Số 20 (2023)

					Xem Số 20 (2023)
Đã Xuất bản: 30-10-2023

Bài viết

  • ẢNH HƯỞNG CỦA HAI LOẠI GIÁ THỂ VÀ SỐ LẦN NGẮT ĐỌT ĐẾN SỰ SINH TRƯỞNG, CHẤT LƯỢNG HOA CỦA GIỐNG CÚC PICO (Chrysanthemum sp.) MÀU TÍM

    Abstract : 20 PDF: 14
    Phạm Thị Phương Thảo, Lê Thanh Toàn, Lê Thị Hoàng Yến, Nguyễn Thị Mộng Cầm
    3-11

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm tìm ra loại giá thể, số lần ngắt đọt thích hợp cho sự phát triển, nâng cao chất lượng hoa cúc Pico màu tím. Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên 2 nhân tố: Nhân tố thứ nhất gồm 2 loại giá thể là tro: trấu: xơ dừa tỷ lệ 1: 1: 5 (GT1) và GT2 là GT1 + đất sạch Tribat với tỷ lệ 1: 1; nhân tố thứ hai là số lần ngắt đọt gồm: 1 lần (5 ngày sau trồng - NST), 2 lần (5, 20 NST), 3 lần (5, 20, 35 NST). Kết quả cho thấy, giá thể GT2 giúp cây cúc Pico sinh trưởng tốt ở chỉ số Spad, chiều cao cây, đường kính tán và khối lượng cây. Cây được ngắt đọt 1 lần có chiều cao tốt nhưng đường kính tán nhỏ hơn cây được ngắt đọt 2 - 3 lần. Về chất lượng hoa, cây trồng ở GT2 có đường kính hoa 4,48 cm và số hoa 150,3 hoa/chậu, nhiều hơn GT1. Cây ngắt đọt 3 lần có số hoa 137,1 hoa/chậu và khối lượng cây 216 g/cây, lớn nhất nhưng đường kính hoa 4,2 cm nhỏ hơn so với cây ngắt đọt 1 và 2 lần (tương ứng với 4,52 và 4,48 cm). Nghiệm thức tro: trấu: xơ dừa với tỷ lệ 1: 1: 5 + đất sạch Tribat (tỷ lệ 1:1) kết hợp 3 lần ngắt đọt là lý tưởng cho cây cúc Pico, do có tán cây lớn và số lượng hoa trên cây nhiều nhất.

    DOI: https://doi.org/10.71254/tdgytz31
  • ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC CỦA MỘT SỐ MẪU GIỐNG Ý DĨ (Coix lacryma - Jobi L.) THU THẬP TẠI TỈNH SƠN LA

    Abstract : 13 PDF: 8
    Đặng Văn Công, Đào Thế Anh, Nguyễn Thị Thanh Hòa, Hoàng Văn Lực, Nguyễn Thị Quyên, Vũ Đăng Toàn
    12-26

    Nghiên cứu được thực hiện tại tỉnh Sơn La năm 2022 nhằm xác định được các đặc điểm nông sinh học của các mẫu giống ý dĩ, làm cơ sở cho các nghiên cứu về chọn tạo giống và kỹ thuật trồng đối với cây ý dĩ. Kết quả nghiên cứu cho thấy, 17 mẫu giống ý dĩ có thời gian sinh trưởng từ 169 - 205 ngày; chiều cao cây từ 1,60 - 2,71 m; số nhánh từ 10,2 - 12,5 nhánh; số lá từ 12,3 - 16,2 lá. Các giống ý dĩ có loại bông đực đơn; hoa cái có mày chung cứng - dày hoặc mềm - mỏng; vòi nhụy và đầu nhụy có màu trắng hoặc màu tím. Quả có hình hơi thuôn, hình tròn hoặc hình trụ thuôn dài; khi chín vỏ quả có màu xám đen, vàng nhạt hoặc tím đen; vỏ quả có đặc điểm là mỏng, mềm, dễ bóp vỡ, có sọc dọc hoặc dày, cứng, khó bóp vỡ, trơn bóng; chiều dài quả từ 6 - 11,5 mm, chiều rộng quả từ 6 - 7,9 mm, chiều dài hạt từ 5 - 10,5 mm, chiều rộng hạt từ 4,2 - 6,5 mm. Các mẫu giống ý dĩ bị một số loại sâu, bệnh hại như: sâu đục thân, sâu cuốn lá, bệnh đốm lá; mức độ gây hại ở cấp độ 1. Năng suất thực thu từ 1,35 - 2,73 tấn/ha.

