Số 11 (2025)

					Xem Số 11 (2025)
Đã Xuất bản: 15-06-2025

Bài viết

  • KẾT QUẢ XÂY DỰNG MÔ HÌNH SẢN XUẤT THƯƠNG PHẨM GIỐNG KHOAI LANG PHỔ CƯỜNG ĐÃ ĐƯỢC PHỤC TRÁNG TẠI THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI

    Abstract : 369 PDF: 0
    Vũ Văn Tùng, Nguyễn Kim Chi, Hoàng Thị Nga, Nguyễn Thị Hoa, Hoàng Thị Lan Hương, Đỗ Thị Lan, Nguyễn Thị Sáng
    3-11

    Giai đoạn 2020 - 2024, Trung tâm Tài nguyên thực vật đã tiến hành thực hiện các nội dung thuộc nhiệm vụ “Đánh giá tiềm năng di truyền và phát triển nguồn gen khoai lang ở Việt Nam”, trong số đó có hoạt động đánh giá, chọn lọc (phục tráng) đối với giống khoai lang Phổ Cường là giống chủ lực của địa phương tại xã Phổ Cường, thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi. Kết quả của mô hình sản xuất giống khoai lang Phổ Cường đã phục tráng năm 2024 cho thấy, giống sinh trưởng, phát triển rất tốt, kháng bọ hà nhẹ (1,1%), virus (0%); trong khi giống chưa được phục tráng nhiễm họ hà và virus tương ứng 2,7% và 9%. Về năng suất, giống khoai lang Phổ Cường được phục tráng cho năng suất đạt 17,5 tấn/ha, vượt 37,8% so với giống khoai lang Phổ Cường chưa được phục tráng, chỉ đạt 12,7 tấn/ha. Với giá thành sản phẩm cao nên hiệu quả kinh tế của mô hình sản xuất giống khoai lang Phổ Cường đã phục tráng cao hơn so với giống đối chứng khoai lang chưa phục tráng, lãi thuần đạt 107,476 triệu đồng/ha, so với 74,396 triệu/ha lãi thuần của mô hình canh tác giống khoai lang Phổ Cường chưa phục tráng.

    DOI: https://doi.org/10.71254/pyf13341
  • KHẢO NGHIỆM MỘT SỐ GIỐNG SẮN KHÁNG BỆNH KHẢM LÁ TẠI THÀNH PHỐ HUẾ

    Abstract : 463 PDF: 0
    Trịnh Thi Sen, Nguyễn Vĩnh Trường
    12-19

    Nghiên cứu được tiến hành trên 5 giống sắn nhằm xác định được giống có khả năng sinh trưởng tốt, cho năng suất, hàm lượng tinh bột và khả năng kháng bệnh khảm lá sắn cao, thích nghi với điều kiện sinh thái ở thành phố Huế. Khảo nghiệm diện hẹp được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn (RCBD) với 4 lần nhắc lại, tại phường Hương Xuân, thị xã Hương Trà trong vụ xuân năm 2022 và khảo nghiệm diện rộng được bố trí theo kiểu ô lớn, không lặp lại, có đối chứng trong vụ xuân năm 2023 tại phường Hương Xuân, thị xã Hương Trà và phường Phong Hiền, thị xã Phong Điền, thành phố Huế. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các giống sắn có khả năng sinh trưởng tốt, năng suất đạt từ 31,35 - 50,84 tấn/ha, hàm lượng tinh bột cao, đạt từ 30,50 - 35,10% và khả năng kháng bệnh khảm lá sắn của các giống là khác nhau. Nghiên cứu đã tuyển chọn được giống triển vọng nhất là giống HN5, năng suất khảo nghiệm diện hẹp đạt 50,84 tấn/ha, khảo nghiệm diện rộng đạt 34,35 tấn/ha, hàm lượng tinh bột đạt 30,50%, kháng hoàn toàn bệnh khảm lá sắn. Nghiên cứu khuyến nghị cần đẩy nhanh thủ tục tự công bố lưu hành giống HN5 tại thành phố Huế để sớm nhân rộng phục vụ sản xuất.

