng phân biệt giữa các mẫu giống và giữa mẫu giống nghiên cứu với giống đối chứng. Chỉ thị RM20590 liên kết chặt với gen kháng bạc lá Xa7 cho kết quả đa hình rõ rệt giữa các mẫu giống nghiên cứu với giống đối chứng. Trong tổng số 90 mẫu giống, nghiên cứu đã xác định được 27 mẫu giống có khả năng mang gen kháng, trong đó: 11 mẫu giống có khả năng mang gen kháng đạo ôn; 9 mẫu giống có khả năng mang gen kháng rầy nâu; 3 mẫu giống có khả năng mang gen kháng bạc lá và đặc biệt có 3 mẫu giống mang 2 gen kháng như B’le la (SĐK 2629) có khả năng mang gen kháng đạo ôn Pita và bạc lá Xa7; Bao thai hồng (SĐK 7313), IR 504 mười lù (SĐK 12106) có khả năng mang gen kháng đạo ôn Pita, Pi20(t) và rầy nâu Bph6; riêng mẫu giống Ble mùa chua (SĐK 12383) có khả năng mang cả 3 gen kháng đạo ôn Pi20(t), rầy nâu Bph6 và bạc lá Xa7. Các thí nghiệm đánh giá kiểu hình tính kháng và phân tích kiểu gen sẽ tiếp tục được tiến hành để xác định chính xác sự có mặt của các gen kháng trong các mẫu giống lúa địa phương nghiên cứu.

    DOI: https://doi.org/10.71254/jvsjj403
  • NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA VẬT LIỆU TỦ GỐC ĐẾN SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG NGUYÊN LIỆU GIỐNG CHÈ VN15 CHO CHẾ BIẾN CHÈ XANH ĐẶC SẢN TẠI TUYÊN QUANG

    Abstract : 10 PDF: 8
    Nguyễn Văn Toàn, Nguyễn Ngọc Bình, Vũ Ngọc Tú, Lê Thế Tùng, Nguyễn Thị Kiều Ngọc, Nguyễn Thị Hồng Lam, Nguyễn Mạnh Hà, Trần Xuân Hoàng
    15-22

    Nghiên cứu ảnh hưởng của vật liệu tủ gốc đến sinh trưởng, năng suất, chất lượng nguyên liệu giống chè VN15 để sản xuất nguyên liệu chế biến chè xanh đặc sản tại tỉnh Tuyên Quang cho thấy, các công thức (CT) với vật liệu tủ gốc cho nương chè khác nhau như: Không tủ (CT1), tủ rơm rạ dày 20 cm (CT2), tủ xác cốt khí + rơm rạ dày 20 cm (CT3), tủ tế guột dày 20 cm (CT4) đã ảnh hưởng đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng nguyên liệu. CT4 cho năng suất đạt cao nhất là 10,35 tấn/ha và ít bị sâu hại. Tỷ lệ bánh tẻ giữa các công thức tủ gốc của giống VN15 có xu hướng tăng dần từ CT1, tiếp đến CT3, CT2, CT4. Khi tủ gốc cho chè bằng CT4 thì hàm lượng tanin đạt thấp nhất; hàm lượng chất hòa tan, đường khử, axit amin, hợp chất thơm cao hơn so với CT2, CT3, CT1. Điểm thử nếm cảm quan sản phẩm chè đặc sản của giống chè VN15 ở CT4 đạt điểm thử nếm cảm quan cao nhất 16,97 điểm so với công thức còn lại.

    DOI: https://doi.org/10.71254/q9s3c756
  • THỰC TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT CỦA MỘT SỐ CƠ CẤU CÂY TRỒNG TRÊN VÙNG ĐẤT LÚA CÓ NGUY CƠ THIẾU NƯỚC TẠI HUYỆN TÁNH LINH VÀ ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

    Abstract : 14 PDF: 9
    Phan Công Kiên, Phan Văn Tiêu, Phạm Văn Phước, Võ Minh Thư, Đỗ Tỵ, Nguyễn Thị Liễu, Đoàn Thanh Mạnh, Nguyễn Đức Xuân Chương, Hồ Thị Xuân Quỳnh
    23-35

