Số 6 (2025)
Bài viết
-
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ TỚI NUÔI CẤY IN VITRO GIỐNG KHOAI TÂY MARABEL (Solanum tuberosum. L)
Abstract : 478 PDF: 0Khoai tây (Solanum tuberosum L.) là loại cây trồng quan trọng ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Chọn giống khoai tây bằng các phương pháp lai truyền thống thường gặp nhiều khó khăn do sự phức tạp của hệ gen khoai tây. Các phương pháp chọn giống chính xác như: Chuyển gen hay chỉnh sửa gen, mặc dù có nhiều ưu điểm nhưng lại phụ thuộc rất lớn vào quy trình nuôi cấy in vitro và tái sinh chồi. Giống khoai tây Marabel có một số đặc tính vượt trội nên rất được ưu chuộng trong sản xuất, tuy nhiên các nghiên cứu về nuôi cấy in vitro giống này chưa có nhiều. Nghiên cứu đã đánh giá ảnh hưởng của một số yếu tố quan trọng lên khả năng tạo mô sẹo của giống khoai tây Marabel và xác định môi trường nuôi cấy tối ưu chứa 2,4-D 1,0 mg/L và Zeatin 1,0 mg/L với hiệu suất đạt 90%. Tỉ lệ mô sẹo tái sinh chồi của giống khoai tây Marabel đạt 31,7% trên môi trường nuôi cấy sử dụng kết hợp Zeatin 1,0 mg/L, NAA 0,1 mg/L. Các kết quả đạt được là tiền đề quan trọng cho việc nghiên cứu quy trình chuyển gen và chỉnh sửa gen cho giống khoai tây Marabel trong tương lai.
-
ĐÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT CỦA BỘ GIỐNG ĐẬU NÀNH NHẬT VỤ XUÂN VÀ HÈ THU NĂM 2018 TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
Abstract : 423 PDF: 0Nghiên cứu đánh giá đặc tính nông học, năng suất của 90 giống đậu nành Nhật nhằm chọn được giống tốt, năng suất cao. Thí nghiệm được bố trí khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 lần lặp lại ở vụ xuân và hè thu tại khu thực nghiệm, Trường Đại học An Giang. Kết quả vụ xuân, đã chọn được 10 giống đậu nành tiềm năng. Trong đó, có 7 giống thuộc nhóm chín rất sớm (067, 077, 078, 080, 081, 082, 179) với thời gian chín từ 79 – 87 ngày và 4 giống thuộc nhóm chín sớm (056, 112, 117, 167) với thời gian chín từ 90 - 95 ngày. Màu sắc vỏ hạt của các giống rất đa dạng như: Vỏ hạt vàng (056, 067, 077, 078, 081, 112, 117, 167), xanh nhạt (082), hoặc đen (179). Khối lượng 100 hạt từ 17,6 - 30,3 g. Giống 112 (Fukuyutaka) đạt năng suất cao (19 - 26,3 g/cây), tiếp theo là giống 056 (Tamahomare) và 117 (Akisengoku).
-
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TUYỂN CHỌN MỘT SỐ GIỐNG HOA CÁT TƯỜNG TẠI HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
Abstract : 353 PDF: 0Kết quả nghiên cứu cho thấy, các giống hoa cát tường có sự đa dạng về hình thái và màu sắc, đóng vai trò quan trọng trong việc lựa chọn giống có tiềm năng sinh trưởng tốt, hoa đẹp và độ bền hoa cao. Nhóm giống Solo và nhóm giống Rosita có đặc điểm riêng về chiều cao, số lá, số cành và đặc điểm hoa. Trong nhóm giống Solo, giống Solo pink picotee và giống Solo yellow nổi bật với chiều cao lớn, số lá nhiều, độ bền cao và tỷ lệ nở hoa tốt. Cụ thể, cây cắt cành của giống Solo pink picotee và giống Solo yellow cao lần lượt là 80,22 và 72,79 cm, số lá trung bình là 64,52 và 59,96; độ bền là 20,21 và 19,11 ngày, tỷ lệ nở hoa là 67,25 và 62,24%. Trong nhóm giống Rosita, giống Rosita 3 blue picotee được đánh giá cao với chiều cao cây cắt cành 73,3 cm, số lá trung bình 61,9, độ bền 20,62 ngày và tỷ lệ nở hoa 68,46%. Do đó, các giống Solo pink picotee, Solo yellow và Rosita 3 blue picotee là lựa chọn phù hợp cho sản xuất đại trà nhờ khả năng sinh trưởng tốt, độ bền hoa dài ngày, đáp ứng nhu cầu thị trường.