    DOI: https://doi.org/10.71254/a6r5xx90
  • ẢNH HƯỞNG CỦA TỶ LỆ BỔ SUNG PHÂN TRÙN QUẾ VÀO GIÁ THỂ TRỒNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA DƯA LƯỚI TRỒNG TRONG NHÀ MÀNG TẠI TỈNH NINH THUẬN

    Abstract : 343 PDF: 0
    NguyễnVăn Sơn, Trần Thị Thảo, Trịnh Thị Vân Anh
    20-28

    Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 12 năm 2024 đến tháng 2 năm 2025 nhằm đánh giá ảnh hưởng của tỷ lệ bổ sung phân trùn quế vào giá thể trồng đến khả năng sinh trưởng, năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế của giống dưa lưới Huỳnh Long trồng trong nhà màng tại tỉnh Ninh Thuận. Thí nghiệm được bố trí khối hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 5 công thức: (1) Không bổ sung phân trùn quế (đối chứng), (2) bổ sung 10% phân trùn quế, (3) bổ sung 20% phân trùn quế, (4) bổ sung 30% phân trùn quế, (5) bổ sung 40% phân trùn quế và 3 lần lặp lại. Kết quả cho thấy, dưa lưới được trồng với công thức bổ sung 30% phân trùn quế vào giá thể cho khả năng sinh trưởng tốt nhất so với các công thức còn lại với thời gian sinh trưởng 78 ngày; chiều dài quả 23,2 cm; đường kính quả 15,2 cm; khối lượng quả trung bình 1,75 kg; năng suất 3.840 kg/1.000 m2; tỷ lệ quả loại 1 đạt 87%; độ Brix 16,1% và hiệu quả kinh tế đạt 33,289 triệu đồng/1.000 m2.

    DOI: https://doi.org/10.71254/ka700q50
  • KHẢO SÁT KHẢ NĂNG TRÍCH LY HỢP CHẤT PHENOLIC TRONG LÁ ĐINH LĂNG (Polyscias fruticosa L.) BẰNG NHIỆT VÀ CÓ HỖ TRỢ VI SÓNG

    Abstract : 656 PDF: 0
    Dương Thị Phượng Liên, Dương Hiếu Đẩu, Dương Kim Thanh
    29-38

    Đinh lăng là một loại cây dược liệu được sử dụng nhiều trong y học do có hoạt tính chống oxy hóa, chống viêm và hạ sốt. Hai yếu tố ảnh hưởng chính đến quá trình trích ly là nhiệt độ (30 - 90oC, mỗi mức độ can thiệp cách nhau 10oC) và thời gian trích ly (10 - 60 phút, mỗi mức độ can thiệp cách nhau 10 phút), được bố trí theo phương pháp giai thừa trong thí nghiệm khảo sát. Phương pháp trích ly có hỗ trợ của vi sóng (Microwave-assisted extraction - MAE) được bố trí theo phương pháp giai thừa với hai nhân tố là công suất (70, 210, 350 W), cùng với thời gian trích ly (10 - 30 giây, mỗi mức độ can thiệp cách nhau 5 giây). Quá trình trích ly sử dụng dung môi nước với tỷ lệ nguyên liệu: dung môi 1: 25 (w/v). Hiệu quả trích ly hợp chất phenolic trong lá đinh lăng được thể hiện qua hàm lượng phenolic tổng số (TPC), flavonoid tổng số (TFC) và khả năng loại gốc tự do DPPH (1,1-diphenyl-2-picrylhydrazyl) trong nguyên liệu trích. Kết quả phân tích hồi quy TPC, TFC và khả năng loại gốc tự do DPPH theo nhiệt độ và thời gian trích cùng với kết quả giải phương trình vi phân tìm nghiệm thức tối ưu cho thấy, với nhiệt độ 60,0oC và thời gian 39,7 phút cho TPC tối ưu (29,1 mg GAE/g), nhiệt độ 63,5oC với thời gian 42,8 phút cho TFC tối ưu (15,1 mg QE/g) và nhiệt độ 55,7oC với thời gian 49,2 phút cho khả năng loại gốc tự do tối ưu (69,0%). Phương pháp trích ly có hỗ trợ vi sóng đạt hiệu quả cao hơn. Với công suất 210 W, thời gian 25 giây, TPC, TFC và khả năng loại gốc tự do DPPH lần lượt là 35,1 mg GAE/g, 22,0 mg QE/g và 79,6%.