    Đánh giá thực trạng sản xuất và thử nghiệm một số cơ cấu cây trồng trên vùng đất lúa có nguy cơ thiếu nước tại huyện Tánh Linh và Đức Linh, tỉnh Bình Thuận trong điều kiện biến đổi khí hậu là rất cần thiết. Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp điều tra khảo sát và thực nghiệm mô hình, thời gian nghiên cứu từ năm 2020 - 2022. Kết quả cho thấy, cơ cấu cây trồng ở vụ đông xuân phong phú: Cây trồng cạn (ngô, dưa hấu, ớt, lạc, rau các loại, khoai lang, cỏ chăn nuôi) chiếm diện tích từ 80 - 89,2%, cây lúa chiếm 10,8 - 20,0%; vụ hè thu và vụ mùa cây lúa chiếm diện tích chủ yếu, từ 64,0 - 70,8% ở vụ hè thu và 76,9 - 80,0% ở vụ mùa. Kết quả thực nghiệm đã xác định một số cơ cấu cây trồng cạn ngắn ngày trên vùng đất lúa có nguy cơ thiếu nước đạt hiệu quả và có thị trường tiêu thụ lớn, gồm: Cây ngô - khoai lang - cây lúa; lạc - ngô lai - cây lúa; cây ớt (7 tháng) - cây lúa đạt hiệu quả sản xuất từ 61,2 - 101,4 triệu đồng/ha/3 vụ, vượt so với đối chứng (3 vụ lúa) từ 31,6 - 126,1% ở cả 2 vùng Tánh Linh và Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

    DOI: https://doi.org/10.71254/sc2xcq41
  • ẢNH HƯỞNG CỦA KALI CUNG CẤP TỪ ĐẤT VÀ PHÂN KALI ĐẾN NĂNG SUẤT BƯỞI NĂM ROI TRÊN ĐẤT PHÙ SA LÊN LIẾP

    Abstract : 17 PDF: 10
    Trần Hoàng Em, Ngô Phương Ngọc, Lê Ngọc Quỳnh, Ngô Ngọc Hưng
    36-43

    Kali (K) là một trong số nguyên tố khoáng quan trọng nhất để nâng cao năng suất và chất lượng trái của cây có múi. Kết quả điều tra về lượng bón K cho cây bưởi Năm Roi ở tỉnh Hậu Giang cho thấy, lượng bón phân K rất khác biệt giữa các nhà vườn. Nghiên cứu nhằm đánh giá ảnh hưởng của việc bón phân K đến khả năng cung cấp K từ đất và cây hấp thu K đến năng suất trái bưởi Năm Roi trồng tại huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang. Thí nghiệm trên đất liếp trồng bưởi với 3 lần lặp lại, thực hiện trên 2 nghiệm thức (0,671 N - 0,384 P2O5 - 0,223 K2O và 0,671 N - 0,384 P2O5 - 0,00 K2O kg/cây/năm). Kết quả cho thấy, năng suất bưởi có tương quan thuận với lượng K hấp thu được trong cây bưởi. Bón phân K đã góp phần gia tăng sinh khối, hàm lượng K trong các bộ phận và năng suất trái. Với khả năng cung cấp K từ đất là 59,1% thì năng suất trái ở 5 năm tuổi chỉ đạt 7,16 tấn/ha khi không bón K; tuy nhiên, năng suất đạt được 12,0 tấn/ha khi bón 60 kg K2O/ha. Cần nghiên cứu nâng cao hiệu quả sử dụng phân K liên quan đến khả năng cung cấp K từ đất cho cây bưởi tại huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.

    DOI: https://doi.org/10.71254/kafhr925
  • ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ĐỐI KHÁNG CỦA CÁC CHỦNG XẠ KHUẨN ĐỐI VỚI VI KHUẨN Dickeya fangzhongdai GÂY BỆNH THỐI TRÁI MÍT SIÊU SỚM

    Abstract : 12 PDF: 14
    Lê Minh Tường, Đinh Hoàng Kha, Nguyễn Văn Tập, Lý Hùng
    44-52

