Số 23 (2022)

					Xem Số 23 (2022)
Đã Xuất bản: 15-12-2022

Bài viết

  • NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG KỸ THUẬT CHIẾU XẠ GAMMA, NGUỒN Co-60 CÓ HOẠT ĐỘ 236 Ci, TRONG TẠO NGUỒN VẬT LIỆU KHỞI ĐẦU CHO CHỌN TẠO GIỐNG LÚA

    Abstract : 1 PDF: 1
    Đoàn Văn Sơn, Hoàng Minh Trang, Nguyễn Thị Hảo, Nguyễn Thị Huê, Võ Thị Minh Tuyển
    3-10

    Gây đột biến là một trong những phương pháp thực nghiệm được áp dụng rộng rãi trên thế giới. Chọn giống đột biến đã góp phần đáng kể vào sản xuất lương thực tại Việt Nam. Trong nghiên cứu này, hạt khô và hạt ướt của giống lúa ST20 và VTNA6 được xử lý chiếu xạ bằng tia gamma (Co-60) có hoạt độ 236 Ci ở các liều chiếu xạ: 150, 200, 250, 300, 350, 400, 450 và 500 Gy. Kết quả nghiên cứu cho thấy, liều chiếu xạ 300 và 350 Gy với hạt khô; 200 và 250 Gy với hạt ướt cho tần số biến dị cao, với nhiều biến dị có ý nghĩa trong chọn giống hơn so với các liều chiếu xạ khác. Đã chọn được 68 dòng đột biến ở thế hệ M5 có một số đặc điểm nông sinh học được cải tiến so với giống gốc. Trong đó có 10 dòng có thời gian sinh trưởng ngắn hơn, 9 dòng được cải tiến về chiều cao cây, 7 dòng có kiểu đẻ nhánh chụm, 9 dòng chống đổ tốt hơn giống gốc, 15 dòng được cải tiến về chiều dài hoặc chiều rộng lá đòng, 8 dòng có hạt xếp xít trên bông và 11 dòng được cải tiến về năng suất so với giống ban đầu.

    DOI: https://doi.org/10.71254/c4q98957
  • NHÂN GIỐNG LOÀI LAN KIM TUYẾN (Anoectochilus setaceus Blume) CẦN BẢO TỒN TẠI THÁI NGUYÊN BẰNG CÔNG NGHỆ IN VITRO

    Abstract : 1 PDF: 1
    Trần Thị Thu Hà, Dương Thị Nhung, Cao Thị Mai Phương
    11-18

    Nguồn gen lan Kim tuyến (Anoectochilus setaceus Blume) thu thập từ rừng tự nhiên thuộc xã Quân Chu (Thái Nguyên) được tiến hành thử nghiệm nhân giống bằng phương pháp in vitro. Kết quả thí nghiệm vào mẫu từ đoạn thân khí sinh khử trùng bằng dung dịch 0,1% HgCl2 trong thời gian 3 phút kết hợp 7 phút Javen 15%, ngâm 30 phút trong Cefotaxim 10% và nuôi cấy trên môi trường nuôi cấy khởi đầu MS cho tỷ lệ mẫu sạch bật chồi 83,33% sau 4 tuần. Hệ số nhân chồi trung bình đạt 9,8 lần sau 4 tuần nuôi cấy trên môi trường MS bổ sung 1,5 mg/LBAP, 100 ml/L nước dừa, 70 g/L dịch chiết chuối và 30 g/L sucrose. Tỷ lệ chồi ra rễ tạo cây hoàn chỉnh đạt 93,33% và trung bình 3,35 rễ/chồi sau 4 tuần nuôi cấy trên môi trường 1/2MS bổ sung 1,5 mg/L NAA, 20 g/L sucrose và 0,5 g/L than hoạt tính. Cây mầm mô được nuôi trồng ở nhà kính với công thức giá thể: Xơ dừa + trấu hun + đá perlite (7 : 2 : 1) có tỷ lệ sống rất cao chiếm 97%. Kết quả mở ra triển vọng bảo tồn và phát triển loài này ở Thái Nguyên.

