Số 5 (2026)

					Xem Số 5 (2026)
Đã Xuất bản: 10-03-2026

Bài viết

  • NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG CÂY GỤ MẬT (Sindora siamensis Teysm. ex Miq) TỪ HẠT

    Abstract : 37 PDF: 0
    Đặng Văn Hà, Nguyễn Thị Yến
    3-9

    Gụ mật (Sindora siamensis Teysm. ex Miq) là loài cây quý, hiếm, có gỗ tốt, bền, hoa văn đẹp, có giá trị kinh tế cao. Bài báo trình bày một số kết quả nhân giống cây Gụ mật từ hạt tại vườn ươm. Hạt Gụ mật được thu hái vào cuối tháng 10 tại Rừng phòng hộ Lê Hồng Phong, xã Hoà Thắng, tỉnh Lâm Đồng, sau đó được làm sạch, xử lý mầm bệnh, mài vỏ và ngâm trong nước trong 12 giờ ở các nhiệt độ khác nhau. Kết qủa thí nghiệm cho thấy, hạt ngâm trong nước ấm 60oC cho kết quả nảy mầm tốt nhất, đạt 93,7%. Chế độ che sáng có ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ sống cũng như sinh trưởng đường kính gốc và chiều cao vút ngọn của cây con 6 tháng tuổi. Công thức che sáng 50% là phù hợp nhất, cho tỷ lệ sống cao nhất đạt 98%, đường kính gốc đạt 0,62 cm và chiều cao 26,2 cm. Chế độ bón phân ảnh hưởng không rõ rệt đến tỷ lệ sống nhưng ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng của cây con 6 tháng tuổi. Bón phân NPK theo công thức 60 g/2 lít nước/100 bầu, định kỳ 7 ngày 1 lần cho kết quả tốt nhất với tỷ lệ sống đạt 87,4%, đường kính gốc đạt 0,61 cm và chiều cao cây 26,2 cm. 

    DOI: https://doi.org/10.71254/hk52n407
  • PHÂN LẬP VÀ XÁC ĐỊNH THỰC KHUẨN THỂ CÓ KHẢ NĂNG LY GIẢI VI KHUẨN Salmonella TRÊN THỊT GÀ Ở MỘT SỐ CHỢ TRUYỀN THỐNG CỦA TỈNH VĨNH LONG

    Abstract : 41 PDF: 0
    Nguyễn Trung Trực, Quách Văn Cao Thi, Huỳnh Thị Diểm Chinh
    10-19

    Salmonella spp. thường được phát hiện trong các sản phẩm thịt gia cầm tươi sống và là một trong những tác nhân chính gây ngộ độc thực phẩm ở người tiêu dùng. Do đó, nghiên cứu này được tiến hành nhằm phân lập, tuyển chọn và định danh các chủng thực khuẩn thể (TKT) có khả năng ly giải Salmonella spp. trên thịt gà thu thập từ một số chợ truyền thống tại tỉnh Vĩnh Long. Các chủng TKT được phân lập và đánh giá phổ ký chủ đối với các chủng Salmonella khảo sát dựa vào phương pháp tạo vết tan trên thạch hai lớp (double - layer agar plaque assay). Kết quả cho thấy, chủng TKT PSP9_9 có khả năng ly giải 9/21 chủng Salmonella spp. (42,86%). Hình thái của chủng PSP9_9 được xác định bằng kính hiển vi điện tử truyền qua (TEM) và được phân loại thuộc họ Chaseviridae, bộ Caudovirales. Đánh giá khả năng kiểm soát vi khuẩn Salmonella spp. của TKT PSP9_9 trên thịt gà sau 24, 48, 72 giờ cho thấy, mật số vi khuẩn Salmonella ở các nghiệm thức có bổ sung TKT giảm 1,82 - 2,93 log CFU/mL so với đối chứng tại cả 8°C và 25°C. Các kết quả này cho thấy, TKT PSP9_9 có tiềm năng ứng dụng trong kiểm soát vi khuẩn Salmonella spp. và nâng cao an toàn vi sinh cho thịt gà trong quá trình bảo quản.

