Số 12 (2022)

					Xem Số 12 (2022)
Đã Xuất bản: 30-06-2022

Bài viết

  • NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG MỘT SỐ NGUỒN GEN LÚA GẠO MÀU CỦA VIỆT NAM

    Abstract : 0 PDF: 0
    Nguyễn Thị Tuyết, Phạm Hùng Cương, Trần Bình Đà, Nguyễn Thị Quyên, Vũ Thị Thảo Mi
    3-11

    Đánh giá đa dạng di truyền của 94 mẫu nguồn gen lúa gạo màu có nguồn gốc từ các tỉnh ở 3 vùng Đông Bắc, Tây Bắc và Bắc Trung bộ dựa trên đặc điểm hình thái nông học và kiểu gen thông qua 16 chỉ thị SSR. Kết quả cho thấy, đa dạng di truyền ở 16 locut với tổng số alen thu được là 69 alen, chỉ số PIC 0,578 cho thấy mức độ đa dạng trung bình. Tại một số locut xuất hiện alen dị hợp tử như SĐK15808 trên 2 locut RM455 và RM447, 13392 trên locut RM447. Một số mẫu giống xuất hiện alen đặc trưng như SĐK12829 trên mồi RM44, SĐK17163 trên mồi RM 125. Tại mức tương đồng di truyền 0,62, các mẫu nguồn gen nghiên cứu đã tách thành 2 nhóm lớn. Có 3 cặp mẫu nguồn gen có hệ số tương đồng là 1,00. Đối chiếu với cây phân nhóm di truyền dựa trên đặc điểm hình thái nông học các cặp mẫu nguồn gen này có nhiều đặc điểm hình thái tương đối giống nhau nhưng có một số đặc điểm hình thái khác nhau. Như vậy, đánh giá đa dạng di truyền thông qua 16 chỉ thị SSR phần nào đã phản ánh được các biểu hiện của kiểu gen thông qua các tính trạng hình thái. Kết quả cây phân nhóm di truyền dựa vào tính trạng hình thái nông học có thể thấy 94 giống lúa gạo màu nghiên cứu có mức độ đa dạng di truyền cao (khoảng cách di truyền từ 0,22-0,53) với mức biểu hiện khác nhau. Kết quả này là cơ sở để phân loại, nhận dạng các giống và hỗ trợ công tác bảo tồn trong việc sàng lọc các giống trùng lặp, từ đó xây dựng tập đoàn hạt nhân và giúp ích cho việc lựa chọn vật liệu khởi đầu tạo giống lúa chất lượng.

    DOI: https://doi.org/10.71254/kgc3mj52
  • NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ GIÁ THỂ BẦU TRỒNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT DƯA CHUỘT TRỒNG TRONG NHÀ CÓ MÁI CHE TẠI THANH HÓA

    Abstract : 0 PDF: 1
    Tống Văn Giang
    12-18

    Để hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất giống dưa chuột Khassib trồng trong nhà có mái che tại Thanh Hóa đã nghiên cứu, đánh giá ảnh hưởng của 4 công thức giá thể bầu trồng: Công thức 1 (đối chứng): 100% giá thể là đất, công thức 2: 70% đất + 30% xơ dừa, công thức 3: 50% đất + 50% xơ dừa và công thức 4: 30% đất + 70% xơ dừa. Nghiên cứu cho thấy giá thể khác nhau ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển, năng suất của giống dưa Khassib trồng trong trong vụ xuân hè và thu đông tại Thanh Hóa. Kết quả nghiên cứu đã xác định được công thức giá thể công thức 3: 50% đất + 50% xơ dừa cho kết quả tốt nhất. Cây dưa chuột trồng trong nhà có mái che có sinh trưởng, phát triển tốt, năng suất cao, cho thu quả sớm sau trồng 34 ngày, kết thúc 95 ngày (vụ xuân hè) và thu quả 41 ngày, kết thúc 103 ngày (vụ thu đông). Năng suất đạt 65,40 tấn/ha (vụ xuân hè) và 65,64 tấn/ha (vụ thu đông), vượt đối chứng 38,7- 40,2%.

