Số 1 (2026)
Bài viết
-
KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ BAN ĐẦU TẬP ĐOÀN NGUỒN GEN LÚA NĂM 2025 TẠI XÃ AN KHÁNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Abstract : 60 PDF: 0Nghiên cứu tập đoàn nguồn gen lúa gồm 300 mẫu giống được thu thập từ các vùng sinh thái khác nhau tại một số tỉnh phía Bắc. Kết quả đánh giá ban đầu với 54 tính trạng cho thấy, 282/300 mẫu giống (94,0%) có thời gian sinh trưởng trung ngày, số mẫu giống còn lại thuộc nhóm có thời gian sinh trưởng ngắn ngày và dài ngày. Các mẫu giống biểu hiện mức độ đa dạng khá cao về đặc điểm hình thái và nông học: Màu sắc vỏ gạo của tập đoàn khá đa dạng gồm: Trắng, nâu nhạt, nâu, đỏ, tím 1 phần và tím. Phần lớn hạt có kích thước lớn, trong đó một số mẫu biểu hiện tiềm năng năng suất cao. Kết quả đánh giá cũng cho thấy sự thay đổi điều kiện sinh thái trồng trọt có thể làm biến đổi một số đặc điểm hình thái của các nguồn gen, đặc biệt đối với những nguồn gen được thu thập từ các tỉnh miền núi phía Bắc.
-
NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH MẬT ĐỘ TRỒNG THÍCH HỢP CHO GIỐNG ĐẬU ĐEN ĐEV19 TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI VÀ TỈNH NGHỆ AN
Abstract : 29 PDF: 0Đậu đen là cây trồng ngắn ngày, giàu dinh dưỡng và có vai trò quan trọng trong luân canh. Giống đậu đen ĐEV19 mới được tuyển chọn, hiện chưa có nghiên cứu về mật độ trồng thích hợp. Nghiên cứu này được tiến hành trong vụ xuân và vụ hè tại thành phố Hà Nội và tỉnh Nghệ An nhằm xác định mật độ trồng phù hợp cho giống. Thí nghiệm gồm 5 công thức mật độ (15, 20, 25, 30, 35 cây/m²), bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ với 3 lần nhắc lại. Kết quả cho thấy, thời gian sinh trưởng dao động 71 - 95 ngày tùy vụ và địa điểm. Thời gian sinh trưởng và số cành cấp 1/cây giảm khi mật độ tăng. Trong vụ xuân, mật độ 25 - 30 cây/m² cho năng suất cao nhất, đạt 2,31 - 2,40 tấn/ha tại thành phố Hà Nội và 1,77 - 1,86 tấn/ha tại tỉnh Nghệ An. Trong vụ hè, năng suất cao nhất ở mật độ 20 - 25 cây/m², đạt 1,54 - 1,62 tấn/ha tại thành phố Hà Nội và 1,65 - 1,75 tấn/ha tại tỉnh Nghệ An. Như vậy, mật độ thích hợp cho giống ĐEV19 là 25 - 30 cây/m² trong vụ xuân và 20 - 25 cây/m² trong vụ hè.
-
NHÂN GIỐNG IN VITRO LAN NGỌC ĐIỂM (Rhynchostylis gigantea L.) HÒN HÈO
Abstract : 56 PDF: 0Ngọc Điểm Hòn Hèo là một trong những loài phong lan bản địa quý của Việt Nam. Việc áp dụng kỹ thuật nuôi cấy mô tế bào thực vật không chỉ góp phần lưu giữ nguồn gen quý mà còn giúp nhân nhanh tạo nguồn cây giống với số lượng lớn. Kết quả nghiên cứu cho thấy, chồi đỉnh lan Ngọc Điểm Hòn Hèo được khử trùng với dung dịch Javel 50% trong 20 phút cho tỷ lệ mẫu sống vô trùng đạt 33,3%. Môi trường MS có bổ sung BA 1 mg/L và IBA 1 mg/L thích hợp cho việc cảm ứng tạo PLBs từ chồi với số lượng đạt 2,22 PLBs/mẫu sau 8 tuần nuôi cấy. Môi trường MS có bổ sung 30% nước dừa thích hợp cho quá trình nhân nhanh chồi. Môi trường VW thích hợp cho việc tạo cây hoàn chỉnh. Cây Ngọc Điểm Hòn Hèo cấy mô đạt tỷ lệ sống 94,7% sau 240 ngày trồng trên giá thể gồm 1 rêu rừng : 1 than củi và tưới 1 lần/ngày .
