Số 19 (2023)

					Xem Số 19 (2023)
Đã Xuất bản: 15-10-2023

Bài viết

  • NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA QUẠT GIÓ VÀ ONG MẬT ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG QUẢ DÂU TÂY TẠI TỈNH LÂM ĐỒNG

    Abstract : 18 PDF: 10
    Nguyễn Thế Nhuận, Tưởng Thị Lý, Phạm Thị Luyên, Phan Thị Mừng, Hyun Jong-Nae, Bùi Thị Thêu
    3-9

    Thí nghiệm được thực hiện tại Trung tâm Nghiên cứu Khoai tây, Rau và Hoa nhằm nghiên cứu ảnh hưởng của quạt gió và ong mật đến năng suất và chất lượng quả dâu tây tại tỉnh Lâm Đồng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, sử dụng quạt gió và ong mật (Ong nuôi) cho kết quả khác biệt có ý nghĩa so với đối chứng. NT1 (Quạt gió), NT2 (Ong mật) và NT3 (Quạt gió + Ong mật) cho năng suất tương đương nhau về mặt thống kê (34,1 - 35,8 tấn/ha/năm) với tỉ lệ quả thương phẩm đạt 81,0 - 83,4%, cao hơn có ý nghĩa so với đối chứng (32,1 tấn/ha/năm). Các chỉ tiêu về chất lượng của các nghiệm thức có hỗ trợ thụ phấn bằng quạt gió và ong mật cũng tốt hơn như quả đồng đều, bóng đẹp và màu sắc đỏ hơn, độ ngọt cũng như hàm lượng vitamin C cao hơn.

    DOI: https://doi.org/10.71254/y8pq9806
  • ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT ĐIỀU HÒA SINH TRƯỞNG THỰC VẬT LÊN SỰ PHÁT SINH CHỒI VÀ RỄ CỦA CÂY TRẦU BÀ LÁ NHỎ (Anubias barteri var. Nana) TRONG NUÔI CẤY IN VITRO

    Abstract : 15 PDF: 9
    Đỗ Đăng Giáp, Trần Trọng Tuấn, Nguyễn Thị Huyền Trang, Nguyễn Thị Thu Hằng, Trần Thị Mỹ Trâm, Đặng Thị Kim Thúy
    10-16

    Cây trầu bà lá nhỏ (Anubias barteri var. Nana) là loại cây cảnh thủy sinh có giá trị thương mại và được nuôi trồng phổ biến. Trong tự nhiên, cây trầu bà lá nhỏ sinh sản vô tính bằng thân rễ với hệ số nhân giống rất thấp. Do đó, phương pháp vi nhân giống loài cây thủy sinh này rất có ý nghĩa để đáp ứng nhu cầu sản xuất trên quy mô lớn. Trong nghiên cứu này, chồi cây trầu bà lá nhỏ in vitro được cấy lên môi trường khoáng MS có bổ sung 30 g/L sucrose, 8 g/L agar và BA (0,0; 0,5; 1,0; 1,5; 2,0 mg/L), KIN (0,0; 0,5; 1,0; 1,5; 2,0 mg/L), NAA (0,0; 0,5; 1,0; 1,5; 2,0 mg/L) tùy theo từng thí nghiệm nhằm đánh giá ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng thực vật lên sự phát sinh chồi và rễ cây trầu bà lá nhỏ trong nuôi cấy in vitro. Kết quả nghiên cứu cho thấy, môi trường MS có bổ sung 2,0 mg/L BA kết hợp NAA ở nồng độ 0,1 mg/L cho hiệu quả nhân chồi tốt nhất với số chồi trung bình đạt được 5,33 chồi/mẫu, chiều cao chồi trung bình 18,73 mm/chồi và số lá/chồi 5,87. Môi trường ra rễ thích hợp là môi trường MS có bổ sung NAA với nồng độ 1,0 mg/L với số rễ trung bình hình thành 14,13 rễ/mẫu, chiều dài rễ trung bình đạt 19,6 mm/rễ, chiều cao chồi trung bình 11,9 mm/chồi và số lá/chồi 11,2. Các kết quả đạt được rất có ý nghĩa trong việc xây dựng quy trình nhân giống cây trầu bà lá nhỏ in vitro.