-
NGHIÊN CỨU NHÂN GIỐNG LAN KIẾM BA BỂ (Cymbidium aloifolium (L.) Sw.) BẰNG KỸ THUẬT IN VITRO
Abstract : 396 PDF: 0Nghiên cứu này nhằm xây dựng quy trình nhân giống in vitro cây lan kiếm Ba Bể (Cymbidium aloifolium (L.) Sw.) góp phần bảo tồn loài lan này, làm cơ sở cho các nghiên cứu liên quan cũng như cung cấp nguồn giống lan cho thị trường. Quả lan được rửa sạch, khử trùng bằng dung dịch HgCl2 0,1% trong 20 phút, cho tỉ lệ mẫu sống không nhiễm là 66,67%. Môi trường nền thích hợp cho nhân giống là môi trường MS + đường 30 g/l + agar 5,5 g/l; pH = 5,6 - 5,8; cho hệ số nhân chồi đạt 1,69. Để nâng cao hiệu quả nhân nhanh mẫu, bổ sung thêm vào môi trường nền: Nước dừa (100 ml/l) cho hệ số nhân chồi đạt 3,37; BAP (1 mg/l) cho hệ số nhân chồi đạt 3,76; kinentin (1,5 mg/l) cho hệ số nhân chồi đạt 3,52. Giai đoạn ra rễ, mẫu nuôi cấy trên môi trường nền bổ sung NAA 1,5 mg/l cho hệ số nhân rễ đạt 3,72. Khi bổ sung thêm than hoạt tính (THT) 1 g/l, mẫu nuôi cấy trên môi trường nền + NAA 1,5 mg/l + THT 1 g/l, cho hệ số nhân rễ tối ưu đạt 4,4. Giá thể tốt nhất cho cây con in vitro là giá thể bao gồm gỗ và đá bọt pumice (1: 1), với tỉ lệ cây sống sót là 93,33%.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA LIỀU LƯỢNG PHÂN BÓN N-P-K ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ GIỐNG LÚA VIỆT THÀNH 213 TẠI TỈNH THANH HÓA
Abstract : 401 PDF: 0Nghiên cứu được thực hiện trên giống lúa Việt Thành 213 trong 2 vụ (vụ xuân và vụ mùa năm 2022) tại 2 huyện Hoằng Hóa và Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hoá. Thí nghiệm gồm 4 công thức, được bố trí kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ (Randomized Complete Block Design - RCBD), 3 lần nhắc lại, diện tích ô thí nghiệm 20 m2 (4 m x 5 m), đắp bờ ngăn, mật độ cấy 45 khóm/m2 (vụ xuân) và 40 khóm/m2 (vụ mùa), cấy 2 dảnh/khóm. Kết quả nghiên cứu cho thấy, liều lượng phân bón N-P-K đã ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng, phát triển, các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất và hiệu quả kinh tế của giống lúa Việt Thành 213 trong vụ xuân và vụ mùa tại tỉnh Thanh Hóa. Trong vụ xuân, trên nền 1 tấn phân hữu cơ vi sinh (HCVS) Sông Gianh và 400 kg vôi/ha mức phân bón N-P-K được xác định là 90 kg N + 70 kg P2O5 + 80 kg K2O/ha (huyện Hoằng Hóa) và 100 kg N + 80 kg P2O5 + 90 kg K2O/ha (huyện Thiệu Hóa) cho năng suất thực thu cao nhất lần lượt là 67,31 tạ/ha, lãi thuần 20,444 triệu đồng/ha, tỷ suất chi phí lợi nhuận cận biên (MBCR) đạt 3,18 lần và 67,60 tạ/ha, lãi thuần 20,048 triệu đồng/ha, MBCR đạt 2,67 lần. Trong vụ mùa, trên nền 1 tấn phân HCVS Sông Gianh và 400 kg vôi/ha, mức phân bón N-P-K tại huyện Hoằng Hóa và huyện Thiệu Hóa là 80 kg N + 60 kg P2O5 + 80 kg K2O/ha cho năng suất thực thu cao nhất lần lượt là 63,67 tạ/ha, lãi thuần 18,173 triệu đồng/ha, MBCR đạt 3,16 lần và 66,33 tạ/ha, lãi thuần 20,165 triệu, MBCR đạt 3,06 lần.