    Nghiên cứu được thực hiện trong điều kiện Phòng thí nghiệm Bệnh cây thuộc Trường Nông nghiệp, Trường Đại học Cần Thơ nhằm tìm ra chủng xạ khuẩn có khả năng đối kháng cao với vi khuẩn Dickeya fangzhongdai gây bệnh thối trái mít siêu sớm. Khả năng đối kháng của 26 chủng xạ khuẩn đối với vi khuẩn D. fangzhongdai được thực hiện với 5 lần lặp lại. Kết quả cho thấy, 4 chủng CL-TG18, CL-TG24, TP-TG6 và CB-TG29 thể hiện khả năng đối kháng với vi khuẩn D. fangzhongdai cao nhất với bán kính vòng vô khuẩn (BKVVK) lần lượt là: 2,54 mm; 2,85 mm; 2,41 mm; 2,17 mm ở thời điểm 7 ngày sau khi bố trí thí nghiệm (NSBT). Khả năng ức chế sự gia tăng mật số vi khuẩn của 4 chủng: CL-TG18, CL-TG24, TP-TG6 và CB-TG29 được thực hiện với 5 lần lặp lại. Kết quả cho thấy, chủng CL-TG18 vẫn thể hiện khả năng ức chế sự gia tăng mật số vi khuẩn D. fangzhongdai cao nhất với log mật số vi khuẩn hình thành thấp nhất là 8,24 log CFU/ml ở thời điểm 48 giờ sau khi bố trí thí nghiệm. Bên cạnh đó, khả năng tiết enzyme protease phân giải protein của 4 chủng: CL-TG18, CL-TG24, TP-TG6 và CB-TG29 cũng được thực hiện với 5 lần lặp lại. Kết quả cho thấy, 2 chủng xạ khuẩn: CL-TG18 và CL-TG24 cho khả năng tiết enzyme protease phân giải protein cao nhất với bán kính vòng phân giải lớn nhất lần lượt là: 19,70 mm và 20,20 mm ở thời điểm 9 NSBT. Mặt khác, khả năng tiết enzyme lipase phân giải lipid của 4 chủng xạ khuẩn trên cũng được thực hiện với 5 lần lặp lại. Kết quả cho thấy, 2 chủng: CL-TG18 và CL-TG24 cho khả năng tiết enzyme lipase cao nhất với bán kính vòng phân giải lipid lớn nhất lần lượt là 14,29 mm và 14,40 mm ở thời điểm 9 NSBT.

    DOI: https://doi.org/10.71254/rs7v6n07
  • ẢNH HƯỞNG CỦA KỸ THUẬT THU HOẠCH, SƠ CHẾ VÀ BẢO QUẢN ĐẾN DƯỢC LIỆU MẬT NHÂN (Eurycoma longofilia Jack)

    Abstract : 20 PDF: 9
    Trần Thị Thúy Hằng
    53-61

    Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của biện pháp kỹ thuật thu hoạch, sơ chế và bảo quản đến hàm lượng eurycomanone và eurycomanol trong các mẫu rễ Mật nhân (Eurycoma longofilia Jack) thu hái tại huyện K’Bang và thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Kết quả thu được cho thấy, Mật nhân có độ tuổi thu hái càng cao thì hàm lượng dược chất eurycomanone và eurycomanol càng tăng. Thời vụ thu hoạch rễ Mật nhân trước mùa mưa và cuối mùa khô đem lại hàm lượng eurycomanon và eurycomanol cao nhất. Chiết xuất hàm lượng dược chất eurycomanone nên ưu tiên phương pháp sấy lạnh ở nhiệt độ 400C. Chiết xuất hàm lượng dược chất eurycomanol nên ưu tiên phương pháp sấy nóng ở nhiệt độ 700C. Hàm lượng dược chất eurycomanone và eurycomanol có xu hướng giảm theo thời gian bảo quản. Do đó, hạn chế bảo quản dược liệu Mật nhân trong thời gian dài, không nên quá 12 tháng. Kết quả này nhằm nâng cao hiệu quả tổng hợp các hợp chất thứ cấp có nguồn gốc từ dược liệu Mật nhân trong sản xuất các sản phẩm thảo dược.

    DOI: https://doi.org/10.71254/35788h35
  • ĐÁNH GIÁ VỀ SẢN XUẤT TÔM - LÚA LUÂN CANH Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

    Abstract : 14 PDF: 13
    Ngô Tiến Chương, Đỗ Quang Trung, Trần Ngọc Hải, Huỳnh Trường Giang, Hồ Minh Phong
    62-69

    Mô hình nuôi tôm - lúa luân canh phát triển mạnh mẽ tại Việt Nam trong những năm gần đây. Đây là một phương pháp kết hợp nuôi tôm và trồng lúa trong cùng một khu vực, tận dụng các nguồn tài nguyên, tạo ra một hệ thống nuôi trồng bền vững, mang lại nhiều lợi ích kinh tế và môi trường. Một trong những điểm đáng chú ý của sự phát triển này là sự gia tăng về quy mô sản xuất. Điều đó chứng tỏ tiềm năng và tầm quan trọng của mô hình luân canh tôm - lúa trong việc phát triển bền vững ngành nông nghiệp. Ngoài ra, các đặc điểm môi trường, kỹ thuật và hiệu quả kinh tế của mô hình từ năm 2011 - 2020 đã được đánh giá dựa trên các nghiên cứu trước đây để đưa ra những nhận định phân tích và đề xuất các hướng nghiên cứu tiếp theo.