    DOI: https://doi.org/10.71254/2z5a3e06
  • ĐA DẠNG VÀ BẢO TỒN CÂY THUỐC CHUYỂN VỊ TẠI VƯỜN BẢO TỒN GEN VÀ GIỐNG CÂY THUỐC KHU VỰC NAM BỘ, TRUNG TÂM SÂM VÀ DƯỢC LIỆU THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

    Abstract : 14 PDF: 11
    Ngô Thị Minh Huyền, Nguyễn Minh Hùng, Lê Đức Thanh, Nguyễn Thu Hằng, Cao Ngọc Giang, Lê Văn Minh, Lê Thanh Sơn
    17-27

    Nghiên cứu được tiến hành nhằm đánh giá đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc ở Vườn Bảo tồn gen và Giống cây thuốc khu vực Nam bộ. Kết quả nghiên cứu đã xác định được 221 loài cây thuốc thuộc 172 chi, 76 họ. Dạng sống của cây thuốc được chia làm 5 nhóm, trong đó dạng thân thảo chiếm số lượng lớn nhất là 78 loài, chiếm 35,29%. Trong các bộ phận được sử dụng làm thuốc thì  nhóm sử dụng bộ phận rễ/rễ củ/củ có số lượng loài nhiều nhất 112 loài, chiếm 50,68%. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, có 20 nhóm bệnh được chữa trị bằng cây thuốc, trong đó nhóm trị bệnh ngoài da; gan, thận, mật, đường tiết niệu; đường tiêu hóa là 3 nhóm chiếm tỷ lệ cao nhất từ 37 - 40%. Có 21 loài cây thuốc bị đe dọa có giá trị bảo tồn cao trong Sách Đỏ Việt Nam (2007), Danh lục Đỏ Việt Nam (2007), Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam (2019) và Nghị định số 84/2021/NĐ-CP. Đã thu thập bổ sung 13 loài cây thuốc còn thiếu số lượng cá thể, đánh giá ban đầu 13 nguồn gen, đánh giá chi tiết 24 nguồn gen, lập bộ ảnh màu cho 200 nguồn gen lưu giữ và bảo tồn trong vườn, cập nhật dữ liệu của 221 loài lên phần mềm quản lý dữ liệu nguồn gen Quốc gia để khai thác và sử dụng.

    DOI: https://doi.org/10.71254/bwseg989
  • ẢNH HƯỞNG CỦA THỜI VỤ, MẬT ĐỘ, PHÂN BÓN ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG LẠC ĐEN CNC1 TẠI TỈNH HƯNG YÊN

    Abstract : 13 PDF: 8
    Nguyễn Xuân Dũng, Nguyễn Huy Hoàng, Nguyễn Thị Tỉnh, Sái Ngọc Anh, Phạm Văn Dân
    28-39

    Nghiên cứu xác định thời vụ gieo trồng, mật độ và liều lượng phân bón phù hợp cho giống lạc đen CNC1 được thực hiện tại hai điểm ở huyện Kim Động và Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên trong vụ xuân và thu đông năm 2022. Thời vụ gieo trồng thích hợp nhất cho giống lạc đen CNC1 trong vụ xuân năm 2022 gieo trồng sớm và thời vụ gieo trồng chính tại địa phương (gieo từ 7/2 – 14/2), trong vụ thu đông năm 2022 là thời vụ sớm hơn thời vụ gieo trồng chính tại địa phương 7 ngày (gieo ngày 8/9), cho năng suất lần lượt ở 2 thời vụ là 33,2 – 33,4 tạ/ha và 29,1 – 29,3 tạ/ha. Mật độ gieo trồng thích hợp 30 cây/m2; công thức bón phân thích hợp cho 1 ha: 1.000 kg HCVS Sông Gianh + 500 kg vôi bột + 120 kg urê + 550 kg lân supe + 120 kg kali clorua, cho năng suất 34,5 - 34,7 tạ/ha với lãi thuần cao nhất từ 60,655 - 61,295 triệu đồng/ha trong vụ xuân năm 2022. Trong vụ thu đông năm 2022 cho năng suất từ 29,3 - 29,4 tạ/ha và lãi thuần đạt 38,895 – 40,175 triệu đồng/ha.

    DOI: https://doi.org/10.71254/tmd2jv15
  • THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM GIẢM THIỂU MỨC ĐỘ THOÁI HÓA ĐẤT, HOANG MẠC HÓA TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN

    Abstract : 23 PDF: 15
    Trần Xuân Biên, Lưu Thùy Dương, Nguyễn Việt Anh
    40-55