-
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ DIỆT VI KHUẨN Vibrio parahaemolyticus CỦA CÁC LOẠI THẢO DƯỢC CHIẾT XUẤT BẰNG QUI TRÌNH TỐI ƯU
Abstract : 67 PDF: 0Nghiên cứu đánh giá hiệu quả diệt vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus của ba loại thảo dược là trầu không (Piper betle), húng quế (Ocimum basilicum) và rau má (Centella asiatica) được chiết xuất bằng qui trình tối ưu. Ba điều kiện chiết xuất được thử nghiệm nhằm lựa chọn thông số tối ưu bao gồm: i) nồng độ dung môi ethanol (30, 50, 70, 95%); ii) thời gian ngâm mẫu (3, 5, 7, 9 ngày); iii) tỷ lệ giữa khối lượng mẫu thảo dược (g) và dung tích dung môi (mL) (1 : 10, 1 : 20, 1 : 30, 1 : 40). Kết quả nghiên cứu đã xác định được quy trình chiết xuất tối ưu bao gồm các thông số: (i) dung môi ở nồng độ 70%; (ii) thời gian ngâm trong 7 ngày; (iii) tỷ lệ 1 : 30 cho trầu không và húng quế và tỷ lệ 1 : 40 cho rau má. Sau đó, dịch chiết từ quy trình tối ưu được so sánh với dịch chiết từ qui trình chưa tối ưu để xác định đường kính vòng vô khuẩn (ZDI), nồng độ ức chế tối thiểu (MIC), nồng độ diệt khuẩn tối thiểu (MBC) và khả năng diệt vi khuẩn V. parahaemolyticus đang trong giai đoạn tăng sinh. Quá trình tối ưu đã giúp gia tăng ZDI của dịch chiết trên vi khuẩn lên đến 1,5 lần (P < 0,05), cũng như giảm đến 2 lần các thông số MIC và MBC. Ngoài ra, dịch chiết từ qui trình tối ưu cũng giúp giảm đến 10 lần lượng vi khuẩn đang trong giai đoạn tăng sinh (P < 0,05) so với dịch chiết từ qui trình chưa được tối ưu. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hiệu quả diệt vi khuẩn của thảo dược từ qui trình chiết xuất tối ưu được gia tăng và tiềm năng sử dụng chúng trong xử lý V. parahaemolyticus ở ao nuôi tôm.
-
HIỆU QUẢ CỦA SẢN PHẨM NPK POLYPHOSPHATE LÊN NĂNG SUẤT LÚA TRÊN ĐẤT PHÈN TẠI TỈNH TÂY NINH
Abstract : 50 PDF: 0Trên đất phèn, phân lân (P) sau khi bón thường bị cố định nhanh chóng do phản ứng với các ion Al³⁺ và Fe³⁺, làm giảm tính hữu dụng của P đối với cây trồng. Việc lựa chọn loại phân bón phù hợp sẽ góp phần cải thiện năng suất lúa trên loại đất này. Mục tiêu nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả của phân NPK polyphosphate đối với sinh trưởng, năng suất lúa và hàm lượng P thành phần trong đất phèn tại tỉnh Tây Ninh. Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 6 nghiệm thức và 3 lần lặp lại ở vụ đông xuân năm 2023 - 2024: (1) NPK 16-16-8 + TE công nghệ polyphosphate (SPM6), (2) NPK 16-16-8 + TE công nghệ vo viên hơi nước (SPM7), (3) NPK 16-16-8 + 13S công nghệ vo viên hơi nước (SPM8), (4) NPK đơn, (5) khuyết NPK và (6) khuyết P. Kết quả cho thấy, nghiệm thức SPM6 đạt năng suất lúa cao nhất và khác biệt có ý nghĩa thống kê so với SPM8, NPK đơn, khuyết NPK và khuyết P; đồng thời đạt hiệu quả nông học sử dụng P cao nhất. Tuy nhiên, hàm lượng P cố định bởi liên kết với Al³⁺ và Fe³⁺ khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức.
