Số 13 (2022)

					Xem Số 13 (2022)
Đã Xuất bản: 15-07-2022

Bài viết

  • ẢNH HƯỞNG CỦA LIỀU LƯỢNG PHÂN N, P, K ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG QUẢ XOÀI CÁT CHU (Mangifera indica L.) VỤ NGHỊCH TẠI HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

    Abstract : 1 PDF: 1
    Nguyễn Văn Sơn, Châu Đức Thọ, Peter Johnson
    56-61

    Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân N, P, K đến năng suất và phẩm chất xoài Cát Chu (Mangifera indica L.) vụ nghịch được thực hiện ở xã Mỹ Xương, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp từ tháng 3 đến tháng 11 năm 2021 trên cây xoài từ 15 – 20 năm tuổi. Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 4 nghiệm thức gồm: T1 (25% N, P, K): 350 g N - 275 g P2O5 - 350 g K2O; T2 (75% N, P, K): 1050 g N - 825 g P2O5 - 1050 g K2O; T3 (50% N, P, K): 700 g N - 550 g P2O5 - 700 g K2O; T4 (100% N, P, K) đối chứng: 1400 g N - 1100 g P2O5 - 1400 g K2O và 5 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại 1 cây. Kết quả thí nghiệm cho thấy có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức bón phân với liều lượng khác nhau đến khối lượng quả, chiều dài và chiều rộng quả, năng suất trên cây, tỷ lệ thịt quả, độ dày thịt quả nhưng khác biệt không có ý nghĩa về các chỉ tiêu: tổng số quả trên cây, đường kính quả, độ brix, màu sắc vỏ và thịt quả. Nghiệm thức T1 (100% N, P, K) đối chứng có thông số cao nhất về khối lượng quả 375,25 g, tỷ lệ thịt quả 75,01%, độ dày vỏ quả 27,32 mm, năng suất 53,40 kg/cây khác biệt có ý nghĩa so với nghiệm thức T1 (25% N, P, K), nhưng khác biệt không có ý nghĩa so với nghiệm thức T2 (75% N, P, K) có khối lượng quả 364,35 g, tỷ lệ thịt quả 74,18%, độ dày thịt quả 26,05 mm, năng suất 45,60 kg/cây và T3 (50% N, P, K) có khối lượng quả 352,25 g, tỷ lệ thịt quả 73,86%, độ dày thịt quả 25,69 mm, năng suất 43,60 kg/cây.

    DOI: https://doi.org/10.71254/4qexv449
  • BẢO ĐẢM AN NINH NGUỒN NƯỚC VÀ AN TOÀN ĐẬP, HỒ CHỨA NƯỚC - THỰC TIỄN TẠI VIỆT NAM

    Abstract : 1 PDF: 1
    Nguyễn Văn Tỉnh, Lê Hùng Nam, Nguyễn Đức Việt, Nguyễn Văn Thành
    3-10

    Nước là sự sống, có vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, nhưng hữu hạn và dễ bị tổn thương. Bảo đảm nguồn nước cho phát triển đã trở thành vấn đề toàn cầu, nhiều quốc gia trên thế giới đã đưa nội dung bảo đảm an ninh nguồn nước vào nhóm vấn đề ưu tiên ở cấp quốc gia và cấp lưu vực sông. Nhận định vai trò, tầm quan trọng của bảo đảm an ninh nguồn nước đối với phát triển đất nước, Bộ Chính trị đã có Kết luận số 36 -KL/TW ngày 23/6/2022 về Bảo đảm an ninh nguồn nước và an toàn đập, hồ chứa nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đặt ra mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp nhằm bảo đảm số lượng, chất lượng nước phục vụ dân sinh trong mọi tình huống, đáp ứng nhu cầu sử dụng nước cho sản xuất, kinh doanh của các ngành, lĩnh vực; chủ động tích trữ, điều hoà nguồn nước, khai thác, sử dụng hiệu quả đi đôi với bảo đảm an toàn đập, hồ chứa nước; ứng phó hiệu quả với các thảm hoạ, thiên tai liên quan đến nước, thích ứng với biến đổi khí hậu; bảo vệ môi trường, khắc phục tình trạng suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước.