-
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG TỈ LỆ PHỐI TRỘN GIÁ THỂ VÀ PHÂN BÓN LÊN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CẢI NGỌT (Brassica integrifolia)
Abstract : 371 PDF: 0Thí nghiệm hai nhân tố trên cải ngọt (Brassica integrifolia) trồng trong chậu được thực hiện gồm 3 loại phân bón lá bổ sung và 4 tỷ lệ phối trộn giá thể. Kết quả nghiên cứu cho thấy, không có sự tương tác giữa hai nhân tố phân bón bổ sung qua lá và tỷ lệ phối trộn giá thể. Nhưng có khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ phối trộn lên chiều cao cây, số lá qua các giai đoạn sinh trưởng và thành phần và năng suất cải ngọt. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 3 loại phân nghiên cứu về chỉ tiêu chiều cao cây, số lá ở các giai đoạn trừ khối lượng cây cải ngọt khi thu hoạch. Ảnh hưởng tương tác giữa tỷ lệ phối trộn 50% đất + 40% xơ dừa + 10% phân bò và phân bón chitosan lên chiều cao cây, số lá và năng suất được thể hiện rõ ràng hơn so với phân dịch trùn quế, phân đạm cá và đậu nành.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA XỬ LÝ SAU THU HOẠCH ĐẾN CHẤT LƯỢNG QUẢ CAM SÀNH HÀ GIANG (Citrus sinensis L.)
Abstract : 443 PDF: 0Cam là loại quả có múi dễ hư hỏng do vỏ quả giòn, dễ dập nát và nhiều nấm bệnh trên vỏ quả. Nghiên cứu này nhằm mục đích xác định chế độ xử lý sau thu hoạch phù hợp cho quả cam Sành Hà Giang. Quả cam Sành Hà Giang được xử lý với 7 công thức: (i) Rửa quả bằng nước (đối chứng); (ii) Xử lý vỏ quả bằng dung dịch CaCl2 0,1%; (iii) Xử lý vỏ quả bằng dung dịch CaCl2 0,15%; (iv) Xử lý vỏ quả bằng dung dịch CaCl2 0,2%; (v) Xử lý vỏ quả bằng dung dịch Ca(OH)2 0,1%; (vi) Xử lý vỏ quả bằng dung dịch Ca(OH)2 0,15%; (vii) Xử lý vỏ quả bằng dung dịch Ca(OH)2 0,2%. Kết quả cho thấy, xử lý sau thu hoạch có ảnh hưởng tích cực đến việc duy trì chất lượng và kéo dài thời gian tồn trữ của quả, trong đó mẫu quả cam Sành Hà Giang được xử lý bằng dung dịch CaCl2 0,15% trong 20 phút với bao gói bằng túi LDPE đục lỗ 0,5% diện tích túi và bảo quản ở điều kiện nhiệt độ 16 - 18oC mang lại hiệu quả tốt nhất sau 30 ngày bảo quản: Tỷ lệ thối hỏng 9,58%, độ cứng giảm còn 73,3%, hàm lượng chất khô hoà tan tổng số là 10,0% so với ban đầu, giá trị cảm quan đạt mức khá.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA CAO CHIẾT LÁ VỐI BỔ SUNG VÀO THỨC ĂN LÊN ĐÁP ỨNG MIỄN DỊCH TỰ NHIÊN CỦA TÔM THẺ CHÂN TRẮNG (Litopenaeus vannamei) CẢM NHIỄM Vibrio parahaemolyticus
Abstract : 333 PDF: 0Nghiên cứu được tiến hành để đánh giá ảnh hưởng của việc bổ sung cao chiết lá vối vào thức ăn đến các chỉ tiêu miễn dịch và tính mẫn cảm của tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) với bệnh hoại tử gan tụy cấp tính (AHPND). Tôm có khối lượng từ 1,8 - 2,0 g/con được bố trí ngẫu nhiên trong 12 bể nhựa (30 con/bể) với 4 nghiệm thức (NT), mỗi NT lặp lại 3 lần, gồm: NT 1 cho ăn bổ sung cao chiết lá vối 12,5 g/kg, NT 2: 25 g/kg, NT 3: 37,5 g/kg thức ăn và NT đối chứng (ĐC) không bổ sung cao chiết lá vối. Sau 14 ngày, tôm ở các NT được cảm nhiễm Vibrio parahaemolyticus TX07-3/3 và tiếp tục theo dõi đến ngày 28. Kết quả xác định tỷ lệ sống của tôm trước khi cảm nhiễm V. parahaemolyticus (ngày 14) ghi nhận ở các NT là 100%. Sau 14 ngày cảm nhiễm V. parahaemolyticus TX07-3/3 (ngày 28) tỷ lệ sống ở NT ĐC là 51,1% thấp hơn (p < 0,05) so với các NT thí nghiệm. Số lượng tổng tế bào máu, hoạt tính phenoloxidase và hoạt tính lysozyme trên tôm thẻ chân trắng trước khi cảm nhiễm V. parahaemolyticus TX07-3/3 (ngày 14) ở các NT cho ăn bổ sung cao chiết lá vối cao hơn (p < 0,05) NT đối chứng và không có sự khác biệt về số lượng tổng tế bào máu, hoạt tính phenoloxidase và hoạt tính lysozyme ở tôm được cho ăn bổ sung các nồng độ cao chiết khác nhau (p > 0,05). Sau khi cảm nhiễm V. parahaemolyticus TX07-3/3, 14 ngày, có sự khác biệt về các chỉ tiêu tổng tế bào máu, hoạt tính phenoloxidase và hoạt tính lysozyme trên tôm không cho ăn và có cho ăn bổ sung cao chiết lá vối.
