Số 6 (2023)

					Xem Số 6 (2023)
Đã Xuất bản: 30-03-2023

Bài viết

  • ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CHỊU MẶN GIAI ĐOẠN TĂNG TRƯỞNG CỦA BỐN GIỐNG LÚA MÙA TRẮNG LÙN, BẢY SỤI, LĂNG NHÂY VÀ NÀNG CHÁ RẰN

    Abstract : 17 PDF: 12
    Nguyễn Vũ Khoa, Quan Thị Ái Liên
    3-12

    Các giống lúa mùa mang nguồn gen quý do có khả năng thích nghi với điều kiện canh tác thực tế tại địa phương, trong điều kiện biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn vào vùng canh tác lúa ven biển, việc đánh giá khả năng chịu mặn của các giống lúa mùa trước khi đưa vào canh tác là rất quan trọng. Chính vì vậy, nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu chọn được giống lúa mùa có khả năng chịu mặn giai đoạn tăng trưởng đến thu hoạch ≥ 4‰. Thí nghiệm được bố trí theo kiểu ô phụ, lô chính là 3 nồng độ mặn 0‰, 4‰ và 6‰, lô phụ gồm 4 giống lúa Trắng Lùn, Bảy Sụi, Lăng Nhây, Nàng Chá Rằn, giống chuẩn kháng Pokkali, giống chuẩn nhiễm IR28; thí nghiệm đánh giá khả năng chịu mặn giai đoạn tăng trưởng đến thu hoạch được thực hiện theo phương pháp của IRRI (1997). Các chỉ tiêu sinh trưởng, thành phần năng suất và năng suất được đánh giá theo tiêu chuẩn TCVN 13381-1: 2021. Kết quả nghiên cứu chọn được 4 giống lúa mùa Trắng Lùn, Bảy Sụi, Lăng Nhây, Nàng Chá Rằn có khả năng chịu mặn ở nồng độ 4‰ giai đoạn tăng trưởng đến thu hoạch.

    DOI: https://doi.org/10.71254/bwq5ew22
  • NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT CANH TÁC GIỐNG DONG RIỀNG ĐỎ NA RÌ TẠI TỈNH BẮC KẠN

    Abstract : 19 PDF: 6
    Nguyễn Thị Hương, Lê Thị Loan, Nguyễn Thị Hoa, Hà Thị Xuân Mai, Nguyễn Thị Thúy Hằng, Nguyễn Thanh Hưng, Dương Thị Hạnh
    13-18

    Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp canh tác: Thời vụ, mật độ, chế độ phân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống dong riềng đỏ Na Rì được tiến hành tại xã Côn Minh, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn trong 2 năm (năm 2020 và 2021). Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên hoàn toàn (RCBD), 3 lần nhắc lại. Diện tích ô thí nghiệm 30 m2. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Ở thời vụ trồng từ 15/02 - 30/3 (TV1, TV2, TV3) cho năng suất cao nhất từ 56,2 - 59,8 tấn/ha. Mật độ trồng 15.000 - 20.000 khóm/ha (MĐ3, MĐ4) đạt năng suất tối ưu từ 67,0 - 67,8 tấn/ha. Mức phân bón/ha gồm: 1 tấn phân hữu cơ vi sinh sông Gianh + 200 kg N + 120 kg P2O5 + 220 kg K2O (PB3) cho cây sinh trưởng, phát triển tốt, năng suất đạt cao nhất từ 66,0 - 67,2 tấn/ha.

    DOI: https://doi.org/10.71254/c4vzam73
  • NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA THỜI VỤ TRỒNG ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG CỦA CÂY BẠCH CẬP (Bletilla striata (Thunb.) Reichb. f.) TRỒNG TẠI THỊ XÃ SA PA, TỈNH LÀO CAI

    Abstract : 21 PDF: 7
    Nghiêm Tiến Chung, Vàng Mĩ Nhù, Phạm Huy Bách, Nguyễn Thị Hà Ly
    19-25

    Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của thời vụ trồng đến sinh trưởng phát triển năng suất và chất lượng dược liệu của cây bạch cập (Bletilla striata (Thunb.) Reichb. f.) tại thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai. Thí nghiệm triển khai ngoài đồng ruộng với 6 công thức CT1 – 15/10; CT2 – 15/11; CT3 – 15/12; CT4 – 15/02; CT5 – 15/3; CT6 – 15/4 các công thức được bố trí theo phương pháp khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCB) 3 lần nhắc lại mỗi lần nhắc lại 10 m2, tổng diện tích thí nghiệm là 180 m2. Kết quả nghiên cứu đã đưa ra được thời vụ trồng cho năng suất cao nhất và hàm lượng hoạt chất tốt nhất là thời vụ 15/12 (CT3) cho kết quả năng suất đạt 3,82 tấn/ha, hàm lượng miritaine đạt 5,1 g/100 g vượt hơn rất nhiều so với Tiêu chuẩn của Dược điển Trung Quốc (>0,15 g/100 g). Thời vụ cho năng suất và hàm lượng miritaine thấp nhất là thời vụ 15/3 (CT5) với năng suất đạt 3,22 tấn/ha, hàm lượng miritaine chỉ đạt 1,6 g/100 g.

    DOI: https://doi.org/10.71254/zn5xhz58
  • NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG TÁI SINH CHỒI TỪ RỄ ĐỊA LAN BẠCH NGỌC (Cymbidium mastersii) BẰNG PHƯƠNG PHÁP NUÔI CẤY IN VITRO

    Abstract : 24 PDF: 11
    Phạm Phương Thu, Nguyễn Thị Tình, Trần Ngọc Hùng, Nguyễn Tiến Dũng, Ngô Xuân Bình
    26-32

    Tái sinh chồi địa lan Bạch Ngọc (Cymbidium mastersii) được thí nghiệm trong điều kiện nuôi cấy in vitro ở nhiệt độ phòng 250C; ẩm độ 65%, cường độ chiếu sáng 2.000 lux, 16 giờ sáng/24 giờ. Thí nghiệm được triển khai nhằm tìm hiểu ảnh hưởng của các chất kích thích sinh trưởng nhóm cytokinin (Kinetin, TDZ, BA), đường và auxin NAA đến khả năng tái sinh chồi từ rễ địa lan Bạch Ngọc. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Cytokinin BA có tác dụng tốt cho quá trình tái sinh chồi địa lan Bạch Ngọc, môi trường nuôi cấy bổ sung 3,0 mg BA/l cho kết quả tái sinh có ý nghĩa thực tiễn, đạt 3,30 chồi/mẫu, chiều dài chồi đạt 1,27 cm, khối lượng tươi đạt 167,0 mg. Bổ sung đường sucrose vào môi trường nuôi cấy (MS + 3,0 mg BA/l) có hiệu quả cao với tái sinh chồi, nồng độ 5% đường sucrose cho kết quả số chồi/mẫu đạt 5,57 chồi, chiều dài chồi đạt 2,73 cm, khối lượng tươi đạt 327,67 mg. Auxin NAA phối hợp với BA có hiệu quả đáng kể trong quá trình cảm ứng rễ hình thành chồi địa lan Bạch Ngọc. Công thức bổ sung 2,0 mg NAA/l vào môi trường nuôi cấy (MS + 3,0 mg BA/l + 5% sucrose) cho kết quả cao nhất, số lượng chồi/mẫu đạt 6,04 chồi với khối lượng tươi của mẫu đạt 414,67 mg; chiều dài chồi đạt 3,00 cm; số rễ/mẫu đạt 5,50 rễ. Đây là kết quả có ý nghĩa thực tiễn trong bảo tồn, khai thác phát triển loài địa lan Bạch Ngọc khu vực phía Bắc Việt Nam.

    DOI: https://doi.org/10.71254/4xxkmv64
  • NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH LIỀU LƯỢNG BÓN ĐẠM VÀ MẬT ĐỘ CẤY ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG LÚA THÁI HƯƠNG TẠI THANH HÓA

    Abstract : 18 PDF: 10
    Tống Văn Giang, Vũ Quang Trung, Nguyễn Mạnh Tường
    33-41

