Số 11 (2024)
Bài viết
-
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG QUẢ CỦA MỘT SỐ GIỐNG ỔI Ở CÁC TỈNH PHÍA BẮC
Abstract : 561 PDF: 0Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, năng suất và chất lượng quả của một số giống ổi ở các tỉnh phía Bắc nhằm chọn được các giống ổi mới, làm đa dạng hóa sản phẩm ổi cung cấp cho người tiêu dùng. Vật liệu nghiên cứu gồm 3 giống ổi có nguồn gốc nhập nội: Giống ổi OĐL1, Ruby (16Oi01) và 16Oi02. Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn (RCBD), gồm 3 công thức, mỗi công thức 100 cây, nhắc lại 3 lần. Nghiên cứu được thực hiện từ 01/2019 - 12/2023 tại thành phố Hà Nội, tỉnh Sơn La và tỉnh Lào Cai. Cây giống sử dụng trong thí nghiệm là cây ghép 1 năm tuổi, giống gốc ghép là giống ổi địa phương. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các giống ổi trồng thí nghiệm có sự khác biệt về các đặc điểm hình thái lá, hình thái quả. Giống ổi Ruby có lá hơi thuôn dài, hơi mo hình lòng máng, đuôi lá tròn, gân lá nổi rõ; quả có hình dạng hình cầu hơi dẹt, vai quả nhô lên, thịt quả màu đỏ hồng. Các giống ổi trồng thí nghiệm đều có khả năng sinh trưởng khỏe. Giống ổi Ruby có năng suất và chất lượng quả đạt được cao nhất ở cả 3 điểm trồng thí nghiệm, với năng suất tương ứng ở các độ tuổi cây 2 - 4 năm tuổi là 16,2 - 17,3 kg/cây (10,1 - 10,8 tấn/ha), 28,2 - 29,3 kg/cây (17,6 - 18,3 tấn/ha) và 42,0 - 44,1 kg/cây (26,3 - 27,6 tấn/ha); hàm lượng tổng chất rắn hòa tan đạt 11,2 - 11,8oBrix. Các chỉ tiêu đánh giá về quả, năng suất và chất lượng quả của giống ổi Ruby đáp ứng được các chỉ tiêu tuyển chọn, phát triển giống ổi mới.
-
ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM NÔNG HỌC, NĂNG SUẤT VÀHÀM LƯỢNG LYCORIN CỦA CÁC DÒNG NÁNG HOA TRẮNG (Crinum asiaticum L.) TẠI HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Abstract : 409 PDF: 0Nghiên cứu này được tiến hành nhằm đánh giá đặc điểm nông học, năng suất và hàm lượng lycorin của 20 dòng náng hoa trắng tại huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Năng suất lý thuyết của các dòng náng hoa trắng dao động từ 0,62 - 1,90 tấn/ha, năng suất thực thu 0,44 - 1,33 tấn/ha. Hàm lượng lycorin (hoạt chất chính) của các dòng náng hoa trắng trong thí nghiệm dao động trong khoảng 0,17 - 1,09%. Đã tuyển chọn ra được 2 dòng náng hoa trắng TH5 và TH19 có năng suất đạt lần lượt là 1,33 tấn/ha và 1,22 tấn/ha, hàm lượng hoạt chất đạt 1,09% và 1,04% cao hơn đối chứng (0,53 tấn/ha và 0,72%), tỷ lệ nảy mầm hạt giống đều đạt trên 80%.
-
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT CANH TÁC TRÊN CÂY BẠCH TRUẬT (Atractylodes macrocephala Koidz.) TẠI HUYỆN BẮC HÀ, TỈNH LÀO CAI
Abstract : 493 PDF: 0Cây Bạch truật (Atractylodes macrocephala Koidz.) là cây thuốc quý được sử dụng rộng rãi trong y học. Các thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón, vật liệu che phủ luống đến năng suất và chất lượng dược liệu của cây Bạch truật đã được tiến hành tại huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai trong năm 2022 - 2023. Các thí nghiệm được thiết kế theo phương pháp khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCBD) với 3 lần nhắc lại. Kết quả thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đã xác định được mức phân bón (2.000 kg HCVS + 180 kg N + 90 kg P2O5 + 150 kg K2O + 830 kg vôi bột) cho năng suất (2,85 - 2,89 tấn khô/ha) và hàm lượng Atractylenolid III (0,062 - 0,063%) đạt cao nhất. Đối với thí nghiệm về vật liệu che phủ luống thì công thức che phủ bằng nilon cho năng suất (2,87 - 2,9 tấn khô/ha) và hàm lượng Atractylenolid III (0,056 - 0,058%) là cao nhất.