-
PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ HÀM LƯỢNG CÁC THÀNH PHẦN DINH DƯỠNG TRONG TIỀN NHỘNG RUỒI LÍNH ĐEN (Hermetia illucens) LÀM THỨC ĂN CHĂN NUÔI
Abstract : 48 PDF: 0Nghiên cứu được thực hiện nhằm phân tích hàm lượng các thành phần dinh dưỡng của tiền nhộng (pre-pupae) ruồi lính đen (Hermetia illucens) ở các giai đoạn phát triển khác nhau, đồng thời xác định điều kiện nuôi tối ưu cho tích lũy sinh khối và dinh dưỡng trong mô hình Heril nuôi thực nghiệm ruồi lính đen. Kết quả cho thấy, pH chất nền nuôi ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ sống và sinh khối của ấu trùng. Tỷ lệ sống từ ấu trùng đến tiền nhộng đạt cao nhất ở các mức pH 6,0 - 8,0 (98,44 - 99,44%), trong khi giảm đáng kể ở pH 2,0; 4,0 và 10,0. Sinh khối ấu trùng tại các mức pH trung tính và hơi kiềm cao hơn so với các mức pH còn lại. Phân tích thành phần hóa học cho thấy, hàm lượng ẩm của ấu trùng đạt 77,95% ở giai đoạn 28 ngày tuổi; hàm lượng tro đạt 9,42%; 10,03%; 12,67% ở các giai đoạn 4, 14, 28 ngày tuổi. Hàm lượng protein thô của ấu trùng ở các giai đoạn 4, 14, 28 ngày tuổi lần lượt là 44,7%; 45,0%; 48,6%, trong khi hàm lượng lipid tương ứng là 17,4%; 15,4%; 21,5%. Kết quả nghiên cứu cho thấy, ấu trùng và tiền nhộng ruồi lính đen là nguồn nguyên liệu giàu dinh dưỡng, có tiềm năng sử dụng làm nguồn bổ sung thay thế một phần các nguyên liệu truyền thống trong thức ăn chăn nuôi.
-
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM MÌ GẠO BỔ SUNG BỘT BÍ NGÔ TRÒN (Cucurbita moschata Duchesne)
Abstract : 53 PDF: 0Bí ngô tròn (Cucurbita moschata Duchesne) là nguồn thực phẩm giàu carotenoid, polyphenol và khoáng chất, nhưng hiện chủ yếu được tiêu thụ tươi hoặc qua chế biến đơn giản. Trong khi đó, mì gạo là sản phẩm truyền thống được ưa chuộng song còn hạn chế về hợp chất hoạt tính sinh học (carotenoid, polyphenol) và khoáng. Nghiên cứu này nhằm phát triển mì gạo bổ sung bột bí ngô tròn để đa dạng hóa sản phẩm và nâng cao giá trị dinh dưỡng - sinh học, với mục tiêu tăng cường carotenoid, polyphenol và kali. Nguyên liệu bí ngô tròn giàu hàm lượng carotenoid (9,368 ± 0,4 mg/100 g), polyphenol (87,537 ± 0,54 mg GAE/100 g) và kali (213,552 ± 0,32 mg/100 g). Điều kiện thích hợp được xác định gồm: Sấy bột bí ngô tròn ở 50°C trong 12 giờ, sấy sợi mì ở 50°C trong 3 giờ thu được sản phẩm mì giàu carotenoid (2,573 ± 0,025 mg/100 g), polyphenol (58,796 ± 0,25 mg GAE/100 g) và kali (66,06 ± 2,03 mg/100g); đáp ứng yêu cầu an toàn về kim loại nặng, không phát hiện nấm men, nấm mốc. Mì được nấu ở 100°C trong 7 phút có màu vàng cam tự nhiên, vị ngọt nhẹ, mùi thơm đặc trưng và độ dai phù hợp. Nghiên cứu này khẳng định tính khả thi và tiềm năng ứng dụng thực tế của sản phẩm mì gạo bổ sung bí ngô.
-
TINH CHỈNH TIÊU CHUẨN IUCN BẰNG PHÂN TÍCH NHÂN TỐ KHÁM PHÁ TRONG ĐÁNH GIÁ GIẢI PHÁP BẢO VỆ BỜ SÔNG THUẬN THIÊN TẠI TỈNH AN GIANG
Abstract : 49 PDF: 0Nghiên cứu này nhằm đánh giá mức độ phù hợp của bộ tiêu chuẩn IUCN khi áp dụng cho ba giải pháp bảo vệ bờ sông tại tỉnh An Giang, bao gồm: Kè vỏ xe, kè túi vải địa kỹ thuật và kè cừ tràm. Dữ liệu khảo sát được phân tích bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá (EFA). Kết quả cho thấy, kè vỏ xe có độ tin cậy cao nhất với bảy trên tám tiêu chí vượt ngưỡng Alpha 0,7; kè cừ tràm đạt mức trung bình; trong khi kè túi vải địa kỹ thuật thể hiện sự thiếu ổn định ở nhiều tiêu chí. Sau khi loại bỏ các chỉ báo yếu, EFA đã rút gọn từ 28 chỉ báo xuống còn 13 chỉ báo, được sắp xếp thành ba nhóm nhân tố chính: (i) Quản trị - Cân bằng lợi ích - Chính sách, (ii) Xã hội và thiết kế quy mô phù hợp, (iii) Tài chính và nguồn lực sinh thái, với tổng phương sai giải thích đạt 61,2%. Kết quả này cho thấy, bộ tiêu chuẩn IUCN cần được tinh chỉnh để phản ánh rõ hơn điều kiện thực tiễn của ĐBSCL nói chung, tỉnh An Giang nói riêng, đồng thời khẳng định tầm quan trọng của quản trị, tài chính và cân bằng xã hội - sinh thái trong việc triển khai các giải pháp bảo vệ bờ dựa vào tự nhiên.