    DOI: https://doi.org/10.71254/2pkvqt94
  • THÀNH PHẦN DINH DƯỠNG CỦA CÁ BỐNG THỆ (Oxyurichthys ophthalmonema) VÙNG ĐẦM PHÁ TAM GIANG – CẦU HAI, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

    Abstract : 13 PDF: 10
    Đinh Thị Hà, Phạm Văn Chiến, Nguyễn Đức Thế, Đặng Đỗ Hùng Việt, Nguyễn Xuân Thành, Nguyễn Văn Quân
    70-78

    Cá Bống thệ (Oxyurichthys ophthalmonema) là loài cá rất thơm ngon và được coi là một loài hải sản quý, hiếm, giàu dinh dưỡng, có giá trị kinh tế sinh sống trong hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai, tỉnh Thừa Thiên Huế. Nghiên cứu này đã đánh giá và minh chứng giá trị dinh dưỡng của loài cá Bống thệ dựa trên các cơ sở khoa học về hàm lượng đạm thô, hàm lượng lipid, tro, độ ẩm, thành phần và hàm lượng axit amin có trong thịt thuộc 3 quần đàn ở vùng đầm phá Tam Giang – Cầu Hai trong mùa khô (tháng 4/2021) và mùa mưa (tháng 10/2021). Mẫu thu tại Tam Giang có hàm lượng đạm thô cao nhất, chiếm 14,50 ± 0,12% vào mùa khô và 15,70 ± 0,09% vào mùa mưa. Hàm lượng lipid vào mùa khô cao hơn khoảng 2 lần so với mùa mưa; trong khi đó hàm lượng tro vào mùa khô (4,20 ± 0,02% - 5,00 ± 0,01%) thấp hơn đáng kể so với mùa mưa (6,30 ± 0,05% - 6,70 ± 0,03%) ở cả ba điểm thu mẫu là: Tam Giang, Thuận An và Cầu Hai; độ ẩm trong khoảng 75,90 ± 0,01% - 79,10 ± 0,02%). Thành phần axit amin trong tất cả các mẫu nghiên cứu đều có chứa 16 loại axit amin khác nhau, bao gồm: 9 loại axit amin thiết yếu và 7 loại axit amin không thiết yếu. Có sự khác nhau về hàm lượng các axit amin trong thịt cá được thu tại các địa điểm và thời gian khác nhau. Hàm lượng axit amin và chỉ số axit amin lưu huỳnh quan trọng (methionine/TSAA) cho thấy, vào mùa khô cá Bống thệ sống ở khu vực cửa Thuận An nơi có môi trường nước lợ (độ muối 16,33 ± 0,4‰) cho chất lượng thịt tốt hơn so với cá sống ở môi trường nước mặn ở Cầu Hai (độ muối 30,67 ± 0,58‰) và nước ngọt ở Tam Giang (độ muối 6,00 ± 1,0‰). Tuy nhiên, vào mùa mưa, khi các môi trường đều bị ngọt hóa thì cá sống ở khu vực Tam Giang lại cho chất lượng tốt nhất.

    DOI: https://doi.org/10.71254/ce2m5g41
  • NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI ỐC TRONG RUỘNG LÚA VÀ CERCARIAE TRÊN ỐC Ở HUYỆN ĐỨC HUỆ, TỈNH LONG AN

    Abstract : 9 PDF: 10
    Nguyễn Thị Thanh Xuân, Nguyễn Hoàng Thạch Thảo, Phạm Cử Thiện
    79-84

    Nghiên cứu thành phần loài ốc và cercariae trên ốc trong ruộng lúa ở huyện Đức Huệ, tỉnh Long An được thực hiện trong tháng 10/2022 (mùa mưa) và tháng 2/2023 (mùa khô). Kết quả phân loại 2.461 con ốc bằng phương pháp hình thái cho thấy, có 8 loài ốc thuộc 7 giống, 6 họ gồm: Melanoides tuberculata, Filopaludina sumatrensis, Sinotaia aeruginosa, Pomacea bridgesi, Pomacea canaliculate, Lymnaea viridis, Gyraulus convexiusculus, Bithynia siamensis. Các loài ốc nhiễm cercariae của sán lá song chủ là Bithynia siamensis (31,5%), Sinotoia aeruginosa (1,6%), Filopaludina sumatrensis (1,2%), Gyraulus convexiusculu (0,8%). Tỉ lệ nhiễm sán lá song chủ trên ốc trong mùa khô là 4,65%, cao hơn mùa mưa là 0,25% (P<0,05). Các nhóm cercariae tìm được gồm có: Xiphidio cercariae, echinostome cercariae, pleurolophocercous cercariae. Kết quả cung cấp thông tin về đa dạng thành phần loài ốc và tỉ lệ nhiễm cercariae trên ốc trong ruộng lúa ở huyện Đức Huệ, tỉnh Long An, góp phần bảo vệ đa dạng sinh học và phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững, bảo vệ sức khoẻ con người.