-
SỬ DỤNG THỨC ĂN LÊN MEN LỎNG TRONG CHĂN NUÔI LỢN MÓNG CÁI THƯƠNG PHẨM THEO HƯỚNG HỮU CƠ
Abstract : 547 PDF: 0Thí nghiệm được tiến hành trên 90 lợn đực Móng Cái giai đoạn sau cai sữa tại trang trại chăn nuôi lợn của Công ty Thiên Thuận Tường, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Lợn thí nghiệm được phân vào 3 lô thí nghiệm, mỗi lô 30 con. Lợn trong mỗi lô được nuôi trong 3 ô chuồng (lặp lại 3 lần). Lợn ở lô 1 ăn thức ăn sản xuất công nghiệp thương mại, lợn ở lô 2 ăn thức ăn lên men lỏng sử dụng 20% phụ phẩm nông nghiệp trong khẩu phần, lợn ở lô 3 ăn thức ăn lên men lỏng sử dụng 25% phụ phẩm nông nghiệp trong khẩu phần. Các chỉ tiêu nghiên cứu bao gồm: Khối lượng và tăng khối lượng của lợn, thức ăn thu nhận, hiệu quả sử dụng thức ăn và chi phí thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng, các chỉ tiêu thể hiện năng suất, chất lượng thịt lợn. Kết quả thí nghiệm cho thấy, tăng khối lượng của lợn ở cả 2 giai đoạn nuôi sinh trưởng và vỗ béo bằng thức ăn công nghiệp thương mại đều cao hơn so với lợn nuôi bằng thức ăn lên men lỏng sử dụng phụ phẩm nông nghiệp. Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng của nhóm lợn nuôi bằng thức ăn lên men lỏng sử dụng phụ phẩm nông nghiệp cao hơn rõ rệt so với nhóm lợn sử dụng thức ăn công nghiệp thương mại. Tiền chi phí thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng của nhóm lợn sử dụng thức ăn lên men lỏng sử dụng phụ phẩm nông nghiệp thấp hơn so với nhóm lợn sử dụng thức ăn công nghiệp thương mại. Việc sử dụng thức ăn lên men lỏng sử dụng phụ phẩm nông nghiệp không làm ảnh hưởng đến các chỉ tiêu thể hiện năng suất và chất lượng thịt của lợn, ngoại trừ chỉ tiêu khối lượng thịt xẻ. Sử dụng 20% phụ phẩm nông nghiệp trong khẩu phần cho hiệu quả chăn nuôi cao hơn so với sử dụng 25% phụ phẩm nông nghiệp trong khẩu phần.
-
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA LOẠI VÀ NỒNG ĐỘ CHẤT TẠO ĐÔNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG ĐẬU HŨ BỔ SUNG KHOAI LANG TÍM
Abstract : 509 PDF: 0Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định ảnh hưởng của chất tạo đông đến chất lượng đậu hũ bổ sung khoai lang tím. Nghiên cứu đã tiến hành khảo sát các loại chất tạo đông khác nhau (nigari, canxi sulfate, axit citric) với các nồng độ (0,1; 0,2; 0,3; 0,4% w/v) đến chất lượng đậu hũ bổ sung khoai lang tím qua sự thay đổi tính chất cơ lý (độ cứng, khả năng giữ nước, hiệu suất thu hồi, giá trị màu sắc theo hệ màu Lab), thành phần dinh dưỡng (độ ẩm, hàm lượng protein tổng, hàm lượng lipid tổng). Kết quả nghiên cứu xác định sử dụng chất tạo đông nigari 0,2% sẽ giữ chất lượng tốt nhất khi bổ sung khoai lang tím vào quy trình sản xuất đậu hũ với độ ẩm 74,2%, hàm lượng protein 14,99%, hàm lượng lipid 8,94%, độ cứng 12,59 N, khả năng giữ nước 4,78 g nước/g protein, hiệu suất thu hồi 266,92%, giá trị màu sắc L* (70,24); a* (7,70); b* (3,6).
