Số 17 (2022)
Bài viết
-
KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ VÀ TUYỂN CHỌN MỘT SỐ GIỐNG ỚT CAY NHẬP NỘI TẠI HÀ NỘI
Abstract : 1 PDF: 0Cây ớt cay (Capsicum annuun L) là loại rau gia vị giàu dinh dưỡng, được ưa chuộng nhất trong nhóm cây gia vị. Nhằm mục đích gia tăng sự đa dạng và nâng cao tổng lượng nguồn gen, mở rộng nền di truyền cây trồng trong nước đã nhập nội 12 giống ớt cay. Các giống này được đánh giá đặc điểm nông sinh học vụ đông xuân và xuân hè 2019 tại Trung tâm Tài nguyên thực vật. Kết quả chọn ra được 4 giống 12Ot04, 12Ot06, 12Ot07, 12Ot08 triển vọng có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt, năng suất cao đạt từ 18,4 - 22,1 tấn/ha và chất lượng khá, tỷ lệ chất khô đạt từ 19,8 - 21,5%, hàm lượng vitamin C đạt từ 143 - 179 mg%. Bốn giống này tiếp tục được khảo nghiệm diện rộng ngoài sản xuất tại huyện Ứng Hòa, Hà Nội ở vụ xuân hè năm 2020 cho thấy giống 12Ot04 đạt năng suất 19,1 tấn/ha và giống 12Ot06 đạt 18,2 tấn/ha, cao hơn so với giống đối chứng từ 1,3 - 2,2 tấn/ha. Đặc biệt giống 12Ot04 quả ra từng chùm, chín tập trung.
-
PHẢN ỨNG SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT HẠT BA DÒNG ĐẬU NÀNH 1500, 1600-1, 1600-2 VÀ ĐỘ MẶN ĐẤT KHI TƯỚI NƯỚC MẶN NHÂN TẠO
Abstract : 1 PDF: 1Mô hình luân canh đậu tương (hay đậu nành) trên đất lúa giúp cải tạo đất, giảm chi phí phân bón và gia tăng lợi nhuận đang bị giới hạn ở các vùng bị xâm nhiễm mặn tại đồng bằng sông Cửu Long. Chọn giống đậu nành có khả năng chịu mặn là yếu tố quyết định giúp nhân rộng mô hình luân canh lúa - đậu nành. Thí nghiệm được thực hiện nhằm đánh giá khả năng sinh trưởng và tiềm năng năng suất của ba dòng đậu nành chịu mặn BC3F4 gồm 1500, 1600-1 và 1600-2, mang gen trội Ncl giúp hạn chế vận chuyển cation Na+ từ rễ lên chồi, trồng trong chậu đất. Thí nghiệm được bố trí theo kiểu thừa số hai nhân tố hoàn toàn ngẫu nhiên với ba lần lặp lại trong điều kiện nhà lưới. Trong đó, nhân tố thứ nhất là các dòng/giống 1500, 1600-1, 1600-2, MTĐ 176, MTĐ 878-2 và NILs72-T và nhân tố thứ hai là nước sông nhiễm mặn nhân tạo ở nồng độ 0 và 120 mM. Thí nghiệm sử dụng muối NaCl pha với nước sông để đạt nồng độ mặn 120 mM (quy đổi tương đương độ mặn 6,19‰ và EC = 9,68 mS/cm). Kết quả ghi nhận mặn đã làm giảm chiều cao cây, tổng số quả trên cây, khối lượng 100 hạt và năng suất hạt của ba dòng đậu nành 1500, 1600-1 và 1600-2. Riêng dòng 1600-1 không có biểu hiện cháy lá và không biểu hiện suy giảm chỉ tiêu thành phần năng suất như tổng số quả/cây (13,33 và 11,00 quả), số hạt/quả (1,86 và 1,93 hạt) và khối lượng 100 hạt (13,57 và 11,87 g) trong điều kiện ngộ độc mặn so với nghiệm thức đối chứng. Đặc biệt, năng suất hạt của dòng 1600-1 ở nghiệm thức 120 mM NaCl chỉ giảm 25,54% so với nghiệm thức đối chứng. Dòng đậu nành 1600-1 biểu hiện là dòng chịu mặn triển vọng cần tiếp tục thử nghiệm ở các mùa vụ và vùng nhiễm mặn tự nhiên nhằm đánh giá tính ổn định trước khi đưa vào thực tiễn.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TRONG NHÂN GIỐNG LAN HÀI ĐIỂM NGỌC (Paphiopedilum emersonii) BẰNG PHƯƠNG PHÁP TÁCH MẦM TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN
Abstract : 1 PDF: 1Lan hài Điểm Ngọc (Paphiopedilum emersonii) là một trong những loài lan đặc hữu của Việt Nam, được sử dụng làm cảnh vì hoa có màu sắc trang nhã với cấu tạo môi có hạt độc đáo. Lan hài Điểm Ngọc có khu phân bố hẹp, số lượng cá thể rất ít, môi trường sống trên các vách núi dựng đứng và cao, khả năng nhân giống bằng hạt thấp, vì vậy đã sử dụng bằng phương pháp tách mầm khỏi thân chính nhân giống lan hài Điểm Ngọc. Sử dụng cây lan hài Điểm Ngọc có từ 4-5 cặp lá (tuổi cây từ 2-3 năm) để đánh giá ảnh hưởng của thời điểm tách mầm, giá thể trồng, dinh dưỡng bổ sung cho cây giai đoạn sau khi tách mầm. Kết quả chế phẩm kích thích đẻ nhánh của lan hài Điểm Ngọc là chế phẩm kích mầm chồi và hoa Keiki Duy Spay nồng độ 500 ppm hệ số nhân chồi 2,3 lần. Tách mầm lan hài Điểm Ngọc vào thời gian lan hài kết thúc nở hoa (tháng 3 - 4), giá thể sử dụng là Rêu ngoại + trấu hun + xơ dừa + đá thấm thủy phối trộn 1: 1: 1: 2, tỷ lệ sống cây con sau khi tách khỏi cây mẹ đạt 93% tăng trưởng chiều cao là 1,4 cm, tăng trưởng về số lá là 0,5 lá, tăng trưởng chiều rộng lá 1,04 cm. Ảnh hưởng của dinh dưỡng đến tỷ lệ sống, sinh trưởng của cây con sau khi tách mầm (chồi) ở lan hài Điểm Ngọc là phân bón Rapip Raiser sinh trưởng mạnh nhất, cụ thể chiều cao tăng trưởng sau 3 tháng là 1,73 cm, số lá tăng 1,6 lá và rộng lá tăng 0,5 cm.
-
ĐA DẠNG NGUỒN GEN THỰC VẬT TẠI HAI TỈNH LAI CHÂU VÀ ĐIỆN BIÊN
Abstract : 1 PDF: 0Thủy điện Lai Châu là công trình trọng điểm quốc gia Việt Nam, có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội. Mặc dù vậy, việc xây dựng thủy điện có nguy cơ gây tuyệt chủng nhiều nguồn gen quý, hiếm, đặc hữu. Vì vậy, nghiên cứu khảo sát sự phân bố các nguồn gen bản địa nông lâm nghiệp và cây thuốc tại 2 tỉnh Lai Châu và Điện Biên đã được thực hiện. Kết quả phát hiện, có tới 100 loài có mặt là những cây trồng nông nghiệp có giá trị trong đời sống của đồng bào nơi đây, nguồn gen rau 38 loài, nguồn gen cây có củ 22 loài, nguồn gen đậu 17 loài, nguồn gen hòa thảo 6 loài và nguồn gen cây khác là 17 loài. Nghiên cứu cũng khảo sát và tìm thấy có 20 loài cây lâm nghiệp và 562 loài cây thuốc. Sự phân bố của các loài là không đồng đều và phụ thuộc vào địa hình, khí hậu thổ nhưỡng và tập quán canh tác của các đồng bao dân tộc ở đây. Tại 2 tỉnh Lai Châu và Điện Biên đã phát hiện được số lượng nguồn gen cây trồng đặc sản quý hiếm đặc hữu của Việt Nam lần lượt là 7 và 5. Cụ thể gồm những nguồn gen lần lượt là Rau dớn, Gạo dâu, Rêu đá, Cây lá đắng, Hà Thủ ô đỏ, Cây thảo quả, Dưa mèo, Rau hoa ban, Táo mèo, Đào rừng, Cải mèo, nếp Điện Biên, Tám Điện Biên với đầy đủ đặc điểm và hiện trạng phân bố. Những nguồn gen này đã và sẽ bảo tồn tại chỗ, vườn gia đình, nhằm duy trì và phát triển hơn nữa các nguồn gen giá trị này.