    Thoái hóa đất, hoang mạc hóa là quá trình tự nhiên không phổ biến trên lãnh thổ Việt Nam nhưng khá phổ biến và điển hình ở tỉnh Bình Thuận nói chung và huyện Bắc Bình nói riêng. Hiện tượng thoái hóa đất và hoang mạc hóa ở huyện Bắc Bình hình thành và phát triển do những tương tác có tính quy luật giữa các yếu tố tự nhiên, trong đó, vị trí địa lý là tác nhân cơ bản. Là một trong những địa phương có lượng mưa thấp nhất cả nước, nền nhiệt cao quanh năm kèm theo lượng bốc hơi lớn với một mùa khô kéo dài nên hạn hán xảy ra thường xuyên. Quá trình xói mòn đất do mưa (vào mùa mưa) và quá trình thổi mòn (vào mùa khô), quá trình xâm nhập mặn vào sâu trong nội địa đã làm cho tình trạng thoái hóa đất ngày càng rõ rệt, cảnh quan đặc trưng cho miền khô hạn như: Truông bụi gai, xavan nhiệt đới, trảng cỏ thứ sinh... xuất hiện ngày một nhiều hơn. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, hiện tượng hạn hán, hoang mạc hóa đang có xu hướng gia tăng ở huyện Bắc Bình, kéo theo nhiều hệ lụy về kinh tế, xã hội và môi trường. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hiện nay tổng diện tích thoái hóa đất tại huyện Bắc Bình 65.282 ha (chiếm 35,76% tổng diện tích tự nhiên) ở 2 cấp độ: Thoái hóa trung bình (36.718 ha) và thoái hóa nặng (28.564 ha). Dự báo tới năm 2030, tổng diện tích thoái hóa đất là 84.510 ha (chiếm 45,22% tổng diện tích tự nhiên), trong đó: Thoái hóa glây (1.056 ha), thoái hóa bạc màu, rửa trôi (5.751 ha), thoái hóa sạt lở, vùi lấp (3.005 ha), thoái hóa bạc màu và sét hóa (53.455 ha), thoái hóa xói mòn, rửa trôi (21.243 ha). Bằng phương pháp phân tích hệ thống bản đồ nghiên cứu đã xác định tại huyện Bắc Bình đang tồn tại 3 dạng hoang mạc hóa với tổng diện tích là 76.562 ha, trong đó: Hoang mạc cát (34.189 ha), hoang mạc đá (889 ha), hoang mạc đất cằn (41.484 ha). Dự báo tới năm 2030 diện tích hoang mạc hóa tại huyện là 82.198 ha, trong đó: Diện tích hoang mạc cát là 37.308 ha, hoang mạc đất cằn là 44.704 ha, hoang mạc đá là 186 ha.

    DOI: https://doi.org/10.71254/7q4fzk08
  • TỒN DƯ CHLORPYRIFOS ETHYL, CARBOSULFAN TRONG NƯỚC MẶT VÀ ĐẤT Ở VÙNG SẢN XUẤT LÚA BA VỤ CỦA TỈNH AN GIANG

    Abstract : 16 PDF: 7
    Nguyễn Công Thuận, Phạm Hùng Cường, Nguyễn Văn Công
    56-66

    Nghiên cứu này nhằm xác định mức độ tồn lưu chlorpyrifos ethyl, carbosulfan trong nước mặt và đất ở vùng đê bao khép kín của tỉnh An Giang, nơi canh tác lúa 3 vụ. Mẫu nước và đất/bùn đáy được thu ở ruộng lúa, kênh nội đồng và kênh chính ở các thời điểm 25, 47, 60 ngày sau khi sạ cho phân tích chlorpyrifos ethyl và carbosulfan. Đối với mẫu nước, mẫu ở ruộng được thu ở thời điểm 4 giờ sau khi phun thuốc; mẫu ở kênh nội đồng và kênh chính được thu ở thời điểm 3 ngày sau khi phun thuốc. Đối với mẫu đất/bùn đáy, mẫu ở ruộng, kênh nội đồng và kênh chính được thu ở thời điểm 3 ngày sau khi phun thuốc. Kết quả cho thấy, có sự tồn lưu chlorpyrifos ethyl trong nước (4,1 - 39,4 µg/L) và đất/bùn đáy (0,16 - 3,3 mg/kg) ở thời điểm 60 ngày sau khi sạ khi nông dân có phun thuốc chứa chlorpyrifos ethyl; trong khi không có sự tồn lưu chlorpyrifos ethyl trong nước và đất/bùn đáy ở thời điểm 25 và 47 ngày sau khi sạ khi nông dân phun thuốc không có chứa chlorpyrifos ethyl. Dư lượng chlorpyrifos ethyl trong nước ở ruộng có xu hướng cao hơn có ý nghĩa so với nước ở kênh nội đồng và kênh chính. Đối với carbosulfan, không có sự tồn lưu carbosulfan trong nước và đất/bùn đáy ở tất cả thời điểm thu mẫu khi nông dân có hoặc không có phun thuốc chứa carbosulfan. Nghiên cứu đã phát hiện sự tồn dư chlorpyrifos ethyl trong nước và đất ở vùng sản xuất lúa 3 vụ, do đó cần nghiên cứu tiếp về ảnh hưởng của chlorpyrifos ethyl đến sự phát triển của các loài thủy sinh vật trên ruộng lúa.