    DOI: https://doi.org/10.71254/pb48dy39
  • TÌNH HÌNH SỬ DỤNG VÀ HÀM LƯỢNG PACLOBUTRAZOL TRONG ĐẤT TRỒNG XOÀI (Mangifera indica L.) TẠI ĐỒNG THÁP VÀ TIỀN GIANG

    Abstract : 0 PDF: 0
    Phạm Thị Thùy Dương, Bùi Minh Trí, Thái Nguyễn Diễm Hương, Võ Thái Dân, Võ Thị Thúy Huệ, Trần Văn Thịnh, Lê Thanh Vượng, Trần Thanh Tùng, Trịnh Thị Trà My
    19-27

    Nghiên cứu này được tiến hành nhằm tìm hiểu hiện trạng sử dụng Paclobutrazol (PBZ) ở hai tỉnh Đồng Tháp và Tiền Giang và đánh giá mức độ tồn dư PBZ trong đất nhằm tìm ra giải pháp sử dụng bền vững hơn đối với hợp chất này trên các khu vực trồng xoài tại hai địa phương. Khảo sát được tiến hành thông qua phỏng vấn trực tiếp dựa trên bảng câu hỏi soạn sẵn đối với 60 nông hộ ở mỗi tỉnh; sau đó lấy mẫu đất phân tích dư lượng PBZ trên 25% tổng số vườn đã sử dụng PBZ liên tục tối thiểu 5 năm. Mẫu đất phân tích được thu thập ở các độ sâu: 0 – 20 cm, 20 - 40 cm và 40 - 60 cm tại vị trí gốc và cách gốc 1/2 đường kính tán. Kết quả cho thấy, hai tỉnh Đồng Tháp và Tiền Giang có tuổi vườn xoài trên 20 năm và diện tích trung bình lần lượt là 5233,3 m2/hộ và 4805,1 m2/hộ. Cây xoài chủ yếu được nhân giống từ hạt và được trồng với mật độ từ 20,5 đến 24,6 cây/1000 m2. Các hộ được khảo sát tưới PBZ cho cây xoài với tần suất 1 lần/năm ở liều lượng trung bình là 7,8 g a.i/m đường kính tán (Đồng Tháp) và 4,7 g a.i/m đường kính tán (Tiền Giang) khi cây được 5,4 năm tuổi. Thời gian sử dụng PBZ cho cây xoài từ 15,8 năm (Đồng Tháp) đến 16,4 năm (Tiền Giang). Hàm lượng PBZ trung bình tại vị trí gốc ở độ sâu 0 - 20 cm đạt cao nhất với 22,357 mg/kg tại Đồng Tháp và 6,181 mg/kg tại Tiền Giang. Hàm lượng PBZ trong đất giảm dần theo độ sâu, tại vị trí gốc cao hơn cách gốc 1/2 đường kính tán.

    DOI: https://doi.org/10.71254/ythmmh76
  • ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN HỮU CƠ KHOÁNG ĐẾN GIỐNG DƯA VÀNG KIM NHẬT HOÀNG VÀ KIM HOÀNG ĐẾ TẠI HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

    Abstract : 0 PDF: 0
    Đỗ Thị Hường, Nguyễn Thị Ngọc Dinh, Nguyễn Thị Phương, Nguyễn Hồng Hạnh
    28-35

    Thí nghiệm hai nhân tố được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ với 3 lần nhắc lại trong điều kiện vụ xuân hè và vụ hè thu năm 2021 tại huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Nhân tố giống gồm giống dưa vàng Kim Nhật Hoàng và Kim Hoàng Đế, nhân tố phân hữu cơ khoáng gồm có Organic L9, Suối Hai và Sông Gianh. Kết quả nghiên cứu cho thấy, bón phân hữu cơ khoáng Sông Gianh cho các kết quả trung bình của hai giống về  độ brix 12,5% và 12,6%, hàm lượng chất khô của quả 9,0% và 8,5%, độ dày thịt quả 3,2 cm và 3,3 cm, khối lượng trung bình quả 1,8 kg và 1,9 kg và năng suất thực thu 19,7 tấn/ha và 18,9 tấn/ha. Bón phân hữu có khoáng Organic L9 và Suối Hai cho kết quả độ brix đạt từ 10,4 đến 11,7; hàm lượng chất khô đạt từ 7,9 % đến 8,3%; độ dày thịt quả đạt từ 2,8 cm đến 3 cm; khối lượng trung bình quả đạt từ 1,3 kg đến 1,7 kg/quả và năng suất đạt từ 13,5 tấn đến 18,6 tấn/ha. Bón phân hữu cơ khoáng làm tăng hàm lượng mùn tổng số, hàm lượng đạm tổng số, lân tổng số và kali dễ tiêu. Độ brix, khối lượng quả có tương quan thuận ở mức có ý nghĩa với đường kính nhánh mang quả đường kính cuống quả và chiều dài cuống quả ở cả hai thời vụ nghiên cứu.