-
ĐẶC ĐIỂM MỘT SỐ TÍNH CHẤT ĐẤT VÀ SINH TRƯỞNG CÂY TRÁM GHÉP TRỒNG THÂM CANH TẠI YÊN BÁI VÀ LẠNG SƠN
Abstract : 1 PDF: 1Đánh giá sinh trưởng, ảnh hưởng của một số tính chất đất đến sinh trưởng của cây trám trắng, trám đen 18 tháng tuổi trồng thâm canh tại xã Minh An, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái và 2 xã Bình Phúc, Đồng Giáp, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn. Đặc điểm của đất được xác định trên 30 phẫu diện (mỗi loài cây 5 phẫu diện/loài x 3 xã), thực hiện từ tháng 8/2020. Đã điều tra 30 ô tiêu chuẩn trên 3 xã, mỗi xã 2 loài, mỗi loài 5 ô, với diện tích 500 m2/ô (25 cây/OTC) và đo chiều cao vút ngọn và đường kính D00 của tất cả các cây trong ô. Kết quả nghiên cứu cho thấy: (1) Trám trắng ghép 18 tháng tuổi trên những lập địa với hàm lượng mùn giàu (xã Minh An) có sinh trưởng về D00, Hvn lớn nhất nhất là 3,1 cm và 1,64 m, tỷ lệ sống 97,2%, tỷ lệ cây tốt là 83,4%, tỷ lệ cây ra hoa là 19,4; tiếp đến là 2,41 cm và 1,29 m, tỷ lệ sống 93,7%, tỷ lệ ra hoa là 41,7% và 54,6% cây tốt tại xã Đồng Giáp nơi có hàm lượng mùn trung bình. Thấp nhất là 1,54 cm và 1,06 m, tỷ lệ sống là 90,3%, tỷ lệ ra hoa là 24% và 16% cây tốt tại xã Bình Phúc nơi có hàm lượng mùn nghèo. Phương trình biểu thị mối quan hệ giữa độ dày tầng đất và hàm lượng mùn trong đất với D00 của Trám trắng là D00 = - 0,073 +1,135. OM + 0,112. Độ dày tầng đất. (2) Trám đen ghép 18 tháng tuổi trồng trên những lập địa có hàm lượng mùn giàu (xã Minh An), sinh trưởng về D00, Hvn lớn nhất nhất là 3,65 cm và 1,91 m, tỷ lệ sống 97,9%, tỷ lệ cây tốt là 90,2%, tỷ lệ cây ra hoa là 50,9; tiếp đến là 2,76 cm và 1,38 m, tỷ lệ sống 94,3%, tỷ lệ ra hoa là 56% và 68,5% cây tốt tại xã Đồng Giáp đất có hàm lượng mùn trung bình; thấp nhất là 1,68 cm và 1,1 m, tỷ lệ sống là 91,2%, tỷ lệ ra hoa là 47,5% và 61,6% cây tốt tại xã Bình Phúc đất có hàm lượng mùn nghèo; phương trình biểu thị mối quan hệ giữa loại đất và hàm lượng mùn trong đất với D00 của Trám đen là D00 = - 0,144 + 0,0753. OM + 0,184. Loại đất.