    DOI: https://doi.org/10.71254/b8sdf443
  • NGHIÊN CỨU HOÀN THIỆN KỸ THUẬT TẠO CÂY CON BA KÍCH TÍM (Morinda officinalis How.) Ở TỈNH THỪA THIÊN HUẾ BẰNG PHƯƠNG PHÁP NHÂN GIỐNG IN VITRO

    Abstract : 19 PDF: 11
    Tôn Thất Ái Tín, Phạm Cường, Lê Thị Thúy Nga, Tống Phước Bình, Nguyễn Thị Mỹ Phương, Nguyễn Cao Danh, Phan Thiên Giang, Hoàng Huy Tuấn, Hồ Thanh Hà, Nguyễn Duy Phong, Hồ Đăng Nguyên
    27-37

    Nghiên cứu này được thực hiện tại Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Nhà nước Một thành viên Lâm nghiệp Tiền Phong (Công ty Lâm nghiệp Tiền Phong) nhằm hoàn thiện kỹ thuật tạo cây con ba kích tím (Morinda officinalis How.) bằng phương pháp nhân giống in vitro cho hiệu quả cao ở tỉnh Thừa Thiên Huế. Kết quả nghiên cứu cho thấy, khử trùng mẫu bằng Javel 25% hai lần trong 5 phút và 10 phút cho tỷ lệ mẫu sống tạo chồi đạt 87,4%. Môi trường MS + 1 mg/l BA + 30 g/l đường + 6 g/l agar cho 9,7 chồi/cụm và chiều cao chồi đạt 1,6 cm. Môi trường 1/2 MS + 15 g/l đường + 1,5 mg/l NAA cho tỷ lệ ra rễ trên 93,0% với 5,9 rễ/cây và chiều dài rễ 2,9 cm. Kết quả nghiên cứu ở vườn ươm cho thấy, giá thể 89% đất + 5% vỏ trấu + 5% vỏ đậu phộng xay + 1% phân vi sinh Sông Hương, tưới nước phun sương 6 phút phun một lần, mỗi lần phun 10 giây, che sáng 75% trong 3 tháng đầu, sau giảm còn 50% cho tỷ lệ cây sống sót cao (trên 90%) sau 6 tháng ươm trồng. Cây ba kích tím in vitro ở vườn ươm có chiều cao trên 25 cm, đường kính cổ rễ tối thiểu 1,5 mm và có trên 5 cặp lá; cây phẩm chất tốt, xanh tươi, không sâu, bệnh đạt tiêu chuẩn xuất vườn.

    DOI: https://doi.org/10.71254/yw9ews79
  • THÀNH PHẦN NẤM GÂY BỆNH HẠI KEO TAI TƯỢNG (Acacia mangium), KEO LAI (A. mangium x A. auriculiformis) VÀ KEO LƯỠI LIỀM (A. crassicarpa) TẠI TỈNH QUẢNG NAM

    Abstract : 14 PDF: 8
    Lê Văn Bình, Đặng Như Quỳnh, Nguyễn Hoài Thu, Nguyễn Thị Loan, Trần Viết Thắng, Lê Kim Hoàn
    38-50