    DOI: https://doi.org/10.71254/mhe06674
  • ẢNH HƯỞNG CỦA HẠN ĐẾN NHỮNG THAY ĐỔI HÓA SINH CỦA MỘT SỐ GIỐNG ĐẬU TƯƠNG TRIỂN VỌNG TẠI TỈNH BÌNH ĐỊNH

    Abstract : 0 PDF: 0
    Trương Thị Huệ, Nguyễn Văn Nam, Nguyễn Thị Hòa
    36-42

    Trong những năm gần đây, hạn hán xảy ra thường xuyên đã tác động xấu đến sự sinh trưởng, phát triển, làm giảm năng suất cây trồng trong đó có đậu tương, vì vậy việc chọn giống cây trồng chịu hạn là vấn đề cần thiết. Mục đích của nghiên cứu này là xác định sự biến đổi một số chỉ tiêu hóa sinh trong lá non đậu tương trong điều kiện hạn của 3 giống đậu tương ĐTDH.02, ĐTDH.03 và ĐTDH.04 hiện được trồng khảo nghiệm tại tỉnh Bình Định, giống MTĐ 176 làm đối chứng (giống nhạy cảm với hạn); làm cơ sở để nâng cao tính chịu hạn của đậu tương. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các giống đậu tương phản ứng với hạn bằng cách tăng hàm lượng proline, đường khử và tăng hoạt độ enzyme amylase, đồng thời giảm hàm lượng protein tan và hoạt độ enzyme catalase qua các ngày xử lý hạn. Tổng hợp đánh giá khả năng chịu hạn của một số giống đậu tương nghiên cứu dựa trên phương diện hóa sinh đã xác định được giống ĐTDH.03 có khả năng chịu hạn tốt nhất, giống ĐTDH.02 và ĐTDH.04 có khả năng chịu hạn kém hơn và giống MTĐ 176 có khả năng chịu hạn kém nhất.

    DOI: https://doi.org/10.71254/ya4eb288
  • NGHIÊN CỨU QUY TRÌNH TÁI SINH CHỒI THÔNG QUA MÔ SẸO PHÔI HÓA GIỐNG ĐỒNG TIỀN CÁNH VÀNG GIỐNG CỔ (Gerbera jamesonii Bolus) PHÁT SINH TỪ NỤ HOA NON BẰNG CÔNG NGHỆ TẾ BÀO

    Abstract : 0 PDF: 0
    Phan Thị Thu Hiền
    43-48

    Hoa đồng tiền (Gerbera jamesonii Bolus) là loài hoa có giá trị kinh tế cao và rất được ưa chuộng nhờ sự đa dạng về màu sắc, đứng hàng thứ năm trong số các loại hoa được cắt để bán trên thế giới. Hiện nay, công nghệ tế bào đang là một giải pháp giúp nhân nhanh giống hoa đồng tiền để đáp ứng được nhu cầu cây giống ở quy mô lớn. Nồng độ 2,4 - D tối ưu để hình thành mô sẹo phôi hóa từ nụ hoa non là MS bổ sung 3 mg/L 2,4 - D. Ở nồng độ này, tỉ lệ mô sẹo phôi hóa đạt cao nhất, đạt 67,78%, thời gian xuất hiện mô sẹo phôi hóa 14,43 ngày. Nguyên liệu phù hợp nhất để tạo mẫu sạch in vitro giống hoa đồng tiền cánh vàng giống cổ là nụ hoa non 3 ngày tuổi, tỷ lệ tạo mô sẹo phôi hóa đạt 72,22%. Môi trường tối ưu cho quá trình tái sinh chồi từ mô sẹo phôi hóa ở giống đồng tiền cánh vàng giống cổ là MS bổ sung 2 mg/L Kinetin, trên môi trường này, tỷ lệ tái sinh chồi đạt 73,33%, chồi cao nhất đạt 8,21 cm. Trên môi trường MS bổ sung 2 mg/L IBA, tỷ lệ ra rễ đạt cao nhất, đạt 80,00%. Giá thể có bổ sung NPK vừa cung cấp giá thể thoáng khí, vừa đủ chất dinh dưỡng nên giúp cho cây hoa đồng tiền cánh vàng giống cổ in vitro sinh trưởng, phát triển tốt, tỷ lệ sống cao đến 94,44%. Quy trình tái sinh chồi từ mô sẹo phôi hóa xuất phát từ nguyên liệu nụ hoa non ở giống đồng tiền cánh vàng giống cổ (Gerbera jamesonii Bolus) đã được xây dựng thành công.