-
ĐA DẠNG THÀNH PHẦN LOÀI CỎ DẠI THUỘC LỚP NGỌC LAN (MAGNOLIOPSIDA) TRONG HỆ SINH THÁI ĐỒNG RUỘNG Ở TỈNH AN GIANG
Abstract : 1 PDF: 0Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục tiêu cung cấp dữ liệu về các loài cỏ dại thuộc lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) trong hệ sinh thái đồng ruộng ở tỉnh An Giang, làm cơ sở khoa học cho việc sử dụng, quản lý và phòng trừ cỏ dại ở các ruộng lúa hiệu quả hơn. Các phương pháp được sử dụng bao gồm PRA; điều tra thực địa và thu mẫu cỏ dại tại 24 ô tiêu chuẩn ở 12 ruộng lúa thuộc 6 huyện, thành phố ở tỉnh An Giang; so sánh hình thái và phân loại mẫu cây; phân tích thống kê. Kết quả nghiên cứu đã xác định được 85 loài cỏ dại thuộc 67 chi của 32 họ trong lớp Ngọc lan. Chúng được xếp vào 4 nhóm dạng sống, trong đó dạng thân cỏ chiếm ưu thế. Số loài có giá trị sử dụng là 81 loài, chiếm ưu thế là các loài dùng làm thuốc, làm rau ăn và làm thức cho ăn gia súc, gia cầm. Sự phong phú, đa dạng về thành phần loài được ghi nhận cao nhất ở vụ đông - xuân và các ruộng lúa được khảo sát ở huyện Chợ Mới và thành phố Châu Đốc. Tuy thành phần loài đa dạng nhưng chỉ một số ít loài xuất hiện với tần suất cao (nhóm D, E), hầu hết các loài còn lại có tần suất xuất hiện rất thấp (nhóm A). Mật độ cỏ dại thuộc lớp Ngọc lan cao nhất là ở vụ hè - thu (trung bình là 3,59±0,13 chồi/m2) và ở các ruộng lúa được khảo sát ở huyện Châu Phú (trung bình là 5,44±0,16 chồi/m2) và Tri Tôn (trung bình là 5,26±0,12 chồi/m2). Sự phong phú, đa dạng về thành phần loài và mật độ các loài cỏ dại trong các ruộng lúa ít bị ảnh hưởng bởi hệ thống đê bao.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ CHÍN THU HÁI ĐẾN CHẤT LƯỢNG QUẢ THANH MAI (Myrica esculenta) BẢO QUẢN BẰNG CÔNG NGHỆ HYOKAN
Abstract : 1 PDF: 1Quả Thanh mai (Myrica esculenta) ở những độ chín sau thu hoạch khác nhau sẽ có những biến đổi hóa lý, sinh hóa trong điều kiện môi trường bảo quản và là một thách thức lớn để xử lý sau thu hoạch. Quả được thu hái ở các độ chín sinh lý khác nhau, bao gồm: khi bề mặt quả màu đỏ hồng, khi 50% diện tích bề mặt quả chuyển màu nâu sẫm và khi 100% diện tích bề mặt quả chuyển màu nâu sẫm. Quả bảo quản bằng công nghệ Hyokan ở nhiệt độ 40C. Kết quả nghiên cứu cho thấy, độ chín thu hái khi 100% diện tích bề mặt quả chuyển màu nâu sẫm (CT3) có ảnh hưởng rõ và tích cực đến một số chỉ tiêu hóa lý, sinh hóa cũng như chất lượng cảm quan của quả trong quá trình bảo quản. Sau 16 ngày bảo quản ở CT3 có sự biến đổi về hàm lượng một số chất dinh dưỡng và cảm quan chậm nhất, hao hụt khối lượng thấp (trung bình giảm 0,25%). Hàm lượng chất khô hòa tan giảm chậm (giảm 1,90Bx so với ban đầu); hàm lượng đường tổng số giảm chậm (giảm 0,82%); hàm lượng axit tổng số thấp và giảm chậm nhất (giảm 0,22% so với ban đầu). Hàm lượng vitamin C giảm ít nhất (giảm 23,1% so với ban đầu). Chất lượng cảm quan của quả vẫn được đánh giá tốt nhất trong quá trình bảo quản (đạt 17,62 điểm). Như vậy, quả Thanh mai nên được thu hoạch ở độ chín sinh lý khi 100% diện tích bề mặt quả chuyển màu nâu sẫm để đảm bảo giá trị dinh dưỡng và chất lượng cảm quan của quả trong quá trình bảo quản.