    DOI: https://doi.org/10.71254/4hgex381
  • ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ ĐA DẠNG DI TRUYỀN CỦA QUẦN THỂ SÂM NGỌC LINH (Panax Vietnamensis Ha et Grushv.) TẠI VƯỜN GIỐNG THUỘC HUYỆN TU MƠ RÔNG, TỈNH KON TUM

    Abstract : 1 PDF: 1
    Khuất Thị Mai Lương, Nguyễn Thị Minh Nguyệt, Lê Hùng Lĩnh
    19 - 28

    Trong nghiên cứu này, đã tiến hành đánh giá một số đặc điểm hình thái và xây dựng bảng mô tả tính trạng của 120 cá thể sâm Ngọc Linh trong vườn giống gốc của Công ty Cổ phần Sâm Ngọc Linh Tu Mơ Rông Kon Tum. Mục tiêu nhằm đánh giá về độ đồng nhất, mức độ đa dạng của nguồn giống phục vụ công tác chọn tạo giống mới để đáp ứng tốt các nhu cầu trong sản xuất. Các mẫu giống sâm Ngọc Linh nghiên cứu rất đa dạng về chiều dài thân. Tính trạng chiều dài thân, chiều dài lá chét trung tâm, chiều dài cuống hoa có thể sử dụng như những đặc điểm hình thái quan trọng để đánh giá và chia bộ mẫu giống thành các phân nhóm nhỏ.

    DOI: https://doi.org/10.71254/adw7dg73
  • ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT HỌC VÀ MÃ VẠCH ADN CỦA CÂY BÌM MỜ (Ippomoea Obscura [L.] Ker Gawl.), HỌ KHOAI LANG (Convolvulaceae)

    Abstract : 1 PDF: 1
    Nguyễn Thị Thu Hằng, Dương Nguyên Xuân Lâm, Nguyễn Đỗ Lâm Điền, Trịnh Túy An, Vũ Thanh Thảo, Trần Thị Thu Trang
    29-37

    Bìm mờ được sử dụng trong y học cổ truyền để chữa lở miệng. Nghiên cứu gần đây cho thấy dịch chiết lá Bìm mờ còn có tác dụng trên 3 dòng tế bào ung thư và ức chế sự nhân đôi của virus Sar CoV - 2. Khảo sát đặc điểm thực vật và trình tự ADN (ITS và matK) làm cơ sở cho việc định danh và kiểm nghiệm dược liệu là việc cần thiết cho việc phát triển cây thuốc này trong tương lai. Mô tả thực vật ghi nhận cây Bìm mờ: Dây leo, có nhựa trong. Lá có gốc hình tim. Hoa màu trắng ngà, mặt trong có vết màu tím sậm ở đáy. Hạt phấn hình cầu gai 60 - 70 µm. Đặc điểm giải phẫu đáng chú ý: Lông che chở và lông tiết. Libe quanh tủy. Ống nhựa mủ có đốt. Thành phần bột dược liệu đặc trưng: Lỗ khí kiểu song bào, tế bào mô cứng, sợi, thể cứng, khối chất nhựa màu vàng đậm. Phân tích mã vạch ADN vùng gen ITS và matK của mẫu nghiên cứu, đối chiếu với dữ liệu trên ngân hàng gen cho thấy mức độ tương đồng 100/100 với loài Ipomoea obscura. Trình tự gen ITS của mẫu Bìm mờ nghiên cứu cũng đã được công bố trên Genbank với mã số là OM841512.

    DOI: https://doi.org/10.71254/7r273e98
  • NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TRỒNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG CỦA CÂY SÂM CAU (Curculigo orchioides Gaertn.) TẠI TAM ĐẢO, VĨNH PHÚC

    Abstract : 1 PDF: 0
    Bùi Thị Xuân, Nguyễn Văn Tâm, Trần Thị Lan, Nguyễn Quang Tin
    38-46