    DOI: https://doi.org/10.71254/z73wsf32
  • KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA TỶ LỆ PHỐI TRỘN PROTEIN ĐẬU NÀNH, GLUTEN VÀ NẤM BÀO NGƯ ĐẾN ĐẶC TÍNH CỦA BURGER THỰC VẬT

    Abstract : 21 PDF: 0
    Nguyễn Thị Hiền, Phạm Hữu Thịnh, Huỳnh Ngọc Minh Anh, Trần Nguyễn Bảo Ngọc
    20-28

    Thực phẩm từ protein thực vật là một giải pháp bền vững nhằm giảm thiểu tác động môi trường và biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, quyết định mua hàng của người tiêu dùng chịu ảnh hưởng lớn từ các đặc tính cảm quan, đặc biệt là mùi vị và cấu trúc, vốn là những yếu tố cần cải thiện đáng kể ở thực phẩm từ protein thực vật. Nghiên cứu này được tiến hành nhằm cải thiện các đặc tính chế biến (tổn thất chế biến, khả năng giữ ẩm và sự thay đổi kích thước sau chế biến) và cấu trúc (độ cứng, độ cố kết, độ phục hồi và độ dai) của burger thực vật bằng cách kết hợp protein đậu nành tạo cấu trúc (TVP), gluten lúa mì và nấm bào ngư. Đầu tiên, đã tiến hành khảo sát tỷ lệ giữa TVP và gluten. Trong số các công thức khảo sát ở thí nghiệm này, mẫu với tỷ lệ TVP - gluten 70: 30 có các đặc tính chế biến ở mức cao nhất và đặc tính cấu trúc tốt nhất, do đó công thức này được lựa chọn cho thí nghiệm tiếp theo. Ở thí nghiệm thứ hai, đã thay thế 2%, 4%, 6%, 8% TVP bằng nấm bào ngư, kết quả cho thấy, mẫu thay thế 6% đạt độ phục hồi cao nhất, trong khi các chỉ số cấu trúc khác (độ cứng, độ cố kết, độ dai) không khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các mức thay thế. Các kết quả này cho thấy, mẫu burger thực vật với tỷ lệ 70: 30 TVP - gluten và thay thế 6% TVP bằng nấm bào ngư là công thức tốt nhất. Những kết quả này cho thấy tiềm năng ứng dụng của việc phối trộn nhiều loại protein và nấm trong việc cải thiện đặc tính chế biến và cấu trúc cho thực phẩm từ protein thực vật.

    DOI: https://doi.org/10.71254/8e6dgs90
  • NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN BAY HƠI TRONG CÁC CƠ QUAN HOA SEN (Nelumbo nucifera ‘LSt’) BẰNG PHƯƠNG PHÁP HEADSPACE TRỰC TIẾP KẾT HỢP VỚI SẮC KÝ KHÍ - KHỐI PHỔ (HS-GCMS)

    Abstract : 31 PDF: 0
    Nguyễn Ngọc Thùy Dương, Lê Văn Dũng , Hoàng Việt
    29-38

    Nghiên cứu này tận dụng búp hoa Sen ngó (Nelumbo nucifera ‘LSt’) - là phụ phẩm nông nghiệp tại tỉnh Tây Ninh, như vật liệu chính để phân tích các thành phần bay hơi của hoa Sen tại Việt Nam. Nghiên cứu cũng cung cấp cái nhìn tổng quan về giống Sen ngó thông qua quá trình định danh phân loại. Thành phần bay hơi trong các cơ quan khác nhau của búp hoa từ giống Sen ngó được phân tích thông qua phương pháp Headspace trực tiếp kết hợp với sắc ký khí khối phổ (GCMS). Nghiên cứu đã xác định được 59 hợp chất bay hơi từ các cơ quan hoa khác nhau. Các thành phần hương thơm chính của bao hoa (cánh và đài hoa) gồm heptadecane; 3-heptadecene và 5-heptadecene, 1-bromo-; trong khi mùi hương từ nhị và đế hoa Sen có sự tương đồng về thành phần chính là caryophyllene; 1,4-dimethoxybenzene và pentadecane. Bên cạnh đó, hoạt tính kháng vi sinh vật trong tinh dầu tuyệt đối được ly trích từ búp hoa Sen ngó cũng được thử nghiệm trên một số chủng vi sinh vật bị hạn chế trong mỹ phẩm theo TCVN 13634:2023. Kết quả cho thấy tinh dầu tuyệt đối của búp hoa Sen ngó có hoạt tính kháng lại Staphylococcus aureus Candida albicans.