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA TỶ LỆ BỘT TỎI VÀ MÈ RANG BỔ SUNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG CỦA SỐT GIA VỊ HỒNG QUÂN
Abstract : 1 PDF: 1Nghiên cứu được thực hiện nhằm khảo sát ảnh hưởng của tỷ lệ bột tỏi (4, 5, 6, 7%) và mè rang bổ sung (8, 10, 12 và 14%) đến hàm lượng các hoạt chất sinh học (phenolic, flavonoid và tannin), khả năng chống oxy hóa (DPPH, FRAP, AAI) và chất lượng (thành phần hóa học - protein, lipid, đường, axit và màu sắc) của sản phẩm sốt gia vị Hồng quân. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ bột tỏi 6% và mè rang bổ sung 12% là thông số tối ưu của thí nghiệm. Ở điều kiện tối ưu này, sản phẩm sốt gia vị hồng quân có điểm đánh giá cảm quan cao về màu sắc, mùi vị, trạng thái và mức độ ưa thích; với các thông số màu sắc (L* là 49,94, a* là 6,54, b* là 14,33 và độ biến màu DE là 45,64); hàm lượng các hoạt chất sinh học (tannin là 2,97 mgTAE/g, phenolic là 1,08 mgGAE/g, flavonoid là 30,62 mgQE/100 g); hoạt động chống oxy hóa (FRAP là 6,08 M FeSO4/100 g; DPPH là 87,27%; AAI là 3,29); hàm lượng các thành phần hóa học (axit tổng 0,850%, protein tổng 3,595 mg/g, đường tổng 23,449 mg/g và lipid 4,111%).
-
NGHIÊN CỨU ĐIỀU KIỆN TIỀN XỬ LÝ VÀ CHIẾT TÁCH COLLAGEN TỪ DA VÀ VẢY CÁ LÓC (Channa striata) BẰNG PEPSIN
Abstract : 1 PDF: 1Nghiên cứu điều kiện tiền xử lý và chiết tách collagen bằng pepsin được thực hiện nhằm sản xuất collagen đạt chất lượng tốt. Nghiên cứu gồm 3 thí nghiệm: (i) ảnh hưởng của nồng độ và thời gian ngâm EDTA-2Na đến khả năng khử khoáng từ vảy cá lóc; (ii) ảnh hưởng của nồng độ pepsin; (iii) thời gian ngâm pepsin đến quá trình chiết tách collagen từ da và vảy cá lóc. Kết quả cho thấy, vảy cá lóc xử lý bằng dung dịch EDTA-2Na 0,8 M trong 24 giờ cho hiệu quả loại khoáng tốt nhất, hàm lượng khoáng còn lại 1,99%. Mẫu sau khi xử lý, được chiết tách bằng 0,10% pepsin cho hiệu suất thu hồi collagen đạt 19,0%, độ nhớt 19,6 mPa.s, màu sắc sáng với giá trị L* là 87,5. Cố định nồng độ 0,10% pepsin, ngâm mẫu trong 48 giờ cho hiệu suất thu hồi collagen cao nhất đạt 20,8%, độ nhớt 18,6 mPa.s và độ hòa tan cực đại ở pH 1 - 4 và nồng độ NaCl từ 0,2 - 0,4 M. Dựa vào phổ FTIR cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa số bước sóng trong vùng amide I và vùng amide III, đặc biệt là sự ổn định của cấu trúc xoắn ba, cho thấy collagen có đầy đủ nhóm chức năng của collagen loại I. Hàm lượng imino axit chiếm 20,0% nên collagen có nhiệt độ biến tính lên đến 34°C. Vì vậy, có thể tận dụng da và vảy cá lóc là nguồn nguyên liệu để sản xuất collagen.