    Sâm cau (Curculigo orchioides Gaertn.) là một cây thuốc quý, có trong nhiều bài thuốc đông y của y học cổ truyền và đang có nguy cơ tuyệt chủng. Việc nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật trồng và chăm sóc có ý nghĩa rất lớn trong việc bảo tồn và phát triển loài cây này. Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB) với 3 lần nhắc lại tại Tam Đảo, Vĩnh Phúc. Kết quả của nghiên cứu cho thấy, thời vụ giữa xuân (tháng 3), cây Sâm cau có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt và cho năng suất thực thu tốt nhất đạt 2,23 tấn/ha ở năm thứ 3. Khoảng cách trồng 10 x 20 cm cho hiệu quả kinh tế tốt nhất vì tiết kiệm quỹ đất, giảm công làm cỏ và cho năng suất thực thu năm thứ 3 đạt được 2,62 tấn/ha là tối ưu. Lượng phân bón thích hợp cho cây Sâm cau gồm 2 tấn phân vi sinh, 120 kg N, 80 kg P2O5 và 120 kg K2O/ha cho đường kính củ đạt 1,39 cm, năng suất thực thu năm thứ 3 đạt 2,26 tấn/ha, hàm lượng hoạt chất curculigoside đạt 0,127%. Cây Sâm cau khi được che bóng với độ che sáng 25% cho thấy sức sinh trưởng tốt hơn các công thức che sáng khác (không che sáng, che sáng 50%, che sáng 75%). Thời điểm thu hoạch thích hợp với cây Sâm cau là năm thứ 3 sau trồng.

    DOI: https://doi.org/10.71254/scjppx91
  • ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG KHÁNG BỆNH THÁN THƯ CỦA MỘT SỐ GIỐNG NHO TẠI NINH THUẬN

    Abstract : 1 PDF: 1
    Nguyễn Văn Chính, Phạm Trung Hiếu Trần Thị Hồng, Võ Thị Kim Trâm
    47-54

    Bệnh thán thư trên cây nho do nấm Colletotrichum gloeosporioides gây ra, bệnh thán thư gây hại rất nặng trong điều kiện vụ mưa tại khu vực Nam Trung bộ. Hiện nay, biện pháp quản lý bệnh thán thư trên cây nho tại Nam Trung bộ chủ yếu là biện pháp hoá học nên hiệu quả chưa cao. Do đó, việc nghiên cứu lựa chọn được giống nho có khả năng kháng bệnh thán thư tốt để phục vụ cho sản xuất đã được thực hiện. Từ việc kế thừa các nghiên cứu trước, đã chọn ra các giống có khả năng kháng bệnh thán thư tốt nhất để đánh giá, so sánh với giống NH01-64 đang được trồng phổ biến tại Nam Trung bộ. Qua quá trình nghiên cứu khả năng kháng bệnh trong điều kiện lây bệnh nhân tạo và ngoài đồng ruộng cho thấy, giống nho NH010-26 và NH01-126 có khả năng kháng bệnh thán thư tốt nhất trong các giống được nghiên cứu. Giống nho NH01-26 và NH01-126 kháng bệnh thán thư tốt hơn giống nho NH01-64 đang được trồng phổ biến tại Nam Trung bộ.

    DOI: https://doi.org/10.71254/ryx2c083
  • HIỆU QUẢ CỦA NẤM Trichoderma sp. VÀ Penicillium sp. TRONG PHÒNG TRỪ BỆNH THÁN THƯ DO NẤM Colletotrichum sp. TRÊN CÂY ỚT

    Abstract : 1 PDF: 1
    Lưu Văn Phương, Lê Thanh Toàn
    55-62

    Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá hiệu quả kiểm soát của một số chủng nấm Trichoderma spp. và Penicillium spp. đối với nấm Colletotrichum sp. gây bệnh thán thư trên ớt. Kết quả đánh giá hiệu quả đối kháng của một số chủng nấm Trichoderma spp. với chủng nấm Colletotrichum sp. cho thấy, chủng nấm Trichoderma TR-02 cho hiệu suất đối kháng trung bình (HSĐKTB) với nấm Colletotrichum sp. cao nhất ở các thời điểm 2, 3, 4, 5 ngày sau khi cấy nấm (NSKCN) lần lượt là 37,4%; 41,7%; 61,7%; 82,6%; trung bình các thời điểm ghi nhận (TĐGN) cao nhất là 55,9%. Tuy nhiên, cả 3 chủng nấm Trichoderma TR-01, TR-02, TR-03 thể hiện khác biệt không có ý nghĩa về mặt thống kê với nhau. Đánh giá hiệu quả đối kháng của các chủng nấm Penicillium spp. với chủng nấm Colletotrichum sp. cho thấy chủng nấm Penicillium PE-01 cho HSĐKTB với nấm Colletotrichum sp. cao nhất ở các thời điểm 2, 3, 4, 5 NSKCN lần lượt là 64,4%; 60%; 57,4%; 57,4%; trung bình các TĐGN cao nhất là 59,8%. Chủng nấm PE-01 thể hiện khác biệt ở mức ý nghĩa 5% với chủng nấm PE-02 và PE-03 ở tất cả các TĐGN chỉ tiêu. Kết quả nghiên cứu khả năng phòng trừ ở điều kiện đồng ruộng cho thấy NT TR-2 luôn thể hiện kết quả TLBTB, CSBTB, HQGBTB ổn định và vượt trội hơn so với các NT xử lý nấm đối kháng khác. Bên cạnh đó, NT TR-2 luôn thể hiện khác biệt không có ý nghĩa thống kê qua kiểm định Duncan ở mức ý nghĩa 5% so với đối chứng dương ở hầu hết các thời điểm thí nghiệm.