    DOI: https://doi.org/10.71254/pkgs8z12
  • ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ ĐỘ CHẦN ĐẾN HÀM LƯỢNG AMYGDALIN VÀ TÍNH CHẤT HÓA LÝ CỦA BỘT KHOAI TỪ (Dioscorea esculenta L.)

    Abstract : 576 PDF: 0
    Phạm Hồ Phượng Anh, Võ Trung Kiên, Nguyễn Nhật Khoa, Phan Thị Hà Phương, Nhan Minh Trí
    39-50

    Khoai từ (Dioscorea esculenta L.) giúp ổn định chỉ số đường huyết, chống viêm, chống đái tháo đường và kháng khuẩn. Tuy nhiên, khoai từ có chứa độc tố amygdalin gây đắng và chóng mặt. Mục đích của nghiên cứu này là đánh giá mức độ ảnh hưởng của nhiệt độ chần (70, 80, 90oC) và thời gian chần (60, 80, 90 giây) khi xử lý nhiệt miếng khoai từ (bề dày 2 - 3 mm) đến sự thay đổi hàm lượng amygdalin, màu sắc, độ trương nở, tính chất nhớt RVA (Rapid Viscosity Analysis) và độ cứng gel của bột khoai từ. Kết quả cho thấy, nhiệt độ chần đóng vai trò chủ đạo (chiếm 50 - 80%) trong việc làm giảm hàm lượng amygdalin, thay đổi các thông số RVA và độ cứng gel. Thời gian chần cũng góp phần đáng kể (10 - 30%) vào sự biến đổi màu sắc, độ trương nở và các đặc tính khác. Cụ thể, việc tăng nhiệt độ chần từ 70 - 90oC dẫn đến bột khoai từ có hàm lượng amygdalin giảm 10%; độ trương nở giảm 21%; độ nhớt cuối giảm 41%; nhiệt độ hồ hóa giảm 12%; độ cứng gel giảm 81%; nhưng ảnh hưởng không đáng kể đến giá trị sáng (L) và độ trắng (WI). Độ cứng gel của bột khoai từ có mối tương quan thuận chiều với độ nhớt, độ trương nở. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, khoai từ được chần ở nhiệt độ 80°C trong 90 giây là điều kiện tối ưu để bột khoai từ có hàm lượng amygdalin thấp nhất (68,38 mg/100 g CK), nhưng đạt giá trị cao nhất về giá trị độ sáng L (93,53); giá trị độ trắng WI (85,15); độ cứng gel (0,47 N/cm2) và không thay đổi đáng kể độ trương nở (11,14 g/g CK); nhiệt độ hồ hóa (92,08oC) và độ nhớt cuối (3.438,5 cP).

    DOI: https://doi.org/10.71254/ncnfad41
  • PHÂN LẬP, ĐÁNH GIÁ ĐỘ NHẠY VỚI KHÁNG SINH CỦA VI KHUẨN Flavobacterium columnare GÂY BỆNH TRÊN CÁ CHÉP NUÔI TẠI MIỀN BẮC

    Abstract : 413 PDF: 0
    Trương Đình Hoài, Đặng Thị Hóa, Trần Thị Trinh, Nguyễn Thị Thanh Loan,Nguyễn Văn Phong, Nguyễn Thị Hương Giang, Đoàn Thị Nhinh, Kim Văn Vạn
    51-60

