Số 12 (2023)
Bài viết
-
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG CHỊU MẶN CỦA MỘT SỐ GIỐNG ĐẬU TƯƠNG TRIỂN VỌNG Ở GIAI ĐOẠN CÂY CON TRONG ĐIỀU KIỆN THỦY CANH
Abstract : 36 PDF: 17Nghiên cứu thực hiện nhằm đánh giá khả năng chống chịu mặn NaCl của 3 giống đậu tương DT 99, AGS 299 và MTĐ 305 trồng trong dung dịch dinh dưỡng bằng phương pháp thủy canh theo công thức Hoagland với nồng độ 1/2 dung dịch chuẩn là nghiệm thức đối chứng (0 mM NaCl) và nghiệm thức mặn bổ sung NaCl với 4 mức mặn 80, 120, 160, 200 mM NaCl. Thí nghiệm được bố trí theo thể thức 2 nhân tố (nồng độ mặn và giống) hoàn toàn ngẫu nhiên với 4 lần lặp lại. Các chỉ tiêu sinh trưởng, sinh khối, chỉ số cháy lá (LSS) và hàm lượng diệp lục (SPAD) trong lá được đánh giá ở 2 thời điểm sau 7 và 14 ngày xử lý mặn (NXLM). Mặn NaCl làm giảm sinh trưởng, sinh khối và hàm lượng diệp lục trong lá, nhưng làm tăng chỉ số cháy lá. Giống DT 99 và MTĐ 305 có chỉ số chống chịu mặn (STI) cao nhất và hai giống này có thể chịu mặn ở nồng độ 160 mM NaCl trong 14 ngày tiếp xúc mặn liên tục. Hai giống MTĐ 305 và DT 99 được chọn và có thể tiếp tục đánh giá khả năng chịu mặn đến giai đoạn cho quả để có thể đề xuất đưa vào bộ giống chịu mặn phục vụ công tác chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong mùa khô hạn mặn.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ TRỒNG ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CÂY Ý DĨ (Coix lacryma- jobi L.) TẠI TỈNH SƠN LA
Abstract : 29 PDF: 13Nghiên cứu được thực hiện tại tỉnh Sơn La năm 2022 nhằm xác định được mật độ trồng cây ý dĩ phù hợp nhất, có ý nghĩa quan trọng trong hoàn thiện kỹ thuật trồng trọt đối với cây ý dĩ. Thí nghiệm bố trí theo kiểu RCB, 3 lần nhắc lại, gồm 6 công thức được tổ hợp từ hai nhân tố khoảng cách trồng: Khoảng cách hàng gồm 2 mức là 40 cm và 50 cm; khoảng cách cây gồm 3 mức là 15 cm, 20 cm và 25 cm. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Các mật độ trồng không ảnh hưởng đến thời gian sinh trưởng nhưng có ảnh hưởng đến một số chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển và năng suất cây ý dĩ. Trong đó: Trồng với mật độ 10 vạn cây/ha (công thức 3, công thức 5) và mật độ 8 vạn cây/ha (công thức 6) có chiều cao cây, số lá trên thân chính, số nhánh đạt cao hơn; trồng với mật độ 8 vạn cây/ha có năng suất cá thể đạt cao nhất (33,21 g), trồng với mật độ 10 vạn cây/ha (khoảng cách 20 x 50 cm) có năng suất lí thuyết cao nhất (2,97 tấn/ha) và năng suất thực thu đạt cao nhất (2,68 tấn/ha). Các công thức trồng ở mật độ cao hơn có mức độ bị hại bởi sâu đục thân, sâu cuốn lá, bệnh đốm lá lớn hơn.
-
NHÂN GIỐNG EX VITRO CÂY BÍ KỲ NAM (Hydnophytum formicarum Jack) TẠI TỈNH KIÊN GIANG
Abstract : 18 PDF: 10Bí kỳ nam là loài thực vật nằm trong danh mục bảo tồn gen thuộc nhóm nguy cấp (EN) tại Việt Nam. Cây giống chỉ được tái sinh do sự nảy mầm từ hạt khi cây mẹ ra hoa, tạo quả và phát tán trong rừng. Hạt Bí kỳ nam trong tự nhiên có tỷ lệ nảy mầm rất thấp và khó thu hái (vì hạt nhỏ và sống trên cây chủ, cách xa mặt đất) nên việc nhân giống nhân tạo từ hạt không hiệu quả. Nhân giống cây Bí kỳ nam phục vụ công tác bảo tồn gen chuyển vị cũng như cung cấp cây giống cho các vườn cây thuốc trong và ngoài tỉnh là yêu cầu được đặt ra. Kết quả nghiên cứu cho thấy, giá thể H3 (30% xơ dừa, 30% phân trùn quế, 40% đá perlite) có tỷ lệ sống sau 30 ngày theo dõi của chồi ngọn là 56,67%, mẫu cành Bí kỳ nam là 80%. Chất kích thích ra rễ là IAA ở nồng độ 1.000 µg/L cho kết quả tỷ lệ ra rễ là 56,67% sau 180 ngày. Nghiên cứu đã nhân giống Bí kỳ nam ex vitro thành công với tỷ lệ cao góp phần cung cấp cây giống dược liệu quý để trồng chuyển vị phục vụ công tác bảo tồn gen cây Bí kỳ nam, tiến tới trồng bảo tồn ngay trong điều kiện tự nhiên.