    DOI: https://doi.org/10.71254/1tx4sx07
  • CÔN TRÙNG CHÍCH HÚT - VÉC TƠ LÂY TRUYỀN BỆNH TUA MỰC HẠI CÂY QUẾ Ở VÙNG NAM TRUNG BỘ

    Abstract : 1 PDF: 1
    Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Bình, Nguyễn Mạnh Hà, Nguyễn Văn Việt, Nguyễn Thị Minh Hằng, Đào Ngọc Quang, Nguyễn Minh Chí
    63-69

    Vỏ cây Quế được xem là một nguồn dược liệu quý, đặc biệt là vỏ của cây Quế được trồng tại vùng Nam Trung bộ của Việt Nam. Cây Quế đang được quan tâm phát triển nhằm tạo sản phẩm đặc sản của tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi nhưng bệnh tua mực đang gây hại phổ biến trên rừng trồng Quế. Nghiên cứu này nhằm xác định véc tơ truyền bệnh tua mực hại cây Quế thông qua việc kiểm tra sự tồn tại của phytoplasma bằng phương pháp SEM. Kết quả nghiên cứu đã ghi nhận ba loài Rệp sáp vảy, Rệp sáp và Rệp sáp bông là véc tơ truyền bệnh tua mực quế. Để quản lý hiệu quả bệnh tua mực hại cây Quế ở tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi, cần nghiên cứu các giải pháp quản lý các loài côn trùng là véc tơ truyền bệnh tua mực hại cây Quế vùng Nam Trung bộ.

    DOI: https://doi.org/10.71254/e6038372
  • GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG CỦA ẤU TRÙNG NGÀI SÁP LỚN Galleria mellonella (LEPIDOPTERA: PYRALIDAE)

    Abstract : 1 PDF: 1
    Nguyễn Thành Mạnh, Nguyễn Thị Tú Anh, Nguyễn Thị Hạnh, Trương Xuân Lam, Hà Ngọc Linh, Phạm Huy Phong, Nguyễn Quang Cường
    70-75

    Ngài sáp lớn (Galleria mellonella), thường được sử dụng trong nghiên cứu thức ăn cho động vật nuôi làm cảnh hoặc là vật chủ cho các loại ong ký sinh trong đấu tranh sinh học. Nghiên cứu này chỉ ra giá trị dinh dưỡng của ấu trùng ngài sáp lớn nuôi bằng thức ăn nhân tạo. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ protein là 43,12% và lipit là 44,24%. Trong đó, protein bao gồm 15 loại axit amin, với 7 loại axit amin thiết yếu, 4 loại axit amin thiết yếu có điều kiện và 4 loại axit amin không thiết yếu. Lipit bao gồm 7 loại axit béo với 4 loại axit béo không bão hòa gốc omega rất cần thiết cho cơ thể và 3 axit béo bão hòa. Bên cạnh đó, bột khô ấu trùng ngài sáp lớn còn chứa 7 loại chất khoáng như: Mg, Cu, Zn, Fe, Ca, Pb và Cd. Đặc biệt, một số chất khoáng có hàm lượng cao là: Mg (863,93 mg/kg), Ca (870,18 mg/kg), Zn (152,81 mg/kg) và Fe (63,08 mg/kg). Điều này chứng tỏ bột khô ngài sáp lớn có giá trị dinh dưỡng cao, giàu protein, chất béo và các chất vi lượng, đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể sinh vật.