    DOI: https://doi.org/10.71254/gqwhh883
  • CẤP NƯỚC SẠCH NÔNG THÔN ĐẢM BẢO AN NINH NGUỒN NƯỚC, GÓP PHẦN XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

    Abstract : 1 PDF: 1
    Lương Văn Anh
    11-22

    Phát triển kinh tế - xã hội tại khu vực nông thôn gắn kết với cấp nước sạch nông thôn (CNSNT) là mục tiêu và cũng là đồng bộ hạ tầng thiết yếu đảm bảo phát triển bền vững. CNSNT đồng bộ trong xây dựng nông thôn mới, đảm bảo an ninh nguồn nước đáp ứng thực tiễn. Đứng trước những thách thức mang tính thời sự và lâu dài, cấp nước sạch phục vụ dân sinh khu vực nông thôn cần có sự chuyển biến mang tính bước ngoặt để đảm bảo cấp nước an toàn và nâng cao tỷ lệ người dân nông thôn được cấp nước đạt quy chuẩn. Bài báo này tổng quan CNSNT, đề xuất một số giải pháp thực hiện phát triển CNSNT thời gian tới trong những cơ hội và thách thức mang tính truyền thống và phi truyền thống.

    DOI: https://doi.org/10.71254/3yme0m74
  • NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT VÀ CHẾ PHẨM NANO PHÒNG TRỪ BỆNH RỤNG QUẢ, THỐI QUẢ DO NẤM C. gloeosporioides VÀ Phytophthora spp. TRÊN CAM CANH

    Abstract : 1 PDF: 1
    Đỗ Thị Lan, Trần Quang Hải, Vũ Văn Tùng, Hoàng Thị Lan Hương
    23-28

    Trong những năm gần đây diện tích trồng cam Canh đang đứng trước nguy cơ suy giảm do thiệt hại năng suất, chất lượng bởi bệnh thối, rụng quả do hai loài nấm C. gloeosporioides Phytophthora spp. gây hại ở hầu hết các bộ phận và giai đoạn phát triển của cây. Kết quả nghiên cứu một số thuốc bảo vệ thực vật trong năm 2020 và 2021 tại xã Tự Nhiên, huyện Thường Tín cho thấy ba loại thuốc Score 250EC, Ridomil gold 68WP, chế phẩm Nano hợp kim bạc đồng Super đều có tác dụng trong việc phòng, trừ bệnh thối quả, rụng quả cam do nấm C. gloeosporioidesPhytophthora spp. sau phun lần hai 45 ngày. Trong đó thuốc Ridomil gold 68WP đạt hiệu quả phòng trừ cao nhất (71,66 năm 2020, 71,34 năm 2021), tiếp đến thuốc Score 250EC (64,92 năm 2020, 64,15 năm 2021), cuối cùng là chế phẩm Nano hợp kim bạc đồng Super (59,97 năm 2020; 59,90 năm 2021).

    DOI: https://doi.org/10.71254/jz979q07
  • KHẢO SÁT KHẢ NĂNG ĐỐI KHÁNG CỦA XẠ KHUẨN ĐỐI VỚI NẤM Phytophthora sp. GÂY BỆNH NỨT THÂN, XÌ MỦ TRÊN MÍT

    Abstract : 1 PDF: 0
    Đinh Thị Ngọc, Lê Minh Tường
    29-36

    Mục tiêu của nghiên cứu nhằm tìm ra chủng xạ khuẩn có khả năng đối kháng với nấm Phytophthora sp. gây bệnh nứt thân, xì mủ trên mít. Kết quả phân lập được 98 chủng xạ khuẩn từ đất vườn mít ở tỉnh Tiền Giang, Vĩnh Long và Hậu Giang. Có 37/98 chủng xạ khuẩn có khả năng đối kháng với nấm Phytophthora sp. và 5 chủng xạ khuẩn BM5 - VL, CT12 - HG, CB4 - TG, BM7 - VL và BM3 - VL có khả năng đối kháng cao với nấm Phytophthora sp. với bán kính vòng vô khuẩn lần lượt là 15,0 mm; 13,0 mm; 10,8 mm; 9,2 mm và 8,2 mm và hiệu suất đối kháng cao lần lượt là 64,29%; 59,52%; 56,67%; 50,81% và 49,12% ở thời  điểm 9 ngày sau thí nghiệm. Khả năng phân giải β-glucan của 5 chủng xạ khuẩn trên cũng được thực hiện trong điều kiện phòng thí nghiệm với 5 lần lặp lại. Kết quả cho thấy, chủng xạ khuẩn CT12-HG có khả năng tiết ra phân giải β-glucan cao nhất với bán kính vòng phân giải là 9,8 mm và hàm lượng enzyme tiết ra là 0,36 IU/ml ở thời điểm 14 ngày sau thí nghiệm.