    DOI: https://doi.org/10.71254/0ywtsx94
  • NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA ĐIỀU KIỆN VÀ MÔI TRƯỜNG NUÔI CẤY ĐẾN KHẢ NĂNG TẠO BÀO TỬ CỦA Bacillus amyloliquefaciens P4QN11 NHẰM SỬ DỤNG TRONG CHĂN NUÔI

    Abstract : 15 PDF: 7
    Nguyễn Hải Vân, Phạm Tuấn Anh, Hà Thị Quý, Hồ Phú Hà
    67-75

    Mục đích của nghiên cứu là đánh giá ảnh hưởng của điều kiện và môi trường nuôi cấy đến khả năng tạo bào tử của Bacillus amyloliquefaciens P4QN11. Chủng sau khi hoạt hoá trong môi trường Luria Bertani (LB) được chuyển sang môi trường lên men tạo bào tử Sporulation Bacillus Medium M3 (SBM) có hiệu chỉnh hàm lượng chất dinh dưỡng và chất khoáng. Ảnh hưởng của điều kiện nuôi cấy gồm pH và thời gian đến mật độ và hiệu suất tạo bào tử được đánh giá trong quá trình lên men. Nghiên cứu đã lựa chọn được điều kiện thích hợp cho việc tạo bào tử chủng B. amyloliquefaciens P4QN11 với hàm lượng dinh dưỡng và khoáng gấp đôi so với môi trường dinh dưỡng chuẩn, pH 5,2, thời gian tạo bào tử 48 giờ với mật độ bào tử đạt 1,94.1010 bào tử/mL, hiệu suất tạo bào tử đạt 80,29%. Maltodextrin được lựa chọn làm chất mang để sản xuất chế phẩm trong quá trình sấy phun. Chế phẩm bào tử thu nhận được có khả năng sống sót cao trong điều kiện đường tiêu hoá giả lập; giữ được các hoạt tính chức năng và ổn định khi bảo quản ở điều kiện thường. Nghiên cứu đã chứng minh được tiềm năng ứng dụng của B. amyloliquefaciens P4QN11 để sản xuất chế phẩm vi sinh phục vụ trong chăn nuôi.

    DOI: https://doi.org/10.71254/8tqhpa98
  • ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ MÔ HÌNH NUÔI ỐC HƯƠNG THƯƠNG PHẨM TRONG HỆ THỐNG TUẦN HOÀN TẠI TỈNH KHÁNH HÒA

    Abstract : 20 PDF: 17
    Hoàng Văn Duật, Bùi Thị Thùy Nhung, Nguyễn Đức Tú, Trần Quang Nhã, Trần Thị Tuyết, Hoàng Diện, Trần Thị Thu Hiền, Nguyễn Thế Dương, Ngô Minh Khang
    76-83

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả kinh tế - kỹ thuật và chất lượng sản phẩm của mô hình nuôi ốc hương thương phẩm trong hệ thống tuần hoàn (RAS) tại tỉnh Khánh Hòa. Mô hình được triển khai 2 đợt. Đợt 1 tiến hành trong 153 ngày, từ tháng 9/2022 đến tháng 1/2023, đợt 2 tiến hành trong 143 ngày, từ tháng 1/2023 đến tháng 6/2023 với cỡ ốc giống 5.000 con/kg (0,2 g/con), mật độ giống thả 2.000 con/m2 đối với cả 2 đợt nuôi. Thức ăn được sử dụng là thức ăn công nghiệp dạng viên có hàm lượng protein 40,8%, lipid 7 - 9%, độ ẩm < 10%. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mô hình nuôi đợt 1 có tốc độ tăng trưởng bình quân theo ngày về khối lượng đạt 46,5 mg/ngày, năng suất thu hoạch đạt 11,8 kg/m2, cỡ ốc thu hoạch đạt 137 con/kg (7,32 g/con), tỷ lệ sống đạt 80,2%, FCR 1,36, lợi nhuận 219,4 triệu đồng, lợi nhuận/chi phí đầu tư đạt 13,0%. Mô hình nuôi đợt 2 có tốc độ tăng trưởng bình quân theo ngày về khối lượng đạt 50,1 mg/ngày, năng suất thu hoạch đạt 12,1 kg/m2, cỡ thu hoạch đạt 136 con/kg (7,37 g/con), tỷ lệ sống đạt 82,2%, FCR 1,36, lợi nhuận thu được 312,9 triệu đồng, lợi nhuận/chi phí đầu tư đạt 19,1%. Mô hình cho hiệu quả kinh tế cao, có tiềm năng phát triển và nhân rộng trên phạm vi cả nước.