    DOI: https://doi.org/10.71254/16y4gt33
  • NGHIÊN CỨU ĐIỀU KIỆN TIỀN XỬ LÝ VÀ CHIẾT TÁCH COLLAGEN TỪ HỖN HỢP DA VÀ VẢY CÁ LÓC (Channa striata) BẰNG ACETIC ACID

    Abstract : 1 PDF: 0
    Trương Thị Mộng Thu, Trần Thanh Trúc, Lê Thị Minh Thủy
    76-84

    Nghiên cứu điều kiện tiền xử lý và chiết tách collagen từ hỗn hợp da và vảy cá lóc bằng acetic acid được thực hiện nhằm sản xuất collagen đạt chất lượng tốt. Kết quả cho thấy, da cá lóc được xử lý bằng dung dịch NaOH 0,1 M trong 6 giờ cho hiệu quả loại protein phi collagen tốt nhất, hàm lượng protein thô còn lại 24,5%. Hỗn hợp da và vảy cá lóc được chiết tách collagen bằng 0,6 M acetic acid cho hiệu suất thu hồi collagen đạt 2,090%, màu sắc sáng với giá trị L* là 81,4. Cố định nồng độ 0,6 M acetic acid, ngâm hỗn hợp da và vảy cá lóc trong 3 ngày cho hiệu suất thu hồi collagen cao nhất, đạt 3,180% và giá trị L* đạt 83,6. Collagen từ hỗn hợp da và vảy cá lóc hòa tan cực đại ở pH 2 và nồng độ NaCl từ 0,2 - 0,4 M. Dựa vào phổ FTIR cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa số bước sóng trong vùng amide I và vùng amide III, đặc biệt là sự ổn định của cấu trúc xoắn ba, cho thấy collagen có đầy đủ nhóm chức năng của collagen loại I. Hàm lượng imino acid chiếm 22,6% nên collagen có nhiệt độ biến tính lên đến 35,78°C. Từ các kết quả trên cho thấy, có thể tận dùng nguồn phụ phẩm da và vảy từ quá trình chế biến cá lóc làm nguồn nguyên liệu để sản xuất collagen, vừa gia tăng giá trị nguồn nguyên liệu và giúp giảm ô nhiễm môi trường do phụ phẩm cá thải ra.

    DOI: https://doi.org/10.71254/4m0aw304
  • HIỆN TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO TỒN CÁC LOÀI GÀ NGUY CẤP, QUÝ, HIẾM TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN PÙ HU

    Abstract : 1 PDF: 0
    Vũ Tiến Thịnh, Nguyễn Bá Thạch, Nguyễn Chí Thành, Đỗ Ngọc Dương, Phan Viết Đại, Hoàng Văn Huy, Nguyễn Thị Hòa, Nguyễn Hữu Văn, Giang Trọng Toàn
    85-93

    Khu Bảo tồn Thiên nhiên (BTTN) Pù Hu có hệ sinh thái đa dạng với sự kết hợp giữa hệ sinh thái rừng trên núi đất và rừng trên núi đá vôi bị chia cắt mạnh, độ dốc và độ cao trung bình lớn. Đây là nơi cư trú của nhiều loài động vật, trong đó có nhiều loài nguy cấp, quý, hiếm có giá trị bảo tồn cao như các loài chim thuộc Bộ Gà (Galliformes). Kết quả điều tra thực hiện từ tháng 1 năm 2021 đến tháng 8 năm 2022 đã xác định được 9 loài chim thuộc Bộ Gà, chiếm 45% số loài gà hoang dã tại Việt Nam; trong đó có 1 loài có tên trong Công ước CITES (2019) (Phụ lục II), 1 loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam (2007), 5 loài có tên trong Nghị định 84/2021/NĐ - CP, 1 loài có tên trong Nghị định 64/2019/NĐ - CP. Nghiên cứu cũng xác định được hiện trạng quần thể các loài gà nguy cấp, quý, hiếm ngoài tự nhiên và đặc điểm khu vực phân bố của chúng, đồng thời chỉ ra được các mối đe dọa chủ yếu làm cơ sở đề xuất được các giải pháp bảo tồn các loài gà nguy cấp, quý, hiếm tại Khu BTTN Pù Hu.