    DOI: https://doi.org/10.71254/dwmmna25
  • SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ DƯỠNG CHẤT THEO VÙNG CHUYÊN BIỆT ĐỂ GIẢM CHÊNH LỆCH NĂNG SUẤT DỨA TRỒNG TẠI HẬU GIANG

    Abstract : 1 PDF: 1
    Nguyễn Minh Phụng, Nguyễn Quốc Khương
    37-45

    Mục tiêu của nghiên cứu là (i) Xác định chênh lệch năng suất dứa giữa các nông hộ; (ii) Đánh giá ảnh hưởng của bón phân NPKCaMg đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng trái dứa. Thí nghiệm nông hộ được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 3 lặp lại tương ứng 3 vườn dứa tại thị trấn Vĩnh Viễn, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Các nghiệm thức ở mỗi hộ gồm: (i) Không bón phân; (ii) Bón đầy đủ N, P, K, Ca và Mg; (iii) Bón P, K, Ca và Mg; (iv) Bón N, K, Ca và Mg; (v) Bón N, P, Ca và Mg; (vi) Bón N, P, K và Mg; (vii) Bón N, P, K và Ca; (viii) FFP: Bón phân theo nông dân. Kết quả cho thấy, năng suất chênh lệch giữa các hộ nông dân 53,1% đối với nghiệm thức FFP, trong khi đó sử dụng phương pháp bón phân dựa trên quản lý dưỡng chất theo địa điểm chuyên biệt ở nghiệm thức bón đầy đủ N, P, K, Ca và Mg có độ chênh lệch chỉ 20,7%. Sử dụng công thức phân NPKCaMg là 370,3 - 387,3 - 364,9 - 2.009,5 và 1.035,3 kg/ha, theo thứ tự giúp giảm chênh lệch năng suất dứa trồng trên đất phèn tại huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Nghiệm thức bón khuyết một trong các dưỡng chất N, P, K, Ca và Mg dẫn đến giảm chiều cao cây dứa, trong khi đó nghiệm thức bón khuyết N, P, K và Ca giảm chiều dài lá D và chiều dài thân. Năng suất dứa ở nghiệm thức bón đầy đủ NPKCaMg đạt 35,2 tấn/ha, cao hơn so với nghiệm thức FFP, với 29,4 tấn/ha, tương ứng với độ Brix 7,88% so với 7,20%. Bón khuyết dưỡng chất N, P và Ca giảm hàm lượng nước trong trái, bón khuyết K giảm độ Brix và hàm lượng vitamin C.

    DOI: https://doi.org/10.71254/md7pd012
  • ẢNH HƯỞNG CỦA LƯỢNG BÓN ĐẠM, LÂN, KALI ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT, HÀM LƯỢNG GLYCOALCALOID CỦA CÂY CÀ GAI LEO (Solanum hainanense Hance) TRỒNG TRÊN ĐẤT ĐỒI TẠI HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA

    Abstract : 1 PDF: 0
    Lê Hùng Tiến, Trần Công Hạnh, Nguyễn Bá Hoạt
    46-54

    Bố trí thí nghiệm đồng ruộng một nhân tố, 13 công thức, nghiên cứu ảnh hưởng của 5 lượng bón đạm (0, 50, 75, 100, 125 N/ha/lứa thu hoạch) trên nền bón 10 tấn phân chuồng + 100 P2O5 + 80 K2O; 5 lượng bón lân (0, 40, 60, 80, 100 P2O5/ha/lứa thu hoạch) trên nền bón 10 tấn phân chuồng + 125 N + 80 K2O; 5 lượng bón K2O (0, 35, 50, 65 và 80 K2O/ha/lứa thu hoạch) trên nền bón 10 tấn phân chuồng + 125 N + 100 P2O5 đến sinh trưởng, phát triển, năng suất, hàm lượng glycoalcaloid của cây cà gai leo (Solanum hainanense Hance) trồng trên đất đồi huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa. Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB), nhắc lại 3 lần và được lặp lại trong 2 lứa thu hoạch. Thời gian thực hiện 2017 - 2018. Kết quả cho thấy: đạm có tác dụng làm tăng năng suất dược liệu, hàm lượng glycoalcaloid ở các lượng bón 50 - 100 N. Lân và kali đều có xu hướng làm tăng hàm lượng glycoalcaloid khi tăng lượng bón và đạt cao nhất ở lượng bón 40 - 60 P2O5 và 35 - 50 K2O. Trên cơ sở thiết lập phương trình tương quan giữa các lượng bón N, P2O5, K2O với năng suất dược liệu và năng suất glycoalcaloid, lượng bón tối đa về kỹ thuật được xác định ở mức 107,3 N/ha/lứa thu hoạch; 82,2 P2O5/ha/lứa thu hoạch; 68,2 K2O/ha/lứa thu hoạch đối với năng suất dược liệu và 100,8 N/ha/lứa thu hoạch; 77,6 P2O5/ha/lứa thu hoạch; 63,5 K2O/ha/lứa thu hoạch đối với năng suất glycoalcaloid. Lượng bón tối thích về kinh tế được xác định ở mức 101,4 N/ha/lứa thu hoạch; 95 P2O5/ha/lứa thu hoạch; 76,9 K2O/ha/lứa thu hoạch đối với năng suất dược liệu và 96,3 N/ha/lứa thu hoạch; 92,0 P2O5/ha/lứa thu hoạch; 74,4 K2O/ha/lứa thu hoạch đối với năng suất glycoalcaloid.

    DOI: https://doi.org/10.71254/07m03z89
  • ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN LÂN KẾT HỢP VỚI PHÂN CANXI, SILIC VÀ NỒNG ĐỘ GA3 ĐẾN NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG TRÁI THANH LONG VỎ VÀNG TẠI HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG

    Abstract : 1 PDF: 2
    Hoàng Thị Thao, Trần Thanh Mỹ, Phạm Văn Vân, Hà Chí Trực
    55-63

    Nghiên cứu được tiến hành trên cây thanh long vỏ vàng tai xanh 2,5 tuổi, mật độ trồng 1.530 trụ/ha, mỗi trụ trồng 4 cây, xử lý ra hoa bằng xông đèn nhằm xác định ảnh hưởng của lượng phân supe lân kết hợp với phân canxi, silic và nồng độ GA3 đến năng suất và chất lượng trái thanh long. Thí nghiệm 1 được bố trí và thực hiện từ tháng 6 đến tháng 9 năm 2021: gồm 15 nghiệm thức, bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ với 3 nồng độ canxi, silic (yếu tố phụ - phun qua lá): C1: 20; C2: 30; C3: 40 ml/16 lít và 5 lượng lân bón (yếu tố chính - phân bón gốc): P1: Đối chứng; P2: 80; P3: 120; P4: 160 và P5: 200 kg P2O5/ha. Thí nghiệm 2 được bố trí và thực hiện từ tháng 10 đến tháng 12 năm 2021: gồm 6 nghiệm thức (NT) phun GA3, bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ: NT1: Đối chứng; NT2: 20 ppm; NT3: 40 ppm; NT4: 60 ppm; NT5: 80 ppm; NT6: 100 ppm. Kết quả thu được cho thấy: (1) Lượng lân bón và nồng độ canxi, silic tạo ra sự khác biệt về các yếu tố cấu thành năng suất và chất lượng của trái thanh long. Năng suất trái thực thu đạt cao nhất 6,86 - 7,06 kg/trụ, tương ứng với 10,49 - 10,80 tấn/ha ở nghiệm thức C3P5 (bón 200 kg P2O5 + 40 ml/16 lít canxi, silic), C3P4 (bón 160 kg P2O5 + 40 ml/16 lít canxi, silic) và C2P4 (bón 160 kg P2O5 + 30 ml/16 lít canxi, silic); cho lãi thuần cao hơn đối chứng từ 191,38 - 205,29 triệu đồng/ha/vụ; đạt tỷ lệ lãi thuần cao hơn so với đối chứng từ 266,98 - 279,11%. (2) Nồng độ phun GA3 từ 20 - 100 ppm tạo ra sự khác biệt về đường kính trái, khối lượng trái, năng suất trái, tỷ lệ trái loại I, loại II và khối lượng thịt trái. Năng suất trái thực thu đạt cao nhất 9,02 kg/trụ, tương ứng với 13,80 tấn trái/ha ở nồng độ phun 80 ppm. Lãi thuần đạt cao nhất 361,21 triệu đồng/ha/vụ ở nồng độ 80 ppm, cao hơn đối chứng 116,37 triệu đồng/ha/vụ; tỷ lệ lãi thuần cao hơn so với đối chứng 47,53%.