-
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH KHÍ CH4 TỪ Ủ YẾM KHÍ RÁC THỰC PHẨM
Abstract : 1 PDF: 1Nghiên cứu này nhằm xác định khả năng sinh khí CH4 từ ủ yếm khí rác thực phẩm phân hủy sinh học như là một giải pháp được mong đợi trong tái sử dụng rác thực phẩm. Thí nghiệm ủ yếm khí rác thực phẩm theo mẻ với 5 nghiệm thức tính theo tỷ lệ tổng chất rắn (TS) được nạp gồm 0,5%TS, 1,0%TS, 1,5%TS, 2,0%TS và 2,5%TS được thực hiện trong 60 ngày. Thể tích của tổng khí và thể tích khí CH4 sinh ra được tích dồn trong 10 ngày và tỉ lệ phần trăm khí CH4 được xác định ở các ngày thứ 10, 20, 30, 40, 50 và 60. Kết quả cho thấy, thể tích của tổng khí và thể tích khí CH4 sinh ra có tương quan thuận với tỷ lệ TS được nạp. Thể tích của tổng khí và thể tích khí CH4 sinh ra cao nhất ở ngày 31-40, giảm mạnh ở ngày 51-60. Năng suất sinh khí tốt nhất ở nghiệm thức 0,5%TS (259,50 ± 8,28 L/KgTS) so với các nghiệm thức còn lại (140,14 ± 9,28 L/KgTS, 122,50 ± 11,36 L/KgTS, 124,06 ± 12,01 L/KgTS và 105,00 ± 7,10 L/KgTS lần lượt cho các nghiệm thức 1,0%TS, 1,5%TS, 2,0%TS và 2,5%TS). CH4 sinh ra từ ngày 50 có tỷ lệ cao hơn 45%, có thể được sử dụng cho đun nấu. Kết quả về lượng và tỷ lệ khí CH4 sinh ra ở nghiên cứu này cho thấy ứng dụng tiềm năng của sản xuất khí sinh học từ rác thực phẩm.
-
KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG NƯỚC MẶT ĐOẠN KÊNH BÚNG XÁNG, QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Abstract : 1 PDF: 1Đánh giá chất lượng nước mặt đoạn kênh Búng Xáng, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ để có cách quản lý phù hợp. Việc thu mẫu được triển khai tại 6 vị trí trên đoạn kênh lúc triều cường và triều kiệt và đánh giá 7 thông số chất lượng nước bao gồm pH, hàm lượng oxy hòa tan (DO), nhu cầu oxy hóa học (COD), đạm amoni (N-NH4+), đạm nitrate (N-NO3-), đạm nitrite (N-NO2-) và phosphat (P-PO43-). Chất lượng nước được so sánh với QCVN 08-MT: 2015/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước mặt cột B1 chất lượng nước tưới tiêu, thủy lợi. Kết quả nghiên cứu cho thấy, giá trị pH dao động từ 7,0-7,9 nằm trong giới hạn cho phép của QCVN 08-MT: 2015/BTNMT. Hàm lượng COD trung bình 41,83-56,07 mg/L, vượt 1,37-1,87 lần; N-NH4+ 4,51-9,14 mg/L vượt 5,01-10,16 lần; P-PO43-0,42-0,72 mg/L vượt 1,4-2,4 lần; DO đều thấp hơn mức quy định ngoại trừ thời điểm nước lớn ở chế độ triều kém và N-NO2- bằng với giới hạn cho phép của QCVN 08-MT: 2015/BTNMT. Nguồn gây ô nhiễm chủ yếu là từ hoạt động sinh hoạt và kinh doanh của người dân sinh sống dọc theo đoạn kênh. Chất lượng nước mặt đoạn kênh Búng Xáng bị ô nhiễm nghiêm trọng, do đó, cần phải có biện pháp xử lý chất lượng nước và nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường.