    Nghiên cứu về thành phần nấm gây bệnh trên cây Keo tai tượng, Keo lai và Keo lưỡi liềm tại tỉnh Quảng Nam đã xác định được 22 loài nấm gây bệnh. Các loài nấm này thuộc 14 bộ và 14 họ khác nhau; trong số này, có 11 loài nấm gây hại cho cây Keo tai tượng và Keo lai, 5 loài nấm chỉ gây hại cho cây Keo lưỡi liềm. Các loài nấm gây bệnh trên cây Keo tai tượng và Keo lai bao gồm: Colletotrichum gloeosporioides, C. fructicola, Colletotrichum sp., Pestalotiopsis vismiae, Leptoxyphium fumagoLasiodiplodia pseudotheobromae. Bệnh chết héo trên cây Keo tai tượng và Keo lai được ghi nhận do nấm Ceratocystis manginecans và bệnh phấn hồng được gây ra bởi nấm Corticium salmonicolor với tỷ lệ bệnh hại dao động từ 30,9 - 45,2% và chỉ số bệnh bình quân từ 1,01 - 1,65. Các loài nấm gây hại còn lại gây hại nhẹ với tỷ lệ bệnh hại từ 0,02 - 0,17. Nghiên cứu này cung cấp thông tin quan trọng về các loài nấm gây bệnh trên cây Keo tai tượng, Keo lai và Keo lưỡi liềm, giúp nông dân và nhà nghiên cứu hiểu rõ hơn về các yếu tố gây hại cho loài cây này và đề xuất biện pháp kiểm soát hiệu quả.

    DOI: https://doi.org/10.71254/5ab9y957
  • ỨNG DỤNG AHP VÀ GIS TRONG ĐÁNH GIÁ THÍCH HỢP ĐẤT ĐAI CHO CÂY LÚA VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

    Abstract : 14 PDF: 11
    Vũ Anh Tú, Trần Mậu Tân, Phạm Thế Tuyển, Nguyễn Thị Bắc, Hoàng Thị Chung
    51-59

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá mức độ thích hợp đất đai cho cây lúa trên diện tích đất sản xuất nông nghiệp vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Phương pháp phân tích thứ bậc (AHP) và kỹ thuật GIS đã được sử dụng trong đánh giá mức độ thích hợp của 9 yếu tố liên quan đến đặc điểm đất đai, địa hình, khí hậu, chế độ nước và độ phì nhiêu đất đai đối với cây lúa nước. Kết quả cho thấy, yếu tố loại đất có tác động đến sinh trưởng, phát triển của cây ở mức lớn nhất với 29,28%; tiếp đến là chế độ tưới với 24,48%; sau đó là độ phì 13,07%; ngập úng 9,42%; xâm nhập mặn 5,61%; địa hình tương đối 4,99%; độ dày tầng đất 4,47%; lượng mưa 4,40% và cuối cùng là tổng tích ôn 4,28%. Với diện tích 2.575.318 ha đất sản xuất nông nghiệp của vùng, diện tích đất rất thích hợp đối với cây lúa (S1) có 171.657 ha; thích hợp (S2) có 1.105.560 ha; ít thích hợp (S3) có 736.086 ha và diện tích không thích hợp có 562.015 ha. Với những vùng không thích hợp (N), hạn chế chính là loại đất, chế độ tưới và độ phì. Kết quả này tương ứng với kết quả đánh giá mức độ tác động của các yếu tố đến sự sinh trưởng, phát triển của cây lúa. Bản đồ phân hạng mức độ thích hợp đất đai đối với cây lúa vùng ĐBSCL tỷ lệ 1/250.000 đã được xây dựng. Đây là cơ sở khoa học đề xuất các phương án sử dụng đất bền vững cho cây lúa trên địa bàn các tỉnh vùng ĐBSCL đến năm 2030.

    DOI: https://doi.org/10.71254/nstm9y88
  • NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY TRÌNH CHẾ BIẾN NƯỚC NHÀU LÊN MEN