-
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI CỦA CÂY ĐÀO CHUÔNG (Enkianthus quinqueflorus Lour.) Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Abstract : 24 PDF: 7Đào chuông (Enkianthus quinqueflorus Lour.) là một loài thực vật có hoa thuộc họ Đỗ quyên (Ericaceae), được ghi nhận có phân bố tự nhiên tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên (BTTN) Bà Nà - Núi Chúa. Do được xếp vào loài hiếm trong Sách Đỏ Việt Nam, nên Đào chuông cần được nghiên cứu sâu hơn về đánh giá quần thể và nhân giống phục vụ công tác bảo tồn. Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định các đặc điểm sinh thái, sinh học của cây Đào chuông và mối quan hệ sinh thái giữa loài cây Đào chuông và các loài khác trong cùng khu vực; đánh giá đặc điểm tính chất môi trường đất tại khu vực phân bố Đào chuông. Kết quả cho thấy, Đào chuông có những đặc điểm sinh học đặc trưng như hoa hình chuông, mọc chúc xuống dưới, ra hoa tập trung từ tháng 1 đến tháng 3 và đậu quả kết hạt cho đến tháng 5. Loài này thường mọc dưới tán rừng thưa, dọc đường đi trên các vách núi, khả năng hỗn giao với các loài khác là rất lớn. Môi trường đất tại khu vực cây Đào chuông sinh trưởng được khảo sát có tính chua, hàm lượng nitơ tổng số, lân dễ tiêu, lân tổng số và kali dễ tiêu ở mức nghèo, riêng hàm lượng nitơ dễ tiêu ở mức giàu, thành phần cấp hạt (Sét vật lý <0,02 mm) nằm ở mức độ trung bình.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT ĐIỀU HÒA SINH TRƯỞNG (IBA, BIMIX, N3M) ĐẾN KHẢ NĂNG NHÂN GIỐNG TRÀ HOA VÀNG (Camellia sp.) TẠI HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI
Abstract : 25 PDF: 11Nghiên cứu nhằm xác định ảnh hưởng của ba chất điều hòa sinh trưởng: IBA, Bimix, N3M đến khả năng nhân giống hom của cây Trà hoa vàng (Camellia sp.) từ năm 2019 - 2020 tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh và đánh giá ảnh hưởng của riêng từng chất điều hòa sinh trưởng (ĐHST) đến khả năng nhân giống trà hoa vàng ở các nồng độ khác nhau. Kết quả cho thấy việc xử lý hom giâm bằng IBA và Bimix với nồng độ 50, 100 và 150 ppm trong thời gian 30 phút đều làm tăng hiệu quả giâm hom so với không xử lý. Trong đó, công thức xử lý nồng độ 150 ppm cho tỷ lệ cây đủ tiêu chuẩn xuất vườn cao nhất tương ứng 72,0% và 78,7%, mỗi cây giống xuất vườn có trung bình 4,9 và 5,4 rễ cấp 1; 1,93 và 2,07 chồi; chiều cao cây đạt trung bình 23,95 cm và 27,48 cm. Đối với xử lý hom giâm bằng N3M với nồng độ 60, 80 và 100 ppm trong thời gian 30 phút đều làm tăng hiệu quả giâm hom so với không xử lý. Trong đó công thức xử lý nồng độ 100 ppm có tỷ lệ cây đạt tiêu chuẩn xuất vườn cao nhất là 67,33%, mỗi cây có trung bình 5,37 rễ cấp 1 và 1,90 chồi, chiều cao cây đạt 22,46 cm.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA GIÁ THỂ, GA3 VÀ CHẾ ĐỘ NHIỆT ĐỘ NGÀY/ĐÊM ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA CÂY LAN KIẾM MẶC BIÊN (Cymbidium sinense)
Abstract : 19 PDF: 10Lan kiếm Mặc Biên là loại cây có giá trị kinh tế và giá trị thẩm mỹ cao. Kết quả nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng, chăm sóc cây lan kiếm Mặc Biên cho thấy: Sử dụng giá thể hỗn hợp các loại bao gồm 1/3 đá bọt Pumice + 1/3 vỏ thông + 1/3 Klasmann TS2 cho kết quả tốt nhất, sau 6 tháng trồng, chiều dài lá đạt 54,9 cm, chiều rộng lá 3,19 cm, đường kính giả hành 1,9 cm; phun GA3 sẽ tăng khả năng đẻ nhánh và sự phát triển của cây, phun với nồng độ 150 ppm cho kết quả cao nhất, sau 6 tháng trồng, cây có 3,9 nhánh, tỷ lệ ra hoa 91%, có 3,4 ngồng hoa/chậu; chế độ nhiệt độ ngày/đêm thích hợp nhất cho xử lý phân hóa mầm hoa lan kiếm Mặc Biên, là 240C/160C, ở chế độ này tỷ lệ ra hoa đạt 96%, số ngồng/chậu đạt 3,4 ngồng, số hoa trên ngồng đạt 12,8 hoa, chiều dài ngồng hoa đạt 52,0 cm, đường kính hoa đạt 4,32 cm.