    Kết quả nghiên cứu đã xác định được liều lượng bón đạm và mật độ cấy phù hợp cho giống lúa Thái Hương trồng tại Thanh Hóa. Thí nghiệm bố trí theo kiểu ô lớn - ô nhỏ (Split - plot), gồm 16 công thức, 3 lần nhắc lại, 4 mức bón đạm P1 (vụ xuân bón 80 kg N/ha, vụ mùa bón 70 kg N/ha), P2 (90 kg N/ha), P3 (100 kg N/ha), P4 (110 kg N/ha) và 4 mật độ cấy khác nhau là M1 (35 khóm/m2), M2 (40 khóm/m2), M3 (45 khóm/m2) và M4 (50 khóm/m2). Kết quả nghiên cứu cho thấy, giống lúa Thái Hương tại vụ xuân năm 2021 nếu áp dụng công thức P3M3 (mức bón đạm ở liều lượng bón 100 kg N/ha và mật độ 45 khóm/m2) có thời gian sinh trưởng 126 ngày, chiều cao cây đạt 104,1 cm và các yếu tố cấu thành năng suất cao nhất: 243 bông/m2, 193,0 hạt/bông, tỷ lệ hạt chắc 90,3%, khối lượng 1.000 hạt 20,7 g và năng suất thực thu 7,31 tấn/ha, lãi thuần 33,08 triệu đồng/ha/vụ. Trong vụ mùa năm 2020 nếu áp dụng công thức P3M3 (mức bón đạm ở liều lượng bón 90 kg N/ha và mật độ 45 khóm/m2) thì thời gian sinh trưởng đạt  107 ngày, chiều cao cây đạt 111,1 cm và các yếu tố cấu thành năng suất cao nhất: 230,0 bông/m2, 190,9 hạt/bông, tỷ lệ hạt chắc 88,3%, khối lượng 1.000 hạt 20,5 g và năng suất thực thu 6,53 tấn/ha, lãi thuần 26,73 triệu đồng/ha/vụ.

    DOI: https://doi.org/10.71254/j8d4a029
  • NGHIÊN CỨU TÍNH KÍCH KHÁNG CỦA VI KHUẨN NỘI SINH VỚI NẤM GÂY BỆNH THÁN THƯ Ở CÂY HỒI (Illicium verum Hook. f)

    Abstract : 27 PDF: 9
    Nguyễn Thị Thúy Nga, Nguyễn Thị Loan, Lê Thị Xuân, Hà Văn Thiện
    42-50

    Hồi (Illicium verum Hook.f) là một cây đa tác dụng và được trồng nhiều ở Việt Nam. Tuy nhiên, hiện nay rừng trồng cây Hồi đang phải đối mặt với rất nhiều loài bệnh, côn trùng gây hại. Vì vậy sản phẩm từ cây Hồi đã bị giảm về sản lượng, chất lượng, giá trị sử dụng và thiệt hại lớn về hiệu quả kinh tế. Nghiên cứu này nhằm mục đích xác định tính kích kháng của vi khuẩn nội sinh với nấm gây bệnh thán thư ở cây Hồi, làm tiền đề cho các nghiên cứu sau này về phương pháp phòng trừ bệnh hại cây Hồi. Kết quả nghiên cứu từ 18 chủng vi khuẩn nội sinh đã phân lập được từ cây Hồi, có 6 chủng vi khuẩn có khả năng kích kháng mạnh với các chủng nấm gây bệnh thán thư. Từ đó, chọn và định danh 2 chủng vi khuẩn có khả năng kích kháng mạnh nhất với 2 chủng nấm bệnh: Chủng NSL 17.3 (Pantoea dispersa) và chủng NSC 18.2 (Bacillus velezensis).

    DOI: https://doi.org/10.71254/j2btgb27
  • NGHIÊN CỨU BÀO CHẾ TRÀ HÒA TAN TỪ HOÀI SƠN, LƯỢC VÀNG, MỘC ĐAN NHẰM HỖ TRỢ GIẢM ĐƯỜNG HUYẾT Ở NGƯỜI BỊ BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TUÝP 2

    Abstract : 17 PDF: 9
    Nguyễn Thị Thanh Mai, Nguyễn Viết Toan, Nguyễn Thị Hồng Hạnh
    51-59

    Củ Hoài sơn kết hợp cùng với hai nguyên liệu Lược vàng và Mộc đan đã được nghiên cứu bào chế thành trà hòa tan có chứa thành phần allantoin, là hoạt chất có khả năng ức chế enzyme α-glycosidase - một loại enzyme có khả năng thủy phân carbohydrate, có tác dụng hỗ trợ giảm lượng đường huyết ở những người bị đái tháo đường. Sản phẩm trà hòa tan được xác định các chỉ tiêu hóa lý như độ tro 10,32%, độ ẩm 3,87% đạt yêu cầu về TCVN 9739: 2013 và ISO 6079: 1990. Hợp chất allantoin có trong sản phẩm trà hòa tan chiếm tỷ lệ 0,4597%. Sản phẩm trà hòa tan này có thể được sử dụng trong việc phòng và hỗ trợ điều trị bệnh đái tháo đường.