    DOI: https://doi.org/10.71254/jc594n04
  • NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ GIẢI PHẪU CỦA GỪNG NHỌN (Zingiber acuminatum Valeton) VÀ GỪNG HOA ĐUÔI ÉN (Zingiber cardiocheilum Škorničk. & Q. B. Nguyen) Ở VIỆT NAM

    Abstract : 0 PDF: 0
    Nguyễn Đăng Minh Chánh, Trịnh Thị Nga, Đỗ Thị Xuyến
    49-55

    Trong nghiên cứu này, hai loài Gừng: Gừng nhọn (Zingiber acuminatum Valeton) có nguồn gốc ở Vườn Quốc gia Bạch Mã, tỉnh Thừa Thiên - Huế và Gừng hoa đuôi én (Zingiber cardiocheilum Škorničk. & Q. B. Nguyen) có nguồn gốc ở Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc đã được thu thập. Nhằm mô tả được đặc điểm hình thái và giải phẫu của hai loài Gừng, đã sử dụng phương pháp phân loại bằng hình thái so sánh và nghiên cứu giải phẫu thực vật. Kết quả cho thấy, hai loài Gừng có đặc điểm hình thái đặc trưng khá tương đồng. Điểm khác biệt nổi bật đó là Gừng nhọn có cụm hoa ở gốc, mặt ngoài lá bắc màu đỏ, trong khi đó Gừng hoa đuôi én có cụm hoa trên đỉnh thân giả có lá, mặt ngoài lá bắc màu xanh. Kết quả giải phẫu hai loài Gừng cho thấy có những đặc trưng chung và riêng của mỗi loài. Hai loài Gừng là hai loài dược liệu đặc trưng cho từng vùng sinh thái khác nhau. Do đó cần có những nghiên cứu sâu hơn về thành hóa học, sinh học, dược học của hai loài Gừng này.

    DOI: https://doi.org/10.71254/gb74v917
  • ẢNH HƯỞNG CỦA BÓN BIOCHAR ĐẾN SỰ THAY ĐỔI TÍNH CHẤT HÓA HỌC ĐẤT NHIỄM MẶN VÀ NĂNG SUẤT LÚA TRÊN HỆ THỐNG LÚA - TÔM

    Abstract : 3 PDF: 1
    Nguyễn Thị Kim Phượng, Nguyễn Thị Huỳnh Như, Trần Anh Đức, Đặng Duy Minh, Đoàn Thị Trúc Linh, Châu Minh Khôi
    62-70

    Đất nhiễm mặn ảnh hưởng bất lợi đến quá trình canh tác và sản xuất lúa gạo của vùng đồng bằng sông Cửu Long. Bên cạnh quản lý nước tưới hợp lý, cải tạo đất có thể giúp giảm ảnh hưởng bất lợi của mặn đối với cây lúa. Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục đích đánh giá hiệu quả của bón biochar (than sinh học) đối với một số đặc tính hóa học của đất nhiễm mặn và cải thiện sinh trưởng, năng suất lúa. Nghiên cứu được thực hiện trên hệ thống canh tác lúa - tôm ở huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang và huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre, với 3 nghiệm thức và 4 lặp lại cho mỗi nghiệm thức. Các nghiệm thức gồm: (i) đối chứng rửa mặn và bón phân theo nông dân, (ii) bón biochar 10 tấn/ha, (iii) bón biochar 10 tấn/ha kết hợp bón vôi (2 tấn CaO/ha). Thí nghiệm được thực hiện trên 2 vụ lúa, vụ tôm xen giữa 2 vụ lúa trong 2 năm và được đánh giá ở vụ lúa thứ 2. Kết quả nghiên cứu cho thấy, bón biochar cải thiện có ý nghĩa pH, giảm hàm lượng Na+ trao đổi và tăng tỷ lệ K+/Na+ trong đất khác biệt có ý nghĩa so với nghiệm thức đối chứng. Mặc dù, các chỉ tiêu liên quan đến sinh trưởng và năng suất lúa chưa khác biệt ý nghĩa thống kê, nghiên cứu cho thấy bón biochar có hiệu quả để giảm thiểu sự tích lũy và ảnh hưởng bất lợi của Na+ trong đất ở những vùng bị ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn.