    DOI: https://doi.org/10.71254/nb6fdf22
  • ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ GIẢI PHẪU LOÀI DẺ TÙNG SỌC TRẮNG (Amentotaxus argotaenia (Hance) Pilg.) Ở TỈNH THANH HÓA VÀ QUẢNG TRỊ

    Abstract : 16 PDF: 9
    Đỗ Thị Xuyến, Vũ Ngọc Tú, Nguyễn Anh Đức, Lã Thị Thùy, Đỗ Văn Hài, Lại Việt Hưng, Đặng Viết Hậu, Nguyễn Bình Liêm, Nguyễn Trung Thành
    84-89

    Dẻ tùng sọc trắng (Amentotaxus argotaenia Hance Pilg.) thuộc họ Thông đỏ (Taxaceae), đây là loài cây gỗ quý, hiếm thuộc ngành thực vật Hạt trần (Gymnospermae) ở Việt Nam. Dẻ tùng sọc trắng có các công dụng như: Làm thuốc, làm cảnh, cho dầu, gỗ... Loài này thường chỉ phân bố ở vùng núi cao của Việt Nam. Các nghiên cứu đã công bố trong thời gian qua ở Việt Nam chủ yếu tập trung vào một số đặc điểm hình thái ngoài của loài Dẻ tùng sọc trắng, trong khi đó các nghiên cứu đặc điểm giải phẫu ít khi được đề cập. Bài báo này ghi nhận kết quả nghiên cứu về đặc điểm giải phẫu cành, lá và cập nhật các đặc điểm hình thái của loài Dẻ tùng sọc trắng ở tỉnh Thanh Hóa và Quảng Trị. Theo đó, Dẻ tùng sọc trắng có đặc điểm hình thái đặc trưng bởi có chồi ngủ đông, lá mặt dưới có dải lỗ khí chạy dài dọc theo hai bên gân lá, dải lỗ khí bằng 2/3 đến 1,5 chiều rộng phần còn lại. Về cấu tạo giải phẫu, Dẻ tùng sọc trắng thường có lớp cutin dày, khoảng trống chứa khí trong thân và lá giúp cây có thể sống được trong môi trường khắc nghiệt như đỉnh núi.

    DOI: https://doi.org/10.71254/rh1f3y92
  • ĐA DẠNG THÀNH PHẦN LOÀI CHIM Ở QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

    Abstract : 12 PDF: 11
    Nguyễn Lân Hùng Sơn, Nguyễn Trọng Nghĩa, Nguyễn Quang Huy
    90-100

    Ba Đình là một trong 12 quận của thành phố Hà Nội và là 1 trong 4 quận trung tâm có tỉ lệ đô thị hóa cao với mật độ dân số 24.223,7 người/km2. Trên địa bàn quận có nhiều di tích lịch sử văn hóa và là trung tâm chính trị của cả nước. Quận Ba Đình có nhiều công viên, hồ nước, độ che phủ cây xanh lớn với nhiều cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi. Nghiên cứu chim ở quận Ba Đình từ tháng 3/2022 đến tháng 6/2023 đã ghi nhận được 110 loài thuộc 73 giống, 37 họ, 12 bộ.  Trong đó, có 58 loài định cư, 44 loài di cư, 1 loài lang thang, 7 loài vừa có quần thể định cư và di cư. 6 loài được ghi nhận bổ sung cho khu hệ chim ở thành phố Hà Nội bao gồm: Gõ kiến nhỏ bụng hung (Dendrocopos hyperythrus), Phường chèo hông nâu (Pericrocotus cantonensis), Phường chèo xám lớn (Coracina javensis), Chích đít vàng (Phylloscopus cantator), Chích đuôi trắng kloss (Phylloscopus ogilviegranti), Sẻ bụi vàng (Passer flaveolus). Công viên, hồ nước và khu vực bãi bồi ven sông là những nơi có tính đa dạng thành phần loài chim cao, đặc biệt là các loài chim di cư. Trong quá trình quy hoạch phát triển quận Ba Đình, thành phố Hà Nội cần quan