    DOI: https://doi.org/10.71254/9bbf5063
  • NGHIÊN CỨU SẢN XUẤT PHÂN HỮU CƠ Ở DẠNG VIÊN TỪ LỤC BÌNH (Eichhornia crassipes) VÀ PHÂN BÒ

    Abstract : 3 PDF: 1
    Nguyễn Thành Tín, Nguyễn Phạm Minh Kha, Đặng Nguyễn Cường Thịnh, Hồ Thị Phi Yến, Hồ Thị Thanh Tâm, Thạch Thị Ngọc Yến
    64-72

    Lục bình và phân bò là nguồn nguyên liệu rất phong phú tại huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Việc xử lý nguồn nguyên liệu thành phân bón hữu cơ chất lượng để người nông dân tại địa phương sử dụng là rất cần thiết. Trong nghiên cứu này phương pháp ủ có bổ sung chế phẩm sinh học Trichoderma spp. Khối ủ được đảo trộn định kỳ 10 ngày/lần. Phân hữu cơ thành phẩm đạt độ hoai mục sau 30 ngày ủ và kích thước hạt đồng đều sau 50 ngày ủ. Kết quả cho thấy độ ẩm của phân đạt 60-64%; pH 7,0 đến 7,5; tỉ lệ C/N cao 35,81-37,30 và các chỉ tiêu OC, Nts, Phh, Khh cũng cao so với đối chứng. Đồng thời ở phân hữu cơ thành phẩm cũng không phát hiện vi khuẩn E. coliColiform.  Kết quả thử nghiệm cho thấy đối với cây rau cải và cây bắp (ngô) nếu được bón phân hữu cơ thương phẩm thì tỉ lệ nảy mầm, số lượng lá nhiều, rễ dài hơn, màu lá tốt hơn sau 16 ngày trồng. Bước đầu ép viên thử nghiệm ở phương pháp ép cơ học thông thường. Phân hữu cơ thành phẩm qua quá trình ép và sấy cho ra thành phẩm có hàm lượng chất hữu cơ không bị mất đi quá nhiều so với thành phẩm sau quá trình ủ. Với độ ẩm 51,2%; pH 7,1; OC đạt 23,73%; Nts 1,95%; Phh 2,48% và Khh 1,29% đạt yêu cầu về chất lượng theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 7185: 2002.

    DOI: https://doi.org/10.71254/761zpn67
  • HIỆU QUẢ KHÁNG KHUẨN Escherichia coli, Salmonella typhi CỦA TINH DẦU VÀ HỖN HỢP TINH DẦU SẢ CHANH, CAM, NHÀI, QUẾ

    Abstract : 1 PDF: 1
    Nguyễn Thị Thúy Hồng, Nguyễn Trần Xuân Phương, Nguyễn Lê Vũ, Hồ Thị Thạch Thúy, Đỗ Chiếm Tài
    73-78

    Hiện nay, tinh dầu được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực nhờ có hoạt tính kháng khuẩn. Trong nghiên cứu này, đã sử dụng 4 loại tinh dầu là sả chanh, cam, nhài, quế (lần lượt là mẫu 1, 2, 3, 4) để phối trộn 3 loại hỗn hợp theo tỉ lệ % về thể tích là (30 : 0 : 60 : 1) – Mẫu 5, (30 : 60 : 0 : 10) – Mẫu 6 và (30 : 30 : 30 : 10) – Mẫu 7. Tất cả các tinh dầu đơn và hỗn hợp được khảo sát hoạt tính kháng khuẩn trên chủng Escherichia coli (E. coli), Salmonella typhi (S. typhi) thường gây các bệnh về đường ruột. Kết quả cho thấy, chỉ số MIC (nồng độ tối thiểu) và IC50 (nồng độ ức chế tối đa một nửa) tốt nhất thể hiện ở tinh dầu quế (với E. coli, MIC = 2,5%; IC50 = 1,25%; với S. typhi, MIC = 5%; IC50 = 2,5%) và mẫu 5 (với E. coli, MIC = 10%; IC50 = 5%; với S. typhi, MIC = 10%; IC50 = 5%). Kết quả nghiên cứu trên khuẩn E. coli S. typhi cho thấy, có thể mở ra hướng nghiên cứu ứng dụng tinh dầu đơn và hỗn hợp các tinh dầu trong lĩnh vực bảo quản thực phẩm.