    Abstract : 12 PDF: 11
    Nguyễn Văn Lợi, Lê Anh Tuấn, Trần Văn Quy
    60-71

    Nước nhàu lên men là loại đồ uống được sản xuất từ nước ép quả nhàu cho lên men tự nhiên. Mục tiêu của nghiên cứu này là xây dựng quy trình chế biến nước nhàu lên men. Thí nghiệm được bố trí theo 5 công thức, đã chọn được công thức CT-C với tỷ lệ dịch nhàu 50 ml, nước lọc 200 ml, phối trộn với đường 14 g và nấm men 1,5 g. Bên cạnh đó, xác định được các thông số công nghệ và xây dựng được quy trình chế biến nước nhàu lên men với nhiệt độ lên men là 32oC, thời gian lên men là 48 giờ, nhiệt độ thanh trùng là 90oC và thời gian thanh trùng là 10 phút. Sản phẩm chế biến theo công thức và quy trình này có hàm lượng etanol 0,03 mg/L, độ axit bay hơi 13,41 g/L, đường tổng số 16,14 g/100 mL. Đặc biệt, không phát hiện sự có mặt của hàm lượng metanol, hàm lượng SO2 và tổng số vi sinh vật hiếu khí. Sản phẩm có màu vàng đặc trưng, mùi thơm đặc trưng hài hòa của đồ uống lên men, vị ngọt nhẹ, tê lưỡi và êm dịu, trạng thái trong suốt, không lắng cặn, có nhiều bọt mịn và đồng đều.

    DOI: https://doi.org/10.71254/50mth990
  • ĐA DẠNG LOÀI VÀ NGUỒN LỢI ĐỘNG VẬT CHÂN ĐẦU Ở VÙNG BIỂN ĐẢO LÝ SƠN VÀ LÂN CẬN

    Abstract : 15 PDF: 8
    Vũ Việt Hà1, Trần Nhật Anh, Võ Văn Quang, Nguyễn Phi Uy Vũ
    72-82

    Đa dạng loài và nguồn lợi động vật chân đầu ở vùng biển đảo Lý Sơn và lân cận được nghiên cứu dựa trên dữ liệu điều tra bằng lưới kéo trong giai đoạn 2012 - 2022. Tổng số 11 chuyến điều tra với 81 trạm thu mẫu đã được truy xuất, phân tích. Kết quả nghiên cứu đã ghi nhận 26 loài động vật chân đầu nằm trong 11 giống, 6 họ thuộc 4 bộ là: Myopsida, Octopoda, Oegopsida, Sepiida. Các loài thường gặp ở vùng biển đảo Lý Sơn gồm: Mực ống Trung Hoa (Uroteuthis chinensis (Gray, 1849), bạch tuộc vân Amphioctopus marginatus (Taki, 1964); mực nang Sepia brevimana Steenstrup, 1875; mực nang vân hổ Sepia pharaonis Ehrenberg, 1831; mực ống Loliolus beka (Sasaki, 1929) và mực lá Sepioteuthis lessoniana d'Orbigny, 1826. Các loài ít gặp, chỉ bắt gặp duy nhất một lần gồm Sepia latimanus Quoy and Gaimard, 1832; Sepia vietnamica Khromov, 1987; Sepia vossi Khromov, 1996 và Sepiella japonica Sasaki, 1929. Phân bố của các loài động vật chân đầu có tính đặc trưng theo khu vực ở cả mùa mưa và mùa khô nhưng đa dạng loài và các chỉ số đa dạng sinh học thì không có sự khác biệt. Năng suất khai thác động vật chân đầu ở khu vực cửa sông ven biển cao hơn so với khu vực xung quanh đảo Lý Sơn và khu vực ngoài khơi. Năng suất khai thác trong mùa mưa cao hơn so với mùa khô về khối lượng nhưng không khác nhau về số lượng.

    DOI: https://doi.org/10.71254/sjg25566
  • HÌNH THÁI ẤU TRÙNG LOÀI CÁ MÓM CHỈ BẠC (GERREIDAE: Gerres oyena) XUẤT HIỆN TẠI VÙNG ĐẤT NGẬP NƯỚC VEN BIỂN TIÊN YÊN, TỈNH QUẢNG NINH

    Abstract : 15 PDF: 9
    Trần Trung Thành, Nguyễn Thị Vân Anh, Nguyễn Thành Nam, Tạ Thị Thủy, Nguyễn Hà My, Nguyễn Công Sơn
    83-88