    DOI: https://doi.org/10.71254/hdj6yp27
  • ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG ĐẾN KHẢ NĂNG GÂY BỆNH CỦA TILAPIA LAKE VIRUS (TILV) VÀ ĐỘNG HỌC BÀI THẢI VIRUS Ở CÁ NHIỄM BỆNH

    Abstract : 19 PDF: 8
    Phạm Thị Tâm, Lê Minh Hải, Nguyễn Thị Thu Hiền, Bùi Thị Hải Hòa, Nguyễn Thị Trung
    60-67

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá mức độ mẫn cảm của cá rô phi giai đoạn ương giống đối với Tilapia Lake virus, đánh giá sự ảnh hưởng của nhiệt độ và độ mặn đối với khả năng gây bệnh, đồng thời xác định động học bài thải virus. Sau khi gây nhiễm 17 ngày, tỷ lệ tử vong tích lũy của cá bột, cá hương, cá giống đạt cực đại; sau 21 ngày, tỷ lệ tử vong tích lũy trung bình của cá ở các độ tuổi này lần lượt là 100%, 96,5% và 74%. Ở điều kiện nhiệt độ là 220C, 250C, 270C, 300C, 320C và độ mặn là 3 ppt, 5 ppt, tỷ lệ sống sót của cá giống sau 30 ngày thí nghiệm ở ngưỡng nhiệt độ 220C và 320C giảm 2,2-2,3 lần so với các ngưỡng nhiệt độ là 250C, 270C, 300C; stress nhiệt độ đã làm suy giảm khả năng chống chịu của cá đối với tác nhân gây bệnh. Động học bài thải của chủng TiLV NĐ38 từ cá nhiễm bệnh vào môi trường nước được xác định trong 30 ngày, ARN của virus được phát hiện bằng RT-qPCR sau khi gây nhiễm 3-16 ngày; nồng độ virus cao nhất được phát hiện trong khoảng 6-8 ngày sau gây nhiễm, với giá trị log10 tương ứng là 4,35, 5,15 và 4,8 (tương đương với 2,26 x 104, 1,41 x 106, 6,28 x 10bản sao ARN/lít nước); sau đó mật độ virus giảm dần và ở dưới ngưỡng được phát hiện thấy từ ngày thứ 17 sau khi gây nhiễm. Các kết quả thu được bước đầu là căn cứ để xác định đặc điểm dịch tễ của bệnh, từ đó tiến hành các nghiên cứu nhằm đưa ra các giải pháp phòng bệnh phù hợp.

    DOI: https://doi.org/10.71254/w5ktsb86
  • BIẾN ĐỘNG MỘT SỐ CHỈ TIÊU HÌNH THÁI CỦA CÁ BỐNG CÁT TỐI (Glossogobius giuris Hamilton, 1822) Ở TRUNG TRUNG BỘ, VIỆT NAM

    Abstract : 25 PDF: 7
    Hoàng Lê Thùy Lan, Trần Văn Giang, Nguyễn Tý
    68-79

    Cá bống cát tối (Glossogobius giuris) là một đối tượng có giá trị kinh tế ở địa phương, phân bố rộng ở các thuỷ vực nước lợ, ngọt ở Việt Nam. Các chỉ tiêu đo hình thái và chỉ tiêu đếm của cá bống cát tối đã được làm rõ thông qua phân tích 192 mẫu cá thu được từ 3 khu vực thuộc Trung Trung bộ, Việt Nam bao gồm: Cửa sông Nhật Lệ, tỉnh Quảng Bình; đầm Cầu Hai, tỉnh Thừa Thiên - Huế; sông Trường Giang, tỉnh Quảng Nam. Bằng việc phân tích đa biến các chỉ tiêu hình thái, lần đầu tiên mối quan hệ họ hàng giữa 3 quần thể cá nghiên cứu được xác định. Nghiên cứu đã chỉ ra những sai khác về hình thái giữa 3 quần thể cá bống cát tối, trong đó quần thể cá bống cát tối ở đầm Cầu Hai có mối quan hệ gần với cá bống cát tối ở sông Trường Giang. Những sai khác này có thể do các yếu tố môi trường tạo nên, cho thấy sự thích nghi sinh thái của cá ở các môi trường sống khác nhau.