    DOI: https://doi.org/10.71254/d263t683
  • KHAI THÁC NƯỚC MƯA, NƯỚC MẶT KHÔNG NHIỄM MẶN TRONG CẤP NƯỚC SINH HOẠT NÔNG THÔN QUY MÔ HỘ GIA ĐÌNH Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

    Abstract : 16 PDF: 11
    Nguyễn Văn Tỉnh, Đào Thu Thủy, Nguyễn Thị Vân Anh
    85-91

    Trong bối cảnh ảnh hưởng của biến đổi khí hậu (BĐKH) đến cấp nước sinh hoạt tại vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), việc chủ động thu, trữ và xử lý nước mưa, nước mặt không nhiễm mặn tại hộ gia đình là rất cần thiết. Qua khảo sát, đánh giá thực tế ở những khu vực chưa có công trình cấp nước tập trung, các hộ gia đình nông thôn vùng ĐBSCL đã và đang sử dụng nước mưa, nước mặt làm nguồn nước sinh hoạt, tuy nhiên do điều kiện tập quán, thói quen và điều kiện thời tiết, người dân chủ yếu thu, trữ, sử dụng nguồn nước theo mùa với dung tích trữ nhỏ, xử lý sơ sài hoặc không qua xử lý nên chất lượng nước sinh hoạt chưa đảm bảo vệ sinh theo quy chuẩn của Bộ Y tế, đặc biệt ở những hộ gia đình sống xa khu dân cư tập trung, vào mùa khô hạn, các hộ thường xuyên phải mua nước ngọt giá cao lên tới 80.000 - 120.000 đồng/m3. Trên cơ sở khoa học và nghiên cứu ứng dụng về thu, trữ, xử lý nước cấp phục vụ sinh hoạt quy mô hộ gia đình đã tổng hợp và đưa ra một số đánh giá về hiện trạng công tác thu, trữ, xử lý nước hiện nay tại khu vực nông thôn vùng ĐBSCL.

    DOI: https://doi.org/10.71254/tasff270
  • ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN QUY HOẠCH, KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT THỊ XÃ DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM

    Abstract : 14 PDF: 13
    Trần Thị Bình, Trần Trọng Phương, Trần Trọng Nam
    92-100

    Nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (KHSDĐ) thị xã Duy Tiên trong giai đoạn 2011 - 2020. Các phương pháp nghiên cứu sử dụng là: Điều tra số liệu thứ cấp, điều tra sơ cấp, đánh giá theo thang đo 5 cấp của Likert, đánh giá theo độ lệch giữa kế hoạch và thực hiện quy hoạch, KHSDĐ của thị xã. Kết quả cho thấy, trong giai đoạn 2011 - 2020 tại thị xã Duy Tiên thực hiện quy hoạch, KHSDĐ theo các phương án: (1) Quy hoạch sử dụng đất được phê duyệt tại Quyết định số 30/2013/QĐ-UBND ngày 13/6/2013; (2) Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 1748/QĐ-UBND ngày 28/9/2018; (3) KHSDĐ năm 2021 tại Quyết định số 568/QĐ-UBND ngày 5/4/2021; (4) KHSDĐ năm 2022 tại Quyết định số 724/QĐ-UBND ngày 26/5/2022. Trong tổng số 92 chỉ tiêu sử dụng đất (SDĐ) có 41 chỉ tiêu, chiếm 44,57%, đạt mức thực hiện rất cao (|d| <10% so với kế hoạch). Bao gồm 17 chỉ tiêu đất nông nghiệp, 22 chỉ tiêu đất phi nông nghiệp và 2 chỉ tiêu đất chưa sử dụng. Điều đó phản ánh thực tế là các chỉ tiêu SDĐ nông nghiệp về cơ bản đã bám sát nhu cầu của địa phương. Có 21 chỉ tiêu SDĐ (chiếm 22,83%) thực hiện ở mức rất kém (|d| >40% so với kế hoạch). Để nâng cao hiệu quả thực hiện quy hoạch, KHSDĐ cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau: Nâng cao chất lượng phương án quy hoạch, KHSDĐ; huy động vốn đầu tư; khai thác và sử dụng hiệu quả quỹ đất; tăng cường quản lý thực hiện quy hoạch, KHSDĐ.

    DOI: https://doi.org/10.71254/0p3sb675