    DOI: https://doi.org/10.71254/aexhzk50
  • NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG BẢO QUẢN QUẢ XOÀI CÁT HOÀ LỘC BẰNG MÀNG CHITOSAN ĐỘ DEACETYL 90% – NANO BẠC

    Abstract : 2 PDF: 0
    Nguyễn Huỳnh Đình Thuấn, Nguyễn Ngọc Tuấn, Phạm Thị Quyên, Dương Quốc Đạt, Lý Nguyễn Bình
    79-86

    Ở nghiên cứu này, màng chitosan sử dụng bao xoài cát Hòa Lộc độ deacetyl 90% và màng chitosan được bổ sung dung dịch nano bạc 0,005M với hàm lượng 75 µl. Xoài cát Hòa Lộc được rửa nước nhiệt độ thường (M0) và rửa nước nhiệt độ 50oC (M1) không bọc màng, rửa nước nhiệt độ thường (M2) và rửa nước nhiệt độ 50oC (M3) bọc màng chitosan, rửa nước nhiệt độ thường (M4) và rửa nước nhiệt độ 50oC (M5) bọc màng chitosan – nano bạc, bảo quản ở nhiệt độ 12oC ± 2oC. Kết quả thu được, mẫu M0 và M1 sau 25 ngày bảo quản chỉ tiêu chất lượng xoài thay đổi đáng kể, tỉ lệ hư hỏng 100%. Mẫu M2 và M3, thời gian bảo quản được 30 ngày, xoài mới bắt đầu có dấu hiệu hư hỏng như xuất hiện đốm đen trên bề mặt. Mẫu M4 và M5, sau 35 ngày màu sắc của vỏ quả vẫn giữ nguyên, bề mặt quả vẫn chưa xuất hiện đốm đen, tỉ lệ hư hỏng 0%. Tuy nhiên, hai phương pháp xử lý ở hai điều kiện nhiệt độ khác nhau, cho thấy chỉ tiêu chất lượng của các mẫu là không có khác biệt nhưng rửa nước ở nhiệt độ 50oC giúp làm sạch bề mặt vỏ quả và giúp làm chậm thời gian xuất hiện của các đốm đen trên bề mặt vỏ quả.

    DOI: https://doi.org/10.71254/aqadxs72
  • ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ ĐỘ CHẦN ĐẾN CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM TỎI DẦM DẤM

    Abstract : 1 PDF: 1
    Nguyễn Thị Hạnh, Nguyễn Đình Nam, Nguyễn Văn Hưng
    87-94

    Tỏi dầm dấm là một sản phẩm rất được ưa chuộng bởi hương vị thơm ngon cũng như những lợi ích mà nó mang lại cho sức khoẻ. Tuy nhiên trong quá trình chế biến và sử dụng, tỏi thường bị biến màu xanh gây ảnh hưởng không tốt đến chất lượng của sản phẩm. Mục đích của nghiên cứu nhằm đưa ra giải pháp để hạn chế sự biến màu của sản phẩm tỏi dầm dấm. Nghiên cứu đã tiến hành đánh giá ảnh hưởng của kích thước lát tỏi và chế độ chần (nhiệt độ, thời gian) đến sự biến đổi một số chỉ tiêu hoá lý của sản phẩm trong 28 ngày. Theo đó, tỏi được thái lát với các độ dày 2 - 3 mm, 5 mm, 7 mm và tiến hành chần ở nhiệt độ 850C, 900C, 950C trong thời gian 80 s, 90 s và 100 s. Theo dõi các chỉ tiêu hoá lý gồm: màu sắc, độ cứng, hàm lượng polyphenol tổng số, hoạt lực enzyme alliinase, peroxidase và polyphenoloxydase trong 28 ngày. Kết quả cho thấy mẫu được thái lát với độ dày 5 mm, chần ở 900C trong 90 s cho kết quả tốt nhất. Cụ thể, sau 28 ngày theo dõi, chất lượng các lát tỏi của tỏi không thay đổi nhiều (∆E*ab = 2,59), độ cứng là 21,4 kg/cm2 còn lại 74%, hàm lượng polyphenol tổng số là 220,19 mg/100 g tăng 0,7%, hoạt lực enzyme allinase, peroxidase, polyphenoloxydase lần lượt là 8,74; 38,25; 29,3U bằng 10% so với nguyên liệu ban đầu.                    