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định một số dấu hiệu đặc trưng của bệnh, phân lập, định danh và đánh giá hiện trạng kháng kháng sinh của vi khuẩn Flavobacterium columnare gây bệnh trên cá chép ở một số tỉnh miền Bắc. Tổng số 145 mẫu cá chép nghi nhiễm F. columnare được thu từ 27 hộ nuôi thuộc 3 tỉnh/thành: Hà Nội, Hải Dương và Bắc Ninh để phục vụ nghiên cứu. Kết quả cho thấy, mẫu cá chép nhiễm bệnh có các dấu hiệu đặc trưng như: Mang xơ trắng, hoại tử, xơ vây và da bạc màu. Các chủng phân lập được từ cá nhiễm bệnh đều có khuẩn lạc vàng, dạng rễ đặc trưng, bám sâu vào mặt thạch, vi khuẩn Gram âm, dạng sợi, có tính di động. Sau khi giám định sinh hóa và sinh học phân tử 27 chủng vi khuẩn đại diện của 27 hộ nuôi (1 chủng/hộ) cho thấy, các chủng phân lập được đều là vi khuẩn F. columnare. Kết quả cảm nhiễm một chủng đại diện bằng phương pháp ngâm xác định liều gây chết 50% (LD50) là 3,8 x 105 CFU/ml, cá cảm nhiễm biểu hiện các dấu hiệu điển hình của bệnh tương tự mẫu thu ngoài tự nhiên. Vi khuẩn F. columnare gây bệnh trên cá chép có tỷ lệ nhạy cao với 5/6 loại kháng sinh doxycycline, oxytetracycline, amoxicillin, florfenicol, erythromycin, trong khi tỷ lệ chủng kháng với hỗn hợp kháng sinh sulfamethoxazole/trimethoprim khá cao (25,9%). Kết quả nghiên cứu đã cung cấp thông tin quan trọng phục vụ chẩn đoán và là cơ sở để xây dựng biện pháp phòng và kiểm soát bệnh.

    DOI: https://doi.org/10.71254/3k6cf594
  • QUAN HỆ GIỮA MỘT SỐ ĐẶC TÍNH CỦA ĐẤT FERALIT VÀNG ĐỎ VỚI RỪNG TRỒNG THÔNG BA LÁ (Pinus kesiya Royle ex Gordon) TẠI KHU VỰC BẢO LÂM THUỘC TỈNH LÂM ĐỒNG

    Abstract : 650 PDF: 0
    Lê Văn Cường
    61-70

    Mục tiêu của nghiên cứu này là phân tích quan hệ giữa một số đặc tính của đất feralit vàng đỏ trên đá phiến sét với rừng trồng Thông ba lá. Số liệu nghiên cứu bao gồm 20 ô tiêu chuẩn 500 m2 và 100 phẫu diện đất. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng: (1) Sự phát triển của rừng trồng Thông ba lá dẫn đến giảm pH, dung trọng và hàm lượng cát, nhưng làm tăng độ ẩm đất, hàm lượng sét và thịt, hàm lượng các bon hữu cơ, chất hữu cơ, nitơ tổng số, phốt pho tổng số và lân dễ tiêu; (2) Hàm lượng chất hữu cơ trong đất feralit vàng đỏ dưới tán của rừng trồng Thông ba lá không chỉ phụ thuộc vào 4 yếu tố của đất như: Dung trọng, pH H2O, nitơ tổng số và phốt pho dễ tiêu, mà còn cả sinh khối cây tầng thấp, khối lượng vật rơi rụng trên sàn rừng, chỉ số phức tạp về cấu trúc và trữ lượng gỗ của rừng trồng Thông ba lá.

    DOI: https://doi.org/10.71254/z4ewww62
  • XÂY DỰNG MÔ HÌNH QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC

    Abstract : 457 PDF: 0
    Nguyễn Đình Trung
    71=82

    Nghiên cứu nhằm xây dựng và đề xuất giải pháp quản lý, sử dụng hiệu quả mô hình quản lý chất lượng đất nông nghiệp tại huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. Các phương pháp sử dụng là: Thu thập số liệu thứ cấp, điều tra thực địa, phân tích đất, xây dựng bản đồ chất lượng đất, xây dựng cơ sở dữ liệu chất lượng đất. Kết quả nghiên cứu cho thấy, huyện Yên Lạc có tổng diện tích tự nhiên là 10.765,18 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 69,28%. Chồng xếp 6 bản đồ đơn tính để xây dựng bản đồ đơn vị đất đai với 47 đơn vị đất đai, 625 khoanh đất. Từ đó, xây dựng bản đồ thích hợp đất đai với 3 loại sử dụng đất (LUT) chính là: Lúa, rau màu và cây ăn quả. Mô hình gồm 6 module chính là: Module hệ thống, module cập nhật cơ sở dữ liệu, module xử lý dữ liệu, module khai thác cơ sở dữ liệu, module quản lý và khai thác trực tuyến, module hỗ trợ. Mô hình được thiết kế trên nền WebGIS và có các chức năng thống kê, tra cứu thông tin, chỉ đạo sản xuất và tích hợp đồng bộ cơ sở dữ liệu giúp các nhà quản lý, doanh nghiệp và người dân khai thác và sử dụng thông tin trong quá trình sản xuất nông nghiệp. Để quản lý và khai thác hiệu quả mô hình, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau: Hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, phần mềm; đồng bộ hệ thống cơ sở dữ liệu và kết nối thông tin; nguồn nhân lực; tổ chức thực hiện.