    DOI: https://doi.org/10.71254/dczgnw46
  • NGHIÊN CỨU MỘT SỐ THÔNG SỐ VẬN HÀNH CỘT PLASMA LẠNH XỬ LÝ NƯỚC NGẦM PHỤC VỤ SINH HOẠT NÔNG THÔN

    Abstract : 1 PDF: 1
    Lê Hoàng Việt, Nguyễn Công Thuận, Nguyễn Văn Dũng, Nguyễn Võ Châu Ngân
    94-100

    Nghiên cứu nhằm khảo sát một số thông số vận hành cụ thể (lưu lượng nạp nước, thời gian lưu nước) cho cụm plasma lạnh để xử lý nước ngầm phục vụ nhu cầu sinh hoạt. Các thí nghiệm tiến hành trên mô hình cột plasma lạnh quy mô phòng thí nghiệm với nguồn nước ngầm được gây ô nhiễm nhân tạo. Kết quả thí nghiệm cho thấy, tải nạp và thời gian trữ nước sau xử lý ảnh hưởng đến hiệu suất xử lý của hệ thống. Vận hành thử nghiệm cột plasma lạnh với tải lượng 0,002, 0,003, 0,004, 0,005 m3/phút cho thấy, với lưu lượng tối thiểu 0,003 m3/phút cung cấp đủ chiều dày lớp nước giúp tăng điện trường trong khe hở điện cực, làm tăng công suất và độ ổn định của cột plasma; hiệu suất xử lý các thông số ô nhiễm rất cao, tuy nhiên hàm lượng ni-trát có xu hướng tăng khi tăng tải lượng nạp nước nhưng không vượt ngưỡng cho phép đối với nước sinh hoạt. Trong số các mốc thời gian trữ nước (15, 20, 25, 30, 35 phút), nước sau xử lý nên tiếp tục cho lưu ở bồn chứa tối thiểu 20 phút để dư lượng ozone và các gốc hydroxyl tiếp tục phản ứng với các chất ô nhiễm nhằm đạt hiệu quả xử lý cao và nước sau xử lý không còn dư lượng của ozone.

    DOI: https://doi.org/10.71254/zkz59c03
  • NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HỆ SỐ KHÔNG ĐỀU HẠT ĐẾN ĐỘ NHẠY XÓI NGẦM CỦA NỀN CÁT DƯỚI CỐNG QUA ĐÊ VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG

    Abstract : 1 PDF: 1
    Đinh Xuân Trọng
    101-107

    Xói hạt mịn là hiện tượng xảy ra đầu tiên của quá trình xói ngầm. Dưới tác dụng của dòng thấm, các hạt mịn bị tách rời và cuốn trôi qua khe hở của các hạt đất lớn hơn, cuối cùng để lại cốt đất hạt thô chịu toàn bộ ứng suất hiệu quả, qua đó làm thay đổi cấu trúc cũng như tính chất vật lý và cơ học của đất. Đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến hư hỏng nền móng của công trình và trong nhiều trường hợp, sự cố có thể xảy ra. Điều đó cho thấy, việc đánh giá sự khởi đầu của quá trình xói ngầm là rất quan trọng, đặc biệt đối với nền cát nhạy cảm thấm. Trong nghiên cứu này, một thiết bị thí nghiệm đã được thiết kế để xác định độ nhạy xói ngầm cho một số loại đất cát dưới nền cống qua đê vùng đồng bằng sông Hồng. Thiết bị này có thể kiểm soát độc lập trạng thái ứng suất và gradient thủy lực, đồng thời định lượng được khối lượng đất bị xói và lưu lượng thấm. Dựa trên kết quả thí nghiệm, tiến hành tính toán chỉ số cường độ xói và đánh giá khả năng xói ngầm theo quan điểm của Marot và cs (2011), qua đó thiết lập mối quan hệ giữa chỉ số cường độ xói với hệ số không đều hạt của đất. Kết quả nghiên cứu giúp thu được các dữ liệu cần thiết phục vụ cho công tác thiết kế, cảnh báo an toàn.