    DOI: https://doi.org/10.71254/ggbhjs17
  • SỰ BIẾN ĐỘNG KÍCH THƯỚC MỘT SỐ TẾ BÀO GỖ KEO LÁ TRÀM (Acacia auriculiformis) THEO HƯỚNG BÁN KÍNH

    Abstract : 16 PDF: 8
    Dương Văn Đoàn, Hoàng Linh Chi, Trần Thị Thu Hà, Nguyễn Tử Kim
    80-87

    Các tính chất vật lý và cơ học gỗ thường có mối liên hệ với các đặc điểm cấu tạo gỗ. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định sự biến động kích thước một số tế bào gỗ, khối lượng riêng của gỗ Keo lá tràm (Acacia auriculiformis) và mối quan hệ tương quan giữa chúng. Các đặc điểm cấu tạo gỗ gồm: đường kính tế bào mạch gỗ, sợi gỗ và chiều dày vách tế bào sợi gỗ của 5 cây gỗ Keo lá tràm được kiểm tra tại các vị trí 25, 50, 75 và 100% chiều dài bán kính theo hướng từ tâm ra vỏ (mẫu gỗ thu thập tại vị trí 1,3 m tính từ mặt đất). Giá trị trung bình khối lượng riêng, đường kính mạch gỗ, sợi gỗ và chiều dày vách tế bào sợi gỗ lần lượt là 0,54 g/cm3, 87,82 µm, 8,18 µm và 1,19 µm. Theo hướng từ tâm ra vỏ đường kính mạch gỗ và chiều dày vách tế bào có xu hướng tăng dần, trong khi đó đường kính sợi gỗ có xu hướng giảm dần. Khối lượng riêng có tương quan âm rõ ràng (r = -0,82) với đường kính sợi gỗ, trong khi đó tương quan dương được tìm thấy giữa khối lượng riêng với đường kính mạch gỗ (r = 0,57) và chiều dày vách tế bào sợi gỗ (r = 0,55). Có sự khác biệt rõ ràng giá trị đường kính sợi gỗ và chiều dày vách tế bào sợi gỗ giữa các cây mẫu, điều này gợi ý rằng công tác chọn giống cây mẹ Keo lá tràm sẽ có thể ảnh hưởng đến tính chất gỗ sau này.

    DOI: https://doi.org/10.71254/kjv2gy75
  • PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG KINH TẾ - XÃ HỘI ĐỊA PHƯƠNG HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI BỀN VỮNG Ở RỪNG TRÀM TRÀ SƯ, TỈNH AN GIANG

    Abstract : 36 PDF: 20
    Nguyễn Võ Châu Ngân, Lê Văn Dũ, Kim Lavane
    88-97

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm phát triển du lịch sinh thái bền vững tại khu bảo vệ cảnh quan rừng tràm Trà Sư, tỉnh An Giang. Để có cái nhìn tổng quan về hiện trạng kinh tế - xã hội của địa phương, đã phỏng vấn 60 hộ dân, đại diện Ban quản lý rừng tràm Trà Sư và 8 công ty du lịch lữ hành. Các thông tin ghi nhận được phân tích bằng công cụ SWOT để xây dựng kế hoạch mở rộng và phát triển du lịch sinh thái bền vững dựa vào nguồn tài nguyên môi trường và văn hóa bản địa cho rừng tràm Trà Sư. Kết quả ghi nhận rừng tràm Trà Sư có tiềm năng phát triển du lịch sinh thái dựa trên lợi thế sinh cảnh rừng tràm và hệ động - thực vật đa dạng của vùng đất ngập nước, đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Cộng đồng dân cư bản địa sẵn sàng tham gia các hoạt động dịch vụ du lịch thông qua đóng góp nguồn lực lao động, tạo ra sản phẩm du lịch truyền thống địa phương, tuy nhiên cần tăng cường tập huấn nâng cao nhận thức và hiểu biết về các hoạt động, mục tiêu phát triển du lịch sinh thái. Từ kết quả phân tích SWOT, căn cứ vào các yếu tố tài nguyên môi trường, văn hóa, xã hội của khu vực, nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp phát triển du lịch sinh thái bền vững ở rừng tràm Trà Sư.

    DOI: https://doi.org/10.71254/3b39k096