-
CARBOXYMETHYL CELLULOSE (CMC) ĐẾN TÍNH CHẤT KEO URE FORMALDEHYDE VÀ VÁN DÁN
Abstract : 473 PDF: 0Keo ure-formaldehyde (UF) đóng vai trò quan trọng trong việc sản xuất ván dán. Chất lượng của ván dán có quan hệ chặt chẽ với chất lượng của keo sử dụng. Trong nghiên cứu này, Carboxymethyl cellulose (CMC) đã được đưa vào quá trình tổng hợp keo UF nhằm cải thiện một số chỉ tiêu chất lượng của keo UF. Kết quả thí nghiệm cho thấy, khi lượng CMC được cho vào khác nhau (từ 0 - 0,5% so với tổng lượng UF) thì các chỉ tiêu chất lượng của keo như: Hàm lượng khô, thời gian đóng rắn, độ nhớt của dung dịch keo và các chỉ tiêu chất lượng ván dán như: Độ bền kéo trượt màng keo, độ bền uốn tĩnh thay đổi theo những quy luật rõ rệt và theo chiều hướng tích cực. Cụ thể, khi tỉ lệ CMC cho vào tăng lên thì hàm lượng khô và độ nhớt của keo tăng lên, độ bền kéo trượt màng keo và độ bền uốn tĩnh của ván dán thay đổi không rõ rệt. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra, nếu sử dụng tỉ lệ CMC vượt quá 0,5% sẽ ảnh hưởng không tốt đến chất lượng ván dán.
-
HIỆU QUẢ ỨC CHẾ ỐC BƯƠU VÀNG (Pomacea canaliculata) CỦA DỊCH TRÍCH METHANOL HẠT CÂY THẦU DẦU (Ricinus communis)
Abstract : 512 PDF: 0Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả ức chế ốc bươu vàng (Pomacea canaliculata) của dịch chiết hạt cây thầu dầu (Ricinus communis). Cao chiết hạt cây thầu dầu được chiết xuất theo phương pháp ngâm dầm với dung môi methanol và hỗ trợ sóng siêu âm. Hiệu quả tiêu diệt nhuyễn thể được đánh giá bằng phương pháp mồi và ngâm. Tỷ lệ tử vong của ốc bươu vàng được phân tích bằng mô hình hồi quy Probit. Các hoạt chất sinh học của cao chiết methanol hạt cây thầu dầu được xác định bằng phương pháp hóa học định tính. Hàm lượng phenolic và flavonoid được xác định bằng phương pháp quang phổ. Kết quả nghiên cứu cho thấy, độ ẩm và hiệu suất trích đạt: 70,4% và 5,34%. Sau 24 giờ, giá trị LC50 và LC90 của dịch trích methanol hạt cây thầu dầu với ốc bươu vàng bằng phương pháp ngâm là 178,9 ppm và 667,5 ppm. Giá trị LC50 và LC90 của dịch trích methanol hạt cây thầu dầu với ốc bươu vàng bằng phương pháp mồi là 105,9 ppm và 329,9 ppm. Cao chiết methanol hạt cây thầu dầu có sự hiện diện của các hợp chất sinh học như: Alkaloid, flavonoid, terpenoid, saponin, tannin và phenol. Hàm lượng phenolic và flavonoid của cao chiết methanol hạt cây thầu dầu là 123,3 mg gallic axit/g cao chiết; 61,7 mg quercetin/g cao chiết.