    DOI: https://doi.org/10.71254/cdm02a18
  • NGHIÊN CỨU QUY TRÌNH SẢN XUẤT NƯỚC UỐNG KHÔNG CỒN TỪ MALT (Hordeum vulgare L.) VÀ HOA HOUBLON (Humulus lupulus L.)

    Abstract : 44 PDF: 0
    Trần Thị Ngọc Mai, Lê Thị Ngọc Mai, Phan Phước Thảnh
    39-46

    Mục tiêu nghiên cứu là tạo 4 sản phẩm đồ uống không cồn từ malt và hoa houblon, có màu sắc thay đổi trong khung màu từ vàng đến nâu, nhờ vào sự phối trộn giữa dịch malt đen và malt vàng với các tỷ lệ khác nhau, có vị đắng của hoa houblon và vị chua từ axit citric. Nguyên liệu sử dụng là malt vàng (Hordeum vulgare L.), malt đen, hoa houblon (Humulus lupulus L.) và axit citric. Nghiên cứu được thực hiện qua 5 nội dung thu được kết quả như sau: Malt vàng và đen được nghiền đạt kích thước 1,5 mm; được nấu với tỷ lệ malt: Nước là 1: 7 theo giãn đồ đường hóa. Dịch malt vàng bổ sung hoa houblon với tỷ lệ 0,05%. Phối trộn dịch malt đen và dịch malt vàng - houblon theo các tỷ lệ 1: 50, 1: 100, 1: 200 và 1: 400 và điều chỉnh pH về 4,1.

    DOI: https://doi.org/10.71254/s33gfh56
  • ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN, MẬT ĐỘ VÀ CHẤT ĐÁY CÁT XỐP ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA ẤU TRÙNG NGAO Ô VUÔNG (Periglypta puerpera Linnaeus, 1771) GIAI ĐOẠN XUỐNG ĐÁY

    Abstract : 19 PDF: 0
    Đặng Minh Dũng, Nguyễn Văn Tuấn, Thái Thanh Bình
    47-54

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của thức ăn, mật độ và chất đáy đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng ngao ô vuông (Periglypta puerperal, 1771) trong giai đoạn xuống đáy, làm cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện quy trình sản xuất giống nhân tạo ngao ô vuông. Các thí nghiệm về thức ăn (3 nghiệm thức), mật độ ương (4 nghiệm thức) và chất đáy ương (3 nghiệm thức) được triển khai. Các chỉ tiêu theo dõi gồm tăng trưởng chiều dài và tỷ lệ sống của ấu trùng sau 60 ngày ương. Kết quả cho thấy ấu trùng xuống đáy sử dụng thức ăn TA2 (kết hợp 4 loài tảo Nanochloropsis sp., Isochrysis sp., Chaetoceros sp. và Tetraselmis sp  với tỷ lệ phối trộn 1: 1: 1: 1) và mật độ ương ở 300.000 con/m² cho tỷ lệ sống cao nhất đạt lần lượt là 4,80 ± 0,32% và 4,60 ± 0,22%, cao hơn có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) so với lần lượt tỷ lệ sống của ấu trùng xuống đáy sử dụng thức ăn TA1 (kết hợp 3 loài tảo Nanochloropsis sp., Isochrysis sp. Chaetoceros sp., tỉ lệ phối trộn 1: 1: 1) và tỷ lệ sống của ấu trùng xuống đáy ương ở mật độ từ 450.000 - 750.000 con/m². Đáy cát xốp có ảnh hưởng rõ rệt đến tăng trưởng chiều dài và tỷ lệ sống của ấu trùng xuống đáy, trong đó nghiệm thức không đáy cát xốp cho tỷ lệ sống cao hơn so với nghiệm thức rải 3 cm đáy cát xốp. Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc lựa chọn thức ăn, mật độ và điều kiện đáy phù hợp có vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả ương ấu trùng ngao ô vuông giai đoạn xuống đáy.