-
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, PHÂN BỐ VÀ TÁI SINH CỦA LOÀI KHÔI TÍA (Ardisia sylvestris Pitard) TẠI VƯỜN QUỐC GIA CÚC PHƯƠNG
Abstract : 380 PDF: 0Khôi tía (Ardisia sylvestris Pitard) là loài thực vật bản địa phân bố rộng rãi tại các khu rừng nhiệt đới ẩm lá rộng thường xanh của Việt Nam. Đây là loài cây có giá trị cao, được sử dụng phổ biến trong y học cổ truyền để điều trị các bệnh về dạ dày, viêm loét và hỗ trợ tiêu hóa… Kết quả nghiên cứu tại Vườn Quốc gia Cúc Phương cho thấy, Khôi tía có chiều cao trung bình từ 0,5 - 3,0 m; thân thường ở dạng đơn trục, vỏ nhẵn, không có lông và có màu xám nhạt; phần thân rễ bò có cấu trúc rỗng xốp; lá đơn, mọc cách, tập trung ở phần ngọn, phiến lá hình mác dài từ 15 - 30 cm; hoa mọc thành chùm, dài 10 - 15 cm, trục chính mang 4 - 6 trục thứ cấp, mỗi trục mang 5 - 10 hoa tập hợp thành tán. Về đặc điểm phân bố, Khôi tía phân bố ở khu vực có khí hậu mát và ẩm quanh năm, nhiệt độ trung bình khoảng 22,5oC, độ ẩm trung bình là 85%; lượng mưa trung bình 1.680 mm/năm; đất có dung trọng dao động từ 1,06 - 1,15, tầng đất mặt có nhiều mùn và ẩm, tầng đất dày trên 70 cm, thành phần cơ giới đất từ thịt nhẹ, trung bình đến nặng, tỉ lệ lẫn đá ít, khả năng thấm, thoát nước tốt, có độ chua từ chua ít đến rất chua. Số lượng cá thể Khôi tía phân bố dao động từ 50 - 380 cây/ha, tập trung nhiều nhất tại các trạng thái rừng IIIA2, IIIB, nơi có độ tàn che cao. Loài Khôi tía có khả năng tái sinh hạt tốt, cây tái sinh chủ yếu ở phẩm chất A.
-
NGHIÊN CỨU TIỀM NĂNG SỬ DỤNG CÁC LOÀI THỰC VẬT Ở VIỆT NAM LÀM THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT THẢO MỘC
Abstract : 118 PDF: 0Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) thảo mộc là công cụ quan trọng trong quản lý dịch hại tổng hợp, đặc biệt trong bối cảnh phát triển nông nghiệp hữu cơ. Tổng hợp các nghiên cứu cho thấy, đã có 571 loài thực vật được sàng lọc (giai đoạn 2007 - 2014), trong đó 48 loài có hoạt tính trừ sâu khoang (S. litura) và 237 loài có hoạt tính trừ nấm bệnh (B. cinerea, C. gloeosporioides). Hiện có 189 loại thuốc BVTV thảo mộc được phép sử dụng ở Việt Nam (chiếm 18% tổng số thuốc BVTV sinh học), chủ yếu từ 5 hoạt chất: Matrine, azadirachtin, saponin, rotenone và eugenol, nhưng hầu hết đều nhập khẩu hoặc đóng gói trong nước. Việt Nam sở hữu nguồn nguyên liệu phong phú như: Neem (Azadirachta indica), ruốc cá (Derris spp.), khổ sâm (Sophora spp.), thanh hao (Artemisia spp.), bạch đàn (Eucalyptus spp.), tràm (Melaleuca spp.) với tiềm năng và khả năng ứng dụng cao. Để phát triển thuốc BVTV thảo mộc quy mô công nghiệp, cần tăng cường nghiên cứu sàng lọc các loài cây giàu tài nguyên, chi phí thấp và dễ ứng dụng, đồng thời tăng cường hợp tác quốc tế để tiếp cận công nghệ tiên tiến, tạo đà phát triển bền vững cho ngành thuốc BVTV thảo mộc Việt Nam.