    DOI: https://doi.org/10.71254/fx1fm220
  • NGHIÊN CỨU CHUYỂN HÓA BÃ ĐẬU TẠO TÁC NHÂN KÌM HÃM SỰ SẪM MÀU CỦA NẤM RƠM

    Abstract : 0 PDF: 0
    Đỗ Biên Cương, Nguyễn Ngọc Anh, Hoàng Thị Thanh Thuận, Dương Thị Thu Hà, Vũ Thị Lan
    71-76

    Biến màu do enzym là một trong những nguyên nhân lớn nhất làm giảm chất lượng nấm tươi. Do đó, các chất tự nhiên khác nhau có khả năng kìm hãm sẫm màu nấm đã được các nhà nghiên cứu sàng lọc trong những năm gần đây. Trong nghiên cứu này, các điều kiện thích hợp về nhiệt độ, pH và thời gian phản ứng để chuyển hóa bã đậu thu từ các cơ sở sản xuất đậu phụ truyền thống của Việt Nam tạo chất ức chế tyrosinase từ nấm rơm đã được xác định. Sản phẩm thủy phân giàu peptid có khối lượng phân tử 3959. Giá trị IC50 của sản phẩm là 70,48 μg/ml. Phun phủ dịch thủy phân bã đậu lên quả thể nấm 4 giờ trước khi thu hoạch giúp làm chậm sự thay đổi màu sắc và các đặc tính cảm quan khác của nấm rơm tươi trong thời gian 5 ngày bảo quản ở nhiệt độ 15 - 18°C. Việc sử dụng kết hợp dịch thủy phân bã đậu nành và các phương pháp bảo quản khác có khả năng kéo dài thêm thời gian bảo quản của các sản phẩm nấm ăn.

    DOI: https://doi.org/10.71254/sj5nmy20
  • TỐI ƯU HÓA QUÁ TRÌNH TRÍCH LY SIÊU ÂM HÀM LƯỢNG SAPONIN TRITERPENOIT TỔNG VÀ HOẠT TÍNH CHỐNG OXY HÓA TỪ CÂY DIỆP HẠ CHÂU (Phyllanthus urinaria L.)

    Abstract : 0 PDF: 0
    Nguyễn Tân Thành, Nguyễn Thị Huyền, Nguyễn Thị Uyển Nhi, Trần Văn Ngọc
    77-82

    Nghiên cứu này có mục đích tối ưu các điều kiện trích ly siêu âm hàm lượng saponin triterpenoit tổng và hoạt tính chống oxy hóa từ cây Diệp hạ châu (Phyllanthus urinaria) bằng phương pháp đáp ứng bề mặt (RSM). Bố trí thí nghiệm theo thiết kế Box – Benhken, đã xây dựng được mô hình tối ưu quy trình tách chiết saponin triterpenoit tổng (TSTC-Y1) và hoạt tính chống oxy (DPPH-Y2) với ba yếu tố là công suất siêu âm (X1), thời gian siêu âm (X2) và tỷ lệ dung môi/nguyên liệu (X3). Theo mô hình, điều kiện tối ưu hóa quá trình trích ly có hỗ trợ của sóng siêu âm để thu được hàm lượng saponin triterpenoit tổng và hoạt tính chống oxy hóa cao nhất là công suất siêu âm 315 W, thời gian trích ly 42 phút và tỷ lệ dung môi/nguyên liệu 41 mL/g. Với các thông số này, dịch chiết thu được có hàm lượng saponin triterpenoit tổng là 3,02 ± 0,05 mg/g và hoạt tính chống oxy là 92,1 ± 0,2%.