    DOI: https://doi.org/10.71254/ppj9ej84
  • NHẬN DIỆN CHI TẢO Coscinodiscus VÀ Coscinodiscopsis Ở VÙNG BIỂN VIỆT NAM

    Abstract : 26 PDF: 0
    Thái Thị Kim Thanh, Nguyễn Công Thành , Trần Văn Cường
    55-65

    Các mẫu thực vật phù du phân tích thuộc một số nhiệm vụ, dự án được khảo sát trên khắp vùng biển Việt Nam từ năm 2015 đến năm 2025, bao gồm: Vùng nuôi trồng thủy sản, vùng biển ven bờ, vùng biển khơi và khu vực xa bờ. Tổng số 21 loài thuộc chi tảo CoscinodiscusCoscinodiscopsis được xác định dựa trên đặc điểm hình thái tế bào như: Hình dạng tế bào, cấu trúc bề mặt vỏ tế bào. Hai loài Coscinodiscus reniformisCoscinodiscopsis sp. lần đầu tiên được ghi nhận. Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu sự đa dạng loài cũng như cập nhật danh sách các loài mới của CoscinodiscusCoscinodiscopsis trong vùng biển Việt Nam.

    DOI: https://doi.org/10.71254/3g0m2955
  • NGHIÊN CỨU THÍCH ỨNG TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG THÀNH PHỐ CẦN THƠ TRƯỚC ÁP LỰC NHU CẦU GIA TĂNG KHÁM CHỮA BỆNH GIAI ĐOẠN HẬU ĐẠI DỊCH COVID -19

    Abstract : 26 PDF: 0
    Nguyễn Kim Thanh, Trương Hoàng Đan, Nguyễn Thanh Giao
    66-75

    Quản lý chất thải y tế tại các cơ sở chuyên khoa nhi đòi hỏi sự thích ứng liên tục trước áp lực gia tăng tải lượng và các yêu cầu khắt khe về an toàn sinh học. Nghiên cứu này đánh giá toàn diện hiệu suất môi trường và thực hành quản lý tại Bệnh viện Nhi đồng thành phố Cần Thơ giai đoạn 2022 - 2024 thông qua phương pháp phân tích dòng vật chất và khảo sát kiến thức - thái độ - thực hành (KAP). Kết quả cho thấy, áp lực lên hạ tầng xử lý có mối tương quan thuận với quy mô điều trị, khi số ngày giường nội trú đạt đỉnh 264.856 ngày vào năm 2024. Mặc dù tổng lượng chất thải rắn ổn định, cấu trúc dòng thải ghi nhận sự chuyển dịch đáng chú ý: Nhóm chất thải nguy hại không lây nhiễm tăng gấp 2,6 lần, tương ứng với sự phát triển của các kỹ thuật điều trị chuyên sâu. Hệ thống xử lý nước thải vận hành với hiệu suất cao, đạt 97% công suất thiết kế (465/480 m³/ngày.đêm) trong các giai đoạn cao điểm. Về khía cạnh nhân lực, nhân viên y tế thể hiện nền tảng kiến thức và thái độ tích cực, song hiệu quả thực hành còn chịu tác động bởi những hạn chế trong chuỗi cung ứng vật tư chuẩn hóa, dẫn đến việc sử dụng các giải pháp lưu chứa thay thế đối với vật sắc nhọn. Phân tích SWOT chỉ ra rằng, thế mạnh về nhận thức tuân thủ quy trình của nhân lực đang bị tác động bởi điểm yếu về hạ tầng vật lý và cơ chế cung ứng vật tư. Các phát hiện này khẳng định sự cần thiết của việc đồng bộ hóa đầu tư hạ tầng kỹ thuật và vật tư để đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững.