    DOI: https://doi.org/10.71254/g3fz2k44
  • SO SÁNH MỘT SỐ CHỈ TIÊU HÓA LÝ VÀ KHẢ NĂNG CHỐNG OXY HÓA CỦA MỘT SỐ LOẠI MẬT ONG CHÍNH Ở VIỆT NAM

    Abstract : 1 PDF: 1
    Phạm Như Quỳnh, Cung Thị Tố Quỳnh
    95-101

    Mật ong có nguồn gốc tự nhiên với thành phần dinh dưỡng đa dạng và giàu hoạt tính kháng khuẩn, chống oxi hóa. Nghiên cứu được thực hiện trên 10 mẫu mật ong với nguồn hoa đa dạng tại một số tỉnh, thành ở Việt Nam, nhằm so sánh một số chỉ tiêu hóa lý và khả năng chống oxi hóa của các loại mật ong chính ở nước ta. Kết quả cho thấy, các mẫu mật ong đều đáp ứng yêu cầu chất lượng theo TCVN hiện hành về hàm lượng nước, hàm lượng đường khử tự do, hàm lượng đường sucrose, độ axit, hoạt lực diastase và hàm lượng HMF (5-Hydroxymethylfurfural). Bên cạnh đó, hàm lượng phenolic tổng số của các mẫu mật không giống nhau, trong đó các mẫu mật ong cà phê 2, cao su 2, mật ong nhãn có hàm lượng phenolic tổng cao, lần lượt là 332,58 ± 1,38; 314,97 ± 0,88 và 273,58 ± 0,33 mg GAE/100 g. Hàm lượng flavonoid tổng trong các mẫu mật ong khá thấp, dao động trong khoảng từ 4,33 ± 0,06 đến 38,26 ± 0,39 mg QE/100 g. Kết quả phân tích thành phần chính PCA (Principle Component Analysis) dựa trên số liệu thu được từ tính chất hóa lý, khả năng quét gốc tự do DPPH, hàm lượng phenol tổng (TPC) và hàm lượng flavonoid tổng (TFC) đã chỉ ra những tính chất đặc trưng của các mẫu mật ong nghiên cứu.

    DOI: https://doi.org/10.71254/yq74eb60
  • NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VÀ TÁI SINH TỰ NHIÊN CỦA RÚ CÁT TẠI HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN – HUẾ

    Abstract : 1 PDF: 1
    Hoàng Huy Tuấn, Nguyễn Hữu Tâm, Trần Thị Thúy Hằng
    102-109

    Kết quả nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc và tái sinh tự nhiên của rú cát (Rừng tự nhiên trên đất cát)  tại huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế cho thấy: Mật độ cây trên các OTC của tầng cây gỗ dao động từ 130 - 550 cây/ha với đường kính trung bình tại vị trí 1,3 m dao động từ 5,3 - 6,7 cm và chiều cao vút ngọn trung bình là 3,3 - 4,6 m. Số lượng loài cây tham gia vào công thức tổ thành ở tầng cây cao là 8 loài, tầng cây tái sinh là 7 loài, trong đó Trâm bầu (Syzygium corticosum) và Maca (Rapanea linearis) là hai loài cây chiếm ưu thế ở cả hai tầng. Đây là những loài cây có giá trị sinh thái cao trong quá trình phục hồi rừng, với vai trò là những cây tiên phong tạo lập, phục hồi hoàn cảnh rừng theo quy luật tự nhiên lên cấp cao hơn. Tỷ lệ cây tái sinh có nguồn gốc từ chồi chiếm tỷ lệ cao hơn so với cây tái sinh bằng hạt, lần lượt là 71,2% và 28,8%. Tỷ lệ cây tái sinh có triển vọng (H > 1 m) chiếm khoảng 57,55%. Chất lượng cây tái sinh chủ yếu ở cấp trung bình với tỷ lệ 82,45%.