    DOI: https://doi.org/10.71254/0x7s3s03
  • NGHIÊN CỨU HÀM LƯỢNG TINH DẦU QUẢ THẢO QUẢ THÍCH HỢP ĐỂ BẢO QUẢN THỊT DÊ TƯƠI

    Abstract : 0 PDF: 0
    Nguyễn Văn Lợi
    83-89

    Tinh dầu được khai thác và thu hồi từ quả thảo quả Hà Giang bằng phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước. Tinh dầu này có màu vàng, trong suốt, vị cay nóng và mùi thơm đặc trưng hấp dẫn. Các cấu tử trong tinh dầu chiếm tỷ lệ cao như citral, neral, 7-tetradecenal, 2-isopropylbenzaldehyde, tác dụng tạo mùi thơm eucalyptol, α-terpineol, α-phellandrene, β-pinene, α-pinene và β-myrcene có tác dụng kháng khuẩn và tạo mùi thơm. Để nâng cao giá trị sử dụng của tinh dầu quả thảo quả, làm cơ sở cho việc xây dựng quy trình bảo quản thịt dê tươi bằng loại tinh dầu này, đã tiến hành thí nghiệm bảo quản thịt dê tươi bằng tinh dầu quả thảo quả với các hàm lượng 0,5%, 1% và 1,5%. Đồng thời đã phân tích đánh giá các chỉ tiêu hóa sinh, chỉ tiêu vi sinh và chỉ tiêu cảm quan của thịt dê tươi ở các công thức này sau 7 ngày bảo quản. Kết quả lựa chọn được hàm lượng tinh dầu quả thảo quả 1% tương ứng với công thức CT-C để xây dựng quy trình bảo quản. Thịt dê tươi ở công thức CT-C, sau 7 ngày bảo quản có màu đỏ tươi, độ đàn hồi tốt và không có nhớt, thịt có mùi tự nhiên xen lẫn với mùi thơm đặc trưng của tinh dầu quả thảo quả, nước luộc thịt trong, có vị ngọt đặc trưng và mùi thơm đặc trưng. Các chỉ tiêu hóa sinh, như: nước, protein, lipid, vitamin và các chất khoáng có sự biến đổi không đáng kể so với thịt dê tươi ban đầu. Đồng thời cũng ở thời điểm này không phát hiện sự có mặt của các chủng vi sinh vật Coliforms, Escherichia coli, Clostridium perfringers, Staphylococcus aureus Salmonella trong thịt dê.

    DOI: https://doi.org/10.71254/k8cdm182
  • KHẢ NĂNG CHỐNG TIA UV VÀ KHẢ NĂNG KỴ NƯỚC CỦA GỖ ĐƯỢC XỬ LÝ BỞI KEO NHỰA THÔNG - ĐỒNG SUNPHAT

    Abstract : 0 PDF: 0
    Nguyễn Thị Thanh Hiền
    90-96

    Trong nghiên cứu này, gỗ Bồ đề (Styrax tonkinensis Pierre) và gỗ Keo lai (Acacia mangium x auriculiformis) đã được ngâm tẩm với hỗn hợp của 1%, 2% và 4% dung dịch keo nhựa thông và 3% đồng sunphat. Ảnh hưởng của keo nhựa thông - đồng sunphat đến khả năng chống chịu tia UV và khả năng kỵ nước của bề mặt gỗ xử lý đã được đánh giá thông qua việc xác định độ lệch màu của bề mặt gỗ trước và sau khi chiếu UV và góc thấm ướt của bề mặt gỗ đã xử lý. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Gỗ sau khi được xử lý bởi hỗn hợp keo nhựa thông - đồng sunphat đã làm tăng khả năng kỵ nước của bề mặt gỗ. Góc thấm ướt trung bình của bề mặt gỗ Bồ đề đạt tới 94o và của gỗ Keo lai đạt 118o, tăng lên 45% và 13% so với gỗ Bồ đề và Keo lai chưa xử lý, tương ứng. Khi nồng độ của keo nhựa thông tăng lên thì góc tiếp xúc của giọt nước với bề mặt gỗ có xu hướng tăng lên và khả năng kỵ nước của gỗ cũng tăng lên. Tuy nhiên, việc xử lý bởi hỗn hợp keo nhựa thông - đồng sunphat đã làm cho bề mặt của gỗ Bồ đề trở nên hơi sẫm màu hơn, nhưng không làm ảnh hưởng đến màu sắc của bề mặt gỗ Keo lai. Đồng thời, gỗ sau khi được xử lý bởi hỗn hợp keo nhựa thông - đồng sunphat đã nâng cao được độ ổn định màu sắc và khả năng chống tia UV của bề mặt gỗ. Nồng độ keo nhựa thông sử dụng trong nghiên cứu này không ảnh hưởng rõ ràng đến khả năng chống tia UV của bề mặt gỗ ở cả hai loại gỗ thử nghiệm. 