-
ỨNG DỤNG PHẦN MỀM WAVE THIẾT KẾ HỆ THỐNG KHỬ NƯỚC BIỂN BẰNG CÔNG NGHỆ LỌC THẨM THẤU NGƯỢC
Abstract : 1 PDF: 1Nhu cầu cấp nước sinh hoạt ở những vùng ven biển và hải đảo ngày càng được quan tâm trong tình hình nguồn nước cấp khan hiếm. Công nghệ lọc nước bằng phương pháp lọc thẩm thấu ngược (RO) đang được áp dụng phổ biến trong xử lý nước biển thành nước ngọt. Việc lựa chọn loại cột lọc và áp suất phù hợp với tính chất của nước biển đầu vào là vấn đề cần quan tâm khi áp dụng công nghệ này. Nghiên cứu được thực hiện tại phòng thí nghiệm của Trường Đại học Cần Thơ từ tháng 6/2021 đến tháng 12/2021. Nghiên cứu sử dụng phần mềm WAVE để mô phỏng lưu lượng dựa theo thông số chất lượng nước đầu vào và tỷ lệ thu hồi nước khác nhau, từ đó lựa chọn các thông số cho loại cột lọc RO phù hợp trong hệ thống xử lý nước biển. Các chỉ tiêu cơ bản đầu vào của hệ thống xử lý đều nằm trong giới hạn cho phép của QCVN 10 – MT: 2015/BTNMT. Hệ thống RO với 2 Stages (cột được lắp dạng lọc lại dòng đậm đặc) tỷ lệ thu hồi nước là 12%, với thông số đầu vào: pH =6,5, độ đục =0,8 NTU; TSS= 2,7 mg/L; SDI =3,3; TDS =31.300 mg/L. Kết quả mô phỏng đầu ra pH = 6,3; độ đục =0,12 NTU, Chloride =70,0 mg/L và TDS trung bình là 156 mg/L, đạt QCVN 01-1: 2018/BYT của Bộ Y tế và thông số thiết kế cột RO là Q=100 L/giờ và áp suất P= 41,7 bar.
-
TÍNH TOÁN CÁC BỘ PHẬN CƠ BẢN CỦA HỆ THỐNG SẤY BƠM NHIỆT ĐỂ SẤY QUẢ HỒI
Abstract : 2 PDF: 1Nghiên cứu áp dụng công nghệ sấy bơm nhiệt tiết kiệm năng lượng cho sấy quả hồi để đạt các yêu cầu trong bảo quản, chế biến và xuất khẩu thay thế cho các phương pháp làm khô quả hồi truyền thống là cần thiết để tăng năng suất và chất lượng của sản phẩm hồi khô phục vụ xuất khẩu, từ đó làm tăng hiệu quả kinh tế trong sản xuất hồi. Để có thể chế tạo hệ thống sấy bơm nhiệt phù hợp với yêu cầu cho trước cần thiết phải tính toán thiết kế hệ thống sấy. Kết quả nghiên cứu đã xây dựng được mô hình hệ thống sấy quả hồi bằng bơm nhiệt có năng suất 2.000 kg/mẻ với kích thước của buồng sấy gồm chiều dài 4,1 m x chiều rộng 3,1 m x chiều cao 1,7 m; công suất động cơ máy nén của bơm nhiệt 33,13 kW với tác nhân lạnh R22, công suất nhiệt 101,81 kW, công suất lạnh 103,72 kW, lưu lượng quạt gió 11.903 m3/h. Từ các thông số cơ bản của hệ thống sấy và năng suất sấy, để đưa độ ẩm của sản phẩm sấy từ độ ẩm ban đầu 80% xuống 13% theo yêu cầu, tổng thời gian sấy cần thiết là 16 giờ. Kết quả khảo nghiệm cho thấy hệ thống sấy bơm nhiệt có thời gian sấy ngắn hơn 22,7%, năng lượng tiêu thụ điện giảm 11,3%, màu sắc sản phẩm sấy đẹp hơn và tỷ lệ vỡ vụn của quả hồi sau sấy nhỏ hơn so với các lò sấy thông thường.