    Cá móm chỉ bạc (Gerres oyena) là loài cá rộng muối phân bố ở cửa sông ven biển nhiệt đới tới cận nhiệt đới Ấn Độ-Tây Thái Bình Dương. Các thông tin về giai đoạn sớm của loài này rất hạn chế, một phần nguyên nhân là thiếu các tài liệu mô tả hình thái. Nhằm cung cấp các dẫn liệu hình thái ngoài phục vụ công tác định loại, nghiên cứu tiến hành mô tả ấu trùng loài cá móm chỉ bạc dựa trên 59 mẫu vật (5,2 - 11,5 mm SL) thu tại vùng đất ngập nước ven biển cửa sông Tiên Yên và cửa Mô, tỉnh Quảng Ninh vào tháng 9/2019, tháng 5/2020, tháng 5/2021, tháng 10/2021. Ấu trùng có cơ thể thuôn dài, dẹp bên với 24 đốt cơ. Phần miệng có thể linh hoạt co duỗi. Hậu môn nằm ở khoảng giữa cơ thể. Khoảng cách giữa hậu môn và khởi điểm vây hậu môn lớn, giảm dần cùng với sự lớn lên của cá thể. Gai đầu khá ít, nhỏ và yếu, tạo thành hình răng cưa ở xương trước nắp mang. Cá có 9 tia vây cứng ở vây lưng. Tia vây cứng thứ hai là tia vây cứng dài nhất tương ứng ở vây lưng và vây hậu môn. Ấu trùng Gerres oyena có sắc tố rải rác ở mặt lưng và mặt bụng của cơ thể với số lượng sắc tố tăng dần cùng với sự lớn lên của cơ thể. Ở kích thước 11,5 mm SL, sắc tố đen tại gốc vây hậu môn và mặt bụng của cán đuôi hình thành 1 hàng các sắc tố hình chữ “x” cách nhau tương đối đồng đều. Một sắc tố đen đặc trưng xuất hiện tại gốc tia vây cứng thứ nhất của vây hậu môn ở tất cả các mẫu vật. Dựa trên các đặc điểm đặc trưng trên, ấu trùng Gerres oyena được thảo luận và phân biệt với ấu trùng các loài cá móm khác phân bố ở vịnh Bắc bộ.

    DOI: https://doi.org/10.71254/cr3cfv24
  • TÁC ĐỘNG CỦA THAY ĐỔI SỬ DỤNG ĐẤT TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI ĐẾN NGUỒN VỐN SINH KẾ TRỒNG TRỌT TẠI HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA

    Abstract : 18 PDF: 8
    Đỗ Thị Tám, Đỗ Đình Hiệu, Nguyễn Đình Trung, Trương Đỗ Thuỳ Linh, Xuân Thị Thu Thảo
    89-100

    Bài viết nhằm đánh giá tác động của thay đổi sử dụng đất đến nguồn vốn sinh kế trồng trọt và đề xuất giải pháp nhằm phát triển sinh kế trồng trọt trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp: Điều tra thứ cấp, chọn điểm nghiên cứu, điều tra sơ cấp, đánh giá theo thang đo 5 cấp của Likert; sử dụng ANOVA và Post-hoc để kiểm định sự sai khác về một số chỉ tiêu giữa các vùng; sử dụng kiểm định Cronbach's Alpha để xác định mức độ tương quan giữa các biến; sử dụng Spearman Rank Corrrelation Coefficient trong SPSS 22.0 để xác định tác động của thay đổi sử dụng đất đến nguồn vốn sinh kế trồng trọt. Sử dụng phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên chọn 450 hộ để điều tra. Kết quả cho thấy, nguồn vốn để phát triển sinh kế trồng trọt được đánh giá ở mức cao ở cả 3 vùng. Giai đoạn 2010 - 2021 thay đổi diện tích sử dụng đất; thay đổi mục đích sử dụng đất; thay đổi quyền sử dụng đất được đánh giá ở mức cao. Thay đổi sử dụng đất có tác động ở mức từ cao đến rất cao với sinh kế trồng trọt. Để phát triển sinh kế trồng trọt cần xây dựng chiến lược sinh kế theo vùng; quy hoạch vùng sản xuất hàng hóa tập trung; nâng cao khả năng tiếp cận nguồn vốn sinh kế; quản lý sử dụng nguồn vốn sinh kế linh hoạt, hiệu quả; tăng cường liên kết, liên doanh, huy động vốn; tăng cường tuyên truyền, phổ biến chính sách; tăng cường sự tham gia của cộng đồng.

    DOI: https://doi.org/10.71254/st2cfv12