    DOI: https://doi.org/10.71254/g8v96s78
  • NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG NHÃN HIỆU CHỨNG NHẬN SẢN PHẨM “MIẾN DONG BÌNH LƯ”, HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU

    Abstract : 1 PDF: 1
    Nguyễn Thị Thúy Hằng, Hoàng Thị Nga, Lê Văn Tú, Nguyễn Thị Hương, Phạm Hùng Cương, Trần Thị Kim Hương, Nguyễn Thị Phượng, Nguyễn Thanh Hưng, Nguyễn Thị Hoa
    110-117

    Dong riềng là cây mang lại giá trị kinh tế cao cho người dân tại xã Bình Lư, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu. Từ những năm 1965 - 1970 trồng cây dong riềng và sản xuất miến dong được hình thành tại xã Bình Lư với phương thức hoàn toàn thủ công, đến nay, người dân đầu tư máy xay xát củ dong riềng và chế biến miến dong bằng máy ép đùn nên năng suất và chất lượng miến dong ngày càng được nâng cao. Kết quả đánh giá các chỉ tiêu chất lượng cảm quan và sinh hóa bao gồm chỉ tiêu chất lượng, chỉ tiêu vi sinh vật và chỉ tiêu kim loại nặng cho thấy miến dong Bình Lư, huyện Tam Đường đều đảm bảo yêu cầu chất lượng theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế tại Quyết định số 46/2007/QĐ-BYT. Sản phẩm “Miến dong Bình Lư", huyện Tam Đường được Cục Sở hữu trí tuệ cấp giấy chứng nhận nhãn hiệu số 405047 theo Quyết định số 92170/QĐ-SHTT ngày 30/11/2021. Điều này sẽ thúc đẩy mở rộng sản xuất, phát triển và quảng bá sản phẩm miến dong Bình Lư, huyện Tam Đường.

    DOI: https://doi.org/10.71254/ky3ypx50
  • GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH NÔNG NGHIỆP TẠI TỈNH CAO BẰNG GẮN VỚI CÔNG VIÊN ĐỊA CHẤT TOÀN CẦU UNESCO NON NƯỚC CAO BẰNG

    Abstract : 1 PDF: 1
    Phùng Ngọc Trường, Ngô Huy Kiên, Ngô Trần Quốc Khánh, Vũ Linh Chi, Lưu Thị Toán
    118-126

    Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục đích đề xuất giải pháp xuất phát từ đánh giá nhu cầu của khách du lịch đối với loại hình du lịch nông nghiệp tại tỉnh Cao Bằng gắn với Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng thông qua việc sử dụng một số phương pháp nghiên cứu bao gồm: (1) Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp và thứ cấp; (2) Phương pháp phân tích và xử lý số liệu gồm phương pháp phân tích thống kê mô tả các chỉ số trung bình, độ lệch chuẩn, tứ phân vị; phương pháp phân tích tương quan. Kết quả cho thấy, nhu cầu du lịch nông nghiệp tại tỉnh Cao Bằng khá đa dạng. Đối tượng có nhu cầu trải nghiệm du lịch nông nghiệp chủ yếu là học sinh, sinh viên và đối tượng từ 31 - 50 tuổi đã có thu nhập ổn định. Các hoạt động du lịch nông nghiệp mà các nhóm đối tượng này hướng đến chủ yếu vào khâu chăm sóc và thưởng thức các sản phẩm ẩm thực địa phương từ các sản phẩm vừa thu hoạch tại chỗ. Tuy nhiên, du lịch nông nghiệp Cao Bằng vẫn còn một số hạn chế về giao thông, vị trí, cơ sở hạ tầng… Do đó, một số giải pháp được đề xuất để phát huy tiềm năng du lịch nông nghiệp tại Cao Bằng trong tương lai như việc các cơ quan quản lý ban hành kế hoạch phát triển du lịch nông nghiệp cụ thể; các công ty lữ hành, các doanh nghiệp du lịch phát triển các tuyến du lịch lồng ghép du lịch nông nghiệp; đa dạng hóa hình thức di chuyển đến các điểm đến du lịch nông nghiệp và cộng đồng dân cư tham gia phát triển sản phẩm du lịch nông nghiệp nghỉ dưỡng.

    DOI: https://doi.org/10.71254/gsfsnt36