-
KHẢ NĂNG TĂNG TRƯỞNG VÀ CHỐNG CHỊU STRESS MÔI TRƯỜNG CỦA CÁ RÔ PHI (Oreochromis niloticus) VÀ DIÊU HỒNG (Oreochromis sp.) NUÔI TRONG MÔI TRƯỜNG BIOFLOC
Abstract : 501 PDF: 0Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá khả năng tăng trưởng giữa hai loài cá rô phi (Oreochromis niloticus) và cá diêu hồng (Oreochromis sp.) trong mô hình nuôi theo công nghệ biofloc với nguồn các - bon bổ sung từ mật đường. Thí nghiệm được tiến hành trong 50 ngày với hai nghiệm thức (i) Ca_Rphi: Cá rô phi nuôi trong môi trường biofloc; (ii) Ca_Dhong: Cá diêu hồng nuôi trong môi trường biofloc, mỗi nghiệm thức được lặp lại ba lần. Cá ban đầu có kích cỡ trung bình 3,9 g/con (chiều dài 5,9 cm/con) được nuôi trong bể composite (250 L/bể) với mật độ 50 con/bể (200 con/m3). Kết quả nghiên cứu cho thấy, môi trường nước ở các bể Ca_Dhong luôn duy trì chất lượng tốt hơn (biểu thị qua hàm lượng thấp hơn của TAN, NO2--N và PO43--P, p < 0,05) so với bể Ca_Rphi. Cá diêu hồng thể hiện khả năng sinh trưởng tốt hơn, với khối lượng và tỷ lệ sống lần lượt đạt 40,82 ± 4,21 g/con và tỷ lệ sống 95,33 ± 1,15% (p< 0,05), so với cá rô phi (12,51 ± 1,34 g/con và 91,33 ± 2,31%). Floc hình thành trong bể nuôi Ca_Dhong có hàm lượng protein tổng số (28,69 ± 1,49% DW) cao hơn so với bể nuôi Ca_Rphi (25,61 ± 1,30%DW), p< 0,05. Sự cao hơn có ý nghĩa này cũng được ghi nhận đối với thành phần amino axit thiết yếu của biofloc (ngoại trừ phenylalanine, p> 0,05) ở nghiệm thức Ca_Dhong. Cá rô phi và diêu hồng sau thu hoạch thể hiện phản ứng giống nhau trong điều kiện stress môi trường đột ngột, với các ngưỡng chịu đựng ở pH 3, độ mặn 40 ppt và nhiệt độ 10oC hoặc 40oC. Trong đó, cá diêu hồng có khả năng chịu stress tốt hơn so với cá rô phi, p< 0,05.
-
HIỆU QUẢ HỆ THỐNG TUẦN HOÀN KẾT HỢP AQUAPONICS - VI TẢO: ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NƯỚC VÀ TĂNG TRƯỞNG SINH KHỐI
Abstract : 283 PDF: 0Hệ thống aquaponics kết hợp vi tảo là mô hình nông nghiệp công nghệ cao sử dụng tảo để cải thiện chất lượng nước và tăng hiệu quả sản xuất trong nuôi cá và trồng rau. Nghiên cứu nhằm đánh giá sự tăng trưởng sinh khối của cá và rau, đồng thời theo dõi các chỉ tiêu chất lượng nước. Thí nghiệm gồm ba nghiệm thức: (1) Hệ thống aquaponics, (2) Hệ thống aquaponics kết hợp nuôi vi tảo Chlorella vulgaris, (3) Hệ thống nuôi cá điêu hồng thâm canh. Sau 63 ngày theo dõi, tốc độ tăng trưởng và sinh khối của cá điêu hồng nuôi trong hệ thống aquaponics - vi tảo cao hơn đáng kể so với các nghiệm thức còn lại. Tương tự, sinh khối tươi của rau cải ngọt thu hoạch ở hệ thống aquaponics - vi tảo cũng cao hơn so với hệ thống aquaponics thông thường. Các chỉ tiêu chất lượng nước như: Nhiệt độ, pH, DO, TAN, NO2-, NO3- và PO43- trong bể cá của hệ thống aquaponics - vi tảo được duy trì ở mức thích hợp, đảm bảo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của cá và rau trong hệ thống.