    DOI: https://doi.org/10.71254/gryy6p51
  • PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LỰA CHỌN ỨNG PHÓ RỦI RO CỦA NÔNG HỘ TRONG SẢN XUẤT CÀ PHÊ VÙNG CẦU ĐẤT, THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG

    Abstract : 0 PDF: 0
    Nguyễn Văn Cường, Huỳnh Thanh Thủy, Nguyễn Ngọc Thùy
    97-105

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn ứng phó rủi ro trong sản xuất cà phê của nông hộ tại vùng Cầu Đất, Đà Lạt. Thông qua điều tra 180 hộ, nghiên cứu cho thấy thực trạng sản xuất; rủi ro trong sản xuất cà phê; các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn ứng phó rủi ro. Kết quả phân tích cho thấy diện tích sản xuất cà phê trên địa bàn có xu hướng giảm trong 5 năm từ năm 2017 đến năm 2021 và đa số các hộ không tham gia tổ chức sản xuất cà phê. Rủi ro trong sản xuất cà phê mà các hộ gặp phải là tình trạng ép giá, thiếu hụt lao động, ảnh hưởng của thời tiết, sâu, bệnh hại. Kết quả mô hình hồi quy logistic đa thức cho thấy trình độ, kỳ vọng giá cà phê và sự thiếu hụt lao động có tác động đến lựa chọn chia sẻ rủi ro thông qua tham gia liên kết trong sản xuất. Trong khi đó, các biến có sự tác động đến lựa chọn né tránh rủi ro thông qua việc chuyển đổi cây trồng như: tuổi vườn cà phê; thu nhập từ sản xuất cà phê; kỳ vọng giá cà phê; tác động rủi ro thời tiết; tác động rủi ro do sâu, bệnh hại; tình trạng thiếu hụt lao động.

    DOI: https://doi.org/10.71254/h4xf8727
  • NGHIÊN CỨU ĐIỀU KIỆN LAO ĐỘNG CỦA CÔNG NHÂN CHẾ BIẾN THỦY SẢN THÀNH PHỐ CẦN THƠ NĂM 2021

    Abstract : 0 PDF: 0
    Tống Thị Ánh Ngọc, Đồng Thị Nhi, Lâm Thị Anh Thư, Nguyễn Cẩm Tú
    106-113

    Nghiên cứu này thực hiện khảo sát các đặc điểm nhân khẩu học, điều kiện môi trường làm việc, bệnh nghề nghiệp và tai nạn lao động của công nhân (n=89) tại bốn công ty chế biến thủy sản trên địa bàn thành phố Cần Thơ. Kết quả cho thấy, công nhân chế biến thủy sản đa số là nữ giới (chiếm 75,3%); 82% công nhân từ 25 tuổi trở lên; trình độ học vấn từ trung học trở xuống chiếm 75,2% và thâm niên từ 1-5 năm chiếm 40,4%. Các ưu tiên quan trọng khi lựa chọn công ty làm việc của công nhân là: gần nhà (chiếm 82,0%) và đãi ngộ tốt (77,5%). Kết quả cũng cho thấy, tỷ lệ công nhân đánh giá “hài lòng” về đãi ngộ và khẩu phần ăn giữa ca tại nơi đang làm việc chiếm 57,3-64,0%. Về môi trường làm việc, <10% công nhân đánh giá “không hài lòng” về độ sáng và nhiệt độ tại nơi làm việc trong khi đó 32,6% công nhân đánh giá “không hài lòng” về độ ồn. Đối với bệnh nghề nghiệp, 47,2% công nhân có các triệu chứng bệnh thuộc hệ cơ xương khớp, hệ hô hấp (10,1%) và một số triệu chứng bệnh khác với tỷ lệ <10%. Tai nạn lao động mà công nhân chế biến thủy sản gặp phải là đứt tay và té ngã (chiếm 12,4-14,6%). Nghiên cứu này cung cấp một số thông tin hữu ích giúp nâng cao nhận thức và một số nội dung cần cải thiện trong công tác đảm bảo an toàn vệ sinh lao động, từ đó chủ động phòng tránh và góp phần làm giảm thiểu bệnh nghề nghiệp và tai nạn lao động của công nhân chế biến thủy sản.

    DOI: https://doi.org/10.71254/qqnpkp61