-
HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH TRONG SẢN XUẤT LÚA THEO CÁNH ĐỒNG LỚN CỦA NÔNG HỘ Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Abstract : 1 PDF: 1Mục tiêu của nghiên cứu này là phân tích hiệu quả tài chính và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận trong sản xuất lúa của nông hộ ở đồng bằng sông Cửu Long. Dữ liệu trong nghiên cứu dựa trên số liệu thu thập từ 240 nông hộ trên địa bàn nghiên cứu, trong đó có 126 nông hộ tham gia cánh đồng lớn (CĐL) và 114 nông hộ ngoài CĐL. Kết quả nghiên cứu cho thấy, nông hộ sản xuất lúa trong CĐL có chi phí sản xuất thấp hơn, đạt được lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận cao hơn so với nông hộ sản xuất ngoài CĐL. Kết quả phân tích mô hình hồi quy cho thấy nông hộ tham gia cánh đồng mẫu lớn đạt tỷ suất lợi nhuận cao hơn nông hộ không tham gia. Bên cạnh đó, tỷ suất lợi nhuận bị ảnh hưởng bởi các yếu tố: Số lao động trong hộ tham gia sản xuất lúa; tập huấn; tham gia hội đoàn thể địa phương; diện tích và mùa vụ sản xuất. Đã đề xuất các giải pháp giúp nông hộ tham gia CĐL cải thiện hiệu quả tài chính trong sản xuất lúa.
-
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA MÔ HÌNH DU LỊCH XANH GẮN VỚI CÔNG VIÊN ĐỊA CHẤT TOÀN CẦU UNESCO NON NƯỚC CAO BẰNG
Abstract : 1 PDF: 1Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả của mô hình du lịch xanh gắn với Công viên Địa chất Toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng (CVĐC Cao Bằng) thông qua việc sử dụng một số phương pháp nghiên cứu, như: (1) Phương pháp thu thập dữ liệu; (2) Phương pháp tổng hợp và xử lý dữ liệu; (3) Phương pháp phân tích dữ liệu thông qua các phương pháp phân tích chi phí và lợi ích, phân tích thống kê mô tả, mô hình SWOT. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Mô hình đạt hiệu quả về tài chính (NPV > 0), sau một năm mô hình hoàn vốn và bắt đầu có lợi nhuận. Đồng thời, mô hình được sự đồng thuận cao của các chuyên gia về việc đem lại hiệu quả về môi trường và xã hội bao gồm đa dạng các sản phẩm du lịch tại CVĐC Cao Bằng, bảo tồn nguồn giống gen bản địa, sản xuất theo hướng hữu cơ, đảm bảo các vấn đề về môi trường, bảo tồn các giá trị truyền thống của đồng bào dân tộc, tạo việc làm cho người dân địa phương trên cơ sở đối xử bình đẳng, minh bạch và tuân thủ các quy định của pháp luật, thiết lập hương ước đồng quản lý giữa các bên liên quan. Trên cơ sở kết quả phân tích, đã đề xuất một số giải pháp nhằm khai thác tiềm năng của mô hình.