    DOI: https://doi.org/10.71254/hbe24923
  • NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ, PHÁT TRIỂN CÂY XANH ĐƯỜNG PHỐ Ở PHÂN KHU VEN SÔNG HÀN VÀ BỜ ĐÔNG CỦA THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

    Abstract : 28 PDF: 0
    Trần Thị Thúy Hằng, Lê Thái Hùng, Ngô Thị Phương Anh, Nguyễn Thị Thương, Hoàng Huy Tuấn
    76-84

    Cây xanh đường phố là một trong các yếu tố tạo nên diện mạo của cảnh quan đô thị. Ngoài những giá trị về mặt bảo vệ môi trường, cây xanh đô thị còn có những giá trị về văn hóa, lịch sử, tạo lập không gian nghỉ ngơi, thư giãn. Đà Nẵng là một trong những thành phố được đánh giá là đi đầu trong quy hoạch không gian cây xanh phù hợp với quy hoạch không gian theo phân khu và vùng đô thị đặc trưng. Trên địa bàn thành phố Đà Nẵng (trước đây) có 132 loài với 65.463 cây bóng mát trồng ven các đường phố có bề rộng mặt đường từ trên 7,5 m, trong đó phân khu ven sông Hàn và bờ Đông có 51.653 cây với 114 loài. Từ kết quả điều tra thực địa, nghiên cứu này đã đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm góp phần khắc phục những hạn chế trong công tác quản lý, chăm sóc, duy trì và phát triển hệ thống cây xanh đô thị, bao gồm: Xây dựng bộ tiêu chí lựa chọn loài cây phù hợp với đặc trưng của từng phân khu, quy hoạch đồng bộ giữa hệ thống hạ tầng (điện, nước, cáp quang…) với hệ thống cây xanh đường phố, nâng cao nhận thức và khuyến khích sự tham gia của cộng đồng dân cư.

    DOI: https://doi.org/10.71254/md55yw69
  • ĐÁNH GIÁ THÍCH HỢP ĐẤT ĐAI PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH XIÊNG KHOẢNG, CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

    Abstract : 26 PDF: 0
    Bounkham Phengsa, Đỗ Văn Nhạ, Trần Trọng Phương
    85-96

    Đánh giá thích hợp đất đai có vai trò quan trọng trong định hướng sử dụng đất nông nghiệp của các vùng, nhằm chỉ ra sự phù hợp của các loại sử dụng với đặc tính tự nhiên của đất trong vùng nghiên cứu. Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định mức độ thích hợp của các loại sử dụng đất chính trên địa bàn tỉnh Xiêng Khoảng. Dựa trên cơ sở đánh giá đất theo FAO với kết quả chồng xếp 6 bản đồ đơn tính, gồm: Loại đất, độ dốc, thành phần cơ giới, độ dầy tầng đất, chế độ tưới và lượng mưa, đã xác định 157 đơn vị đất đai (LMU) với 12.797 khoanh đất trong diện tích vùng nghiên cứu là 1.251.696,25 ha. Kết quả đánh giá mức độ thích hợp đối với 4 loại sử dụng đất chính là đất trồng lúa, đất trồng cây hàng năm khác, đất đồng cỏ và đất trồng cây lâu năm cho thấy mức thích hợp cao (S1) chiếm khoảng 2 - 5% tổng diện tích, mức trung bình (S2) và ít thích hợp (S3) chiếm phần lớn diện tích từ 30 - 80%, mức không thích hợp (N) chiếm > 60% diện tích với cây hàng năm và khoảng 12% diện tích với đồng cỏ và cây lâu năm. Kết quả này là cơ sở quan trọng trong định hướng sử dụng đất nông nghiệp trong tương lai của tỉnh Xiêng Khoảng, CHDCND Lào.    

    DOI: https://doi.org/10.71254/s8ysnd81