-
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ GIẢM BỆNH THÁN THƯ TRÊN DƯA LEO CỦA CHỦNG VI KHUẨN Bacillus amyloliquefaciens VL4.6 Ở ĐIỀU KIỆN NGOÀI ĐỒNG
Abstract : 23 PDF: 9Bệnh thán thư do Colletotrichum lagenarium có thể gây ra thiệt hại lớn trong quá trình canh tác dưa leo. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm hai mục tiêu chính: (i) đánh giá được khả năng kiểm soát bệnh thán thư trên dưa leo của chủng vi khuẩn Bacillus amyloliquefaciens VL4.6 (chủng VL4.6) ở điều kiện ngoài đồng; (ii) đánh giá được khả năng kích thích sinh trưởng của chủng VL4.6 lên cây dưa leo trong điều kiện ngoài đồng. Các nghiệm thức có xử lý chủng VL4.6 đều cho thấy hiệu quả kiểm soát bệnh thán thư trong các mùa vụ và địa điểm khảo sát. Hiệu quả kiểm soát bệnh thán thư của chủng VL4.6 tuy có chậm hơn so với sử dụng thuốc hoá học nhưng cao hơn so với nghiệm thức không xử lý vi khuẩn đối kháng (P < 0,05). Bên cạnh đó, chủng VL4.6 cho thấy hiệu quả kích thích sinh trưởng, giúp tăng năng suất trên cây dưa leo trong tất cả mùa vụ và địa điểm khảo sát. Kết quả nghiên cứu chỉ ra, Bacillus amyloliquefaciens VL4.6 là một tác nhân kiểm soát sinh học tiềm năng cho ứng dụng trong canh tác dưa leo.
-
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ YẾU TỐ CÔNG NGHỆ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH TÁCH CHIẾT NƯỚC CHUỐI TRONG TỪ CHUỐI TIÊU HỒNG
Abstract : 22 PDF: 8Mục đích của nghiên cứu này là thực nghiệm ảnh hưởng của một số yếu tố công nghệ gồm độ chín, nhiệt độ tiền xử lý bằng lạnh đông, nồng độ, nhiệt độ và thời gian xử lý bằng enzyme pectinase Utral SP - L, công suất và thời gian xử lý bằng siêu âm đến hiệu suất tách chiết nước chuối nguyên chất và nước chuối trích ly (%), độ trong (%T) và hàm lượng chất rắn hòa tan (0Bx). Kết quả thực nghiệm từ nguyên liệu chuối tiêu hồng ở độ chín 6,5 tương ứng thời điểm sau 12 giờ so với độ chín 6 (thang màu PCI). Chuối chưa bóc vỏ được tiền xử lý nhiệt ở 86,40C trong 3,1 phút, xay nghiền đồng thời điều chỉnh pH 4,3 bằng axit citric có bổ sung axit ascorbic 0,06% trong môi trường MA (N2). Puree được xử lý lạnh đông ở -300C trong 24 giờ, rã đông và xử lý bằng enzyme pectinase Utral SP - L tỷ lệ 0,03% ở nhiệt độ 500C trong 180 phút và đình hoạt enzyme ở 900C trong 5 phút. Tiếp theo xử lý bằng siêu âm với mức công suất 2 W/g trong 6 phút trước khi ly tâm tách nước chuối nguyên chất. Bã puree được tách chiết với 40% nước/bã thu được nước chuối trích ly. Các chỉ tiêu đạt được với hiệu suất nước chuối nguyên chất 53,87%, độ trong 98,52%T, hàm lượng TSS là 28,9oBx và hiệu suất nước chuối trích ly đạt 44,15%, TSS 18,60Bx, tương ứng hiệu suất nước chuối quy đổi về 120Bx đạt tổng 203%, với thời gian đánh giá phân tích mẫu nước chuối không quá 24 giờ.