    DOI: https://doi.org/10.71254/4873jd43
  • NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG CỦA BÈO TAI TƯỢNG (Pistia stratiotes L.) XỬ LÝ NƯỚC THẢI BIOGAS

    Abstract : 1 PDF: 1
    Nguyễn Văn Công, Bùi Thị Chuyền, Nguyễn Công Thuận
    108-114

    Nghiên cứu đánh giá hiệu quả của bèo tai tượng (BTT) (Pistia stratiotes L.) trong cải thiện chất lượng nước thải từ hệ thống phân hủy yếm khí phân heo. Hai nghiệm thức được thiết kế gồm nghiệm thức không có BTT và nghiệm thức có BTT. Khoảng 100 g của 15 BTT được nuôi trong các thùng xốp chứa 15 lít nước thải có nồng độ đạm amôn 15 mg/L N-NH4+ trong một tuần. Mẫu nước được thu ở các ngày 1, 3 và 7 để đo nhiệt độ, ôxy hòa tan (DO), nhu cầu ôxy hóa học (COD), tổng nitơ Kjeldahl (N-TKN), N-NH4+, ni-trít (N-NO2-), ni-trát (N-NO3-), phốt-phát (P-PO43-) và khối lượng tươi của BTT được đo vào cùng thời điểm thu mẫu nước. Kết quả cho thấy, hiệu suất giảm COD, N-TKN-N, N-NH4+-N và P-PO43- ở nghiệm thức có BTT cao hơn có ý nghĩa so với nghiệm thức không có BTT và sự giảm các chất ô nhiễm ở giai đoạn ngày 1 - 3 cao hơn giai đoạn ngày 4-7. Nồng độ N-NO2- và N-NO3- thấp trong thời gian thí nghiệm và có khuynh hướng tăng dần so với ngày đầu thí nghiệm. Sự gia tăng sinh khối BTT trong 7 ngày thí nghiệm nhỏ (tăng 4,41% ở ngày thứ 3 và tăng 10,60% ở ngày thứ 7). BTT có khả năng làm giảm chất ô nhiễm như COD, NH4+ và PO43- trong nước thải từ hệ thống phân hủy yếm khí phân heo và giảm nhiều nhất đối với NH4+ (82,19%). BTT không có đóng góp để làm giảm NO2- và NO3-. Nghiên cứu cho thấy, BTT có thể được sử dụng để xử lý nước thải từ hệ thống khí sinh học.

    DOI: https://doi.org/10.71254/xgdjn992
  • HIỆN TRẠNG PHÁT SINH VÀ PHÂN LOẠI, THU GOM, CHUYỂN GIAO CÁC CHẤT THẢI NGUY HẠI VÀ CHẤT THẢI TÁI CHẾ TRONG SINH HOẠT HỘ GIA ĐÌNH TẠI HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

    Abstract : 5 PDF: 3
    Bùi Thị Thu Trang, Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Hoàng Thị Huê, Nguyễn Thị Hoài Thương, Mai Văn Trịnh, Hồ Thúy Quỳnh
    115-124

    Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp thu thập số liệu, điều tra xã hội học kết hợp khảo sát thực địa, xác định hệ số phát sinh và đánh giá ngẫu nhiên để đánh giá hiện trạng phân loại, thu gom, chuyển giao các chất thải rắn nguy hại (CTRNH) và chất thải rắn tái chế (CTRTC) trong sinh hoạt hộ gia đình, nhận thức của người dân và mức sẵn lòng tham gia phân loại, tái sử dụng và chuyển giao chất thải tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Kết quả nghiên cứu cho thấy khối lượng chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) trong một tháng ở xã Vĩnh Ngọc và xã Xuân Canh là 4.408.98 kg. Ở xã Vĩnh Ngọc, hệ số phát sinh CTRSH là 0,68 kg/người/ngđ, hệ số phát sinh CTRTC là 0,065 kg/người/ngđ, hệ số phát sinh CTRNH là 0,008 kg/người/ngđ. Ở xã Xuân Canh, hệ số phát sinh CTRSH là 0,63 kg/người/ngđ, hệ số phát sinh CTRTC là 0,062 kg/người/ngđ, hệ số phát sinh CTRNH là 0,0075 kg/người/ngđ. Về sự sẵn lòng tham gia của người dân, đa số các hộ gia đình đều sẵn lòng phân loại, tái sử dụng và chuyển giao chất thải (chiếm 70%). Theo kết quả hồi quy về mối tương quan giữa giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, số nhân khẩu, nghề nghiệp, thu nhập với sự sẵn lòng tham gia của người dân về phân loại, thu gom, chuyển giao các CTRNH và CTRTC, thu nhập và trình độ học vấn là 2 yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ nhất tới mức sẵn lòng tham gia của người dân. Nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp giảm thiểu CTRTC và CTRNH trên địa bàn huyện Đông Anh.

    DOI: https://doi.org/10.71254/a847pm28