-
KHẢO SÁT SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA THỰC KHUẨN THỂ ĐẾN VI KHUẨN Citrobacter spp. PHÂN LẬP TỪ NƯỚC AO TÔM
Abstract : 580 PDF: 0Citrobacter spp. là vi khuẩn cơ hội gây bệnh trong nuôi trồng thủy sản và là chủng vi khuẩn đa kháng thuốc đang được quan tâm hiện nay. Để giải quyết vấn đề này một cách hiệu quả và an toàn, việc tìm kiếm các biện pháp thay thế kháng sinh đang trở nên cấp thiết. Hiện nay, sử dụng thực khuẩn thể là biện pháp sinh học đầy tiềm năng thay thế kháng sinh để điều trị các bệnh do vi khuẩn gây ra. Do đó, nghiên cứu “Khảo sát sự ảnh hưởng của thực khuẩn thể đến vi khuẩn Citrobacter spp. phân lập từ nước ao tôm” được thực hiện. Kết quả nghiên cứu phân lập vi khuẩn từ nước ao tôm được định danh là Citrobacter freundii bằng kỹ thuật giải mã trình tự vùng 16S rDNA và so sánh với ngân hàng dữ liệu NCBI. Từ các mẫu tôm bệnh, nước và bùn đáy ao tôm đã phân lập được 58 dòng thực khuẩn thể. Bằng phương pháp agar hai lớp đã tuyển chọn được 6 dòng thực khuẩn thể là: ɸTb, ɸBAM2, ɸBAM1, ɸVH3, ɸDH2 và ɸDH3 có khả năng lây nhiễm vào vi khuẩn Citrobacter freundii. Trong đó, dòng thực khuẩn thể ɸDH3 đã thể hiện vết tan rõ ràng và trong suốt nhất trên nền vi khuẩn Citrobacter freundii. Thực khuẩn thể ɸDH3 được chọn để đánh giá khả năng ảnh hưởng của chúng lên mật số vi khuẩn và hình thái khuẩn lạc Citrobacter freundii bằng phương pháp trải đếm. Kết quả đánh giá cho thấy, dòng thực khuẩn thể ɸDH3 làm giảm mật số vi khuẩn và đồng thời làm thay đổi về hình thái khuẩn lạc vi khuẩn Citrobacter freundii.
-
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI THỦY SẢN Ở HỒ DẦU TIẾNG GIAI ĐOẠN 2022–2024
Abstract : 575 PDF: 0Với diện tích lưu vực là 2.700 km2, hồ Dầu Tiếng thuộc địa phận 3 tỉnh: Tây Ninh, Bình Dương và Bình Phước không chỉ là công trình thủy lợi nhân tạo lớn nhất Việt Nam mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và dân sinh của nhiều tỉnh, thành, bao gồm: Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước, Long An và thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra, nó cũng đảm nhận vai trò phòng, giảm lũ cho vùng hạ du sông Sài Gòn và Vàm Cỏ Đông. Hồ Dầu Tiếng là một môi trường duy trì đa dạng sinh học, nơi sinh sống của nhiều loài thủy sinh vật bao gồm các loài cá nước ngọt, là bãi đẻ của nhiều loài thủy sản có giá trị. Kết quả nghiên cứu về thành phần loài thủy sản ở hồ Dầu Tiếng giai đoạn 2022 – 2024 đã xác định được 82 loài thuộc 11 bộ và 26 họ. Điều này cho thấy tính đa dạng sinh học của hồ, đồng thời hướng đến việc khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản một cách bền vững và đặc thù của hồ Dầu Tiếng.
-
NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ TIỀM NĂNG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP HỮU CƠ Ở TỈNH THÁI BÌNH
Abstract : 729 PDF: 0Đánh giá tiềm năng sản xuất hữu cơ được thực hiện trên diện tích 91.633 ha đất sản xuất nông nghiệp của tỉnh Thái Bình trên cơ sở TCVN 11041-2:2017 về trồng trọt hữu cơ. Kết quả điều tra cho thấy, trên địa bàn tỉnh Thái Bình đã có một số mô hình sản xuất hữu cơ, tuy nhiên, phần lớn có quy mô nhỏ lẻ, phân tán, chưa có nhiều vùng quy mô lớn, thị trường tiêu thụ chưa ổn định. Trong sản xuất nông nghiệp, thói quen lạm dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc hóa học vẫn còn phổ biến; hiệu quả mang lại từ sản xuất hữu cơ chưa tương xứng với tiềm năng về điều kiện đất đai, khí hậu của tỉnh Thái Bình. Từ kết quả phân tích, đánh giá các mẫu đất, mẫu nước đã xác định được các vùng sản xuất nông nghiệp hữu cơ tiềm năng với các mức: Tiềm năng cao là 9.167,20 ha; tiềm năng trung bình là 27.498,60 ha; tiềm năng thấp là 50.414,10 ha; không tiềm năng là 4.583,10 ha. Ngoài ra, đã đề xuất được 10 giải pháp kỹ thuật để quản lý và phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp hữu cơ tại tỉnh Thái Bình. Kết quả nghiên cứu này bước đầu là cơ sở khoa học cho việc bố trí sản xuất nông nghiệp hữu cơ phù hợp với tiềm năng, lợi thế và điều kiện tự nhiên, đồng thời là căn cứ để đưa ra các giải pháp canh tác bền vững, bảo vệ đất, bảo vệ nguồn nước tưới trên địa bàn tỉnh Thái Bình.