    DOI: https://doi.org/10.71254/sgea9c39
  • PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH NÔNG NGHIỆP ĐÔ THỊ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ TĨNH, TỈNH HÀ TĨNH

    Abstract : 323 PDF: 0
    Trần Trọng Phương, Trần Đức Viên, Trần Văn Khải
    83=91

    Nông nghiệp đô thị đã và đang góp phần rất lớn trong việc tham gia giải quyết các vấn đề khó khăn của các quốc gia trong quá trình đô thị hóa. So với canh tác truyền thống, nông nghiệp đô thị hiệu quả hơn, bền vững hơn, sản phẩm hữu cơ trở nên dễ tiếp cận hơn, tạo không gian nhỏ thân thiện... Kết quả nghiên cứu cho thấy, năm 2024 trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh đã hình thành vùng sản xuất chuyên canh theo hướng cánh đồng mẫu lớn với tổng diện tích 126,10 ha ở 6 xã, phường. Ngoài ra, có 5 cơ sở sản xuất đạt các chứng nhận theo tiêu chuẩn VietGap và 2 cơ sở đang hoàn thiện quy trình, hồ sơ để được cấp chứng nhận VietGap. Để phát triển nông nghiệp đô thị trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh đến năm 2030 cần thực hiện đồng bộ các giải pháp như sau: Có cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp, nông thôn; hoàn thiện quy hoạch không gian phát triển nông nghiệp đô thị thống nhất với quy hoạch chung của thành phố Hà Tĩnh đến năm 2030, tầm nhìn 2050; xây dựng, tổ chức sản xuất theo định hướng sản phẩm; giải pháp về thông tin, tuyên truyền, chỉ đạo sản xuất.

    DOI: https://doi.org/10.71254/wartj098
  • NGHIÊN CỨU YẾU TỐ NHÂN KHẨU HỌC ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI MUA THỰC PHẨM CHAY CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ

    Abstract : 499 PDF: 0
    Tống Thị Ánh Ngọc, Nguyễn Cẩm Tú, Phan Nguyễn Trang
    92-100

    Nghiên cứu khảo sát 1.093 người tiêu dùng (NTD) tại thành phố Cần Thơ và phân tích ảnh hưởng của một số yếu tố nhân khẩu học đến hành vi mua thực phẩm chay (TPC) của NTD. Kết quả cho thấy, có 56,5% NTD là nữ và 70% NTD có độ tuổi từ 15 - 29. Hầu hết NTD không theo tôn giáo, có trình độ học vấn từ trung học phổ thông trở lên, với đa số NTD có thu nhập <3 triệu đồng/tháng và có thời gian ăn chay > 5 năm. Kết quả cũng cho thấy, 73,9% NTD mua TPC ở chợ và theo kinh nghiệm cá nhân (79,4%). Nhóm sản phẩm (chay) nấu sẵn thành món được mua nhiều nhất bởi NTD và khoảng 2/3 bị ảnh hưởng bởi các yếu tố: “ngon, hợp khẩu vị”, “chất lượng sản phẩm” và “an toàn, hợp vệ sinh” khi mua TPC. Nghiên cứu cho thấy, giới tính, độ tuổi, tình trạng hôn nhân, thu nhập và thời gian ăn chay có tác động đến việc lựa chọn TPC và các hành vi mua TPC (p < 0,05). Đa số NTD không đồng ý với các nội dung tiêu cực về TPC (gây dị ứng, không đa dạng, không an toàn, đắt tiền…).

    DOI: https://doi.org/10.71254/m4qvah77