-
MỐI QUAN HỆ CỦA SẢNG LÁ TO, NHỘI, TRƯƠNG VÂN VỚI NHÓM CÁC LOÀI CÂY KHÁC TRONG RỪNG TỰ NHIÊN TẠI VƯỜN QUỐC GIA BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN
Abstract : 27 PDF: 10Ngày nay, trồng rừng hỗn giao là xu hướng chính trong trồng rừng phòng hộ đầu nguồn để tạo ra hệ sinh thái bền vững. Lựa chọn và phối hợp cây trồng với nhau là khâu quan trọng quyết định đến thành phần loài cây trồng rừng hỗn giao. Vì vậy, nghiên cứu mối quan hệ tự nhiên giữa 3 loài: Sảng lá to, Nhội, Trương vân với các loài cây ưu thế tại Vườn Quốc gia (VQG) Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn có ý nghĩa khoa học quan trọng để xác định được mối quan hệ tạo lên hệ sinh thái rừng bền vững. Kết quả nghiên cứu tại VQG Ba Bể đã chỉ ra được sự phong phú và đa dạng loài cây rừng tự nhiên nhưng chúng cũng có những mối quan hệ tự nhiên hết sức phức tạp và có cơ sở. Triển khai nghiên cứu trên 3 tuyến điều tra với 90 ô tiêu chuẩn đã xác định được: Mối quan hệ tự nhiên của Sảng lá to (Sterculia nobilis Smith) có quan hệ dương (tương hỗ) với Ô rô bà, Mạy tèo và Sảng lá to, có quan hệ ngẫu nhiên với Duối rừng và Sếu; mối quan hệ tương tác dương giữa Nhội (Bischophia javanla) có quan hệ dương (tương hỗ) với Mạy tèo, cây Ô rô bà và có quan hệ ngẫu nhiên với Sảng đá và Thị đá; mối quan hệ tương tác dương giữa Trương vân (Toona surenii) có quan hệ dương (tương hỗ) với Ô rô bà, Mạy tèo và có quan hệ ngẫu nhiên với Nghiến và Trai lý. Các loài cây chính và nhóm loài cây ưu thế trong lâm phần có mối quan hệ khăng khít và tương trợ lẫn nhau, tuy mỗi loài có một đặc điểm khác nhau nhưng nhờ có nhau mà chúng có thể phát triển và sinh tồn với thời gian trong hệ sinh thái bền vững. Đây là cơ sở khoa học để đề xuất danh mục các loài cây trồng rừng hỗn giao.
-
NGHIÊN CỨU ĐỔI MỚI CHÍNH SÁCH ĐẤT ĐAI ĐỂ PHÁT TRIỂN SINH KẾ BỀN VỮNG CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI SỐ
Abstract : 26 PDF: 17Đảm bảo sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số (ĐBDTTS) là vấn đề rất được quan tâm hiện nay tại Việt Nam và trên thế giới. Bài báo cung cấp cái nhìn tổng quan về sinh kế bền vững và chính sách đất đai (CSĐĐ) đối với ĐBDTTS. Đồng thời, tổng kết tình hình thực hiện CSĐĐ cho ĐBDTTS tại Việt Nam giai đoạn 2002-2022 và chỉ ra một số tồn tại về CSĐĐ, sinh kế bền vững cho ĐBDTTS. Đó là: (i) số khái niệm liên quan đến ĐBDTTS và việc sử dụng đất (SDĐ) chưa được làm rõ, việc phân loại đất và rừng chưa thống nhất giữa các luật; (ii) hiệu lực thực hiện chính sách pháp luật về đất đai đối với ĐBDTTS chưa cao; (iii) phương thức quản lý về đất đai đối với ĐBDTTS chưa phù hợp với thực tế. Từ đó đề xuất 3 nhóm giải pháp về đổi mới CSĐĐ để đảm bảo sinh kế bền vững cho ĐBDTTS trong bối cảnh chuyển đổi số, đó là: (1) hoàn thiện chính sách, pháp luật về đất đai đối với ĐBDTTS; (2) tăng cường hiệu lực thực hiện chính sách pháp luật về đất đai đối với ĐBDTTS; (3) thay đổi phương thức quản lý về đất đai phù hợp với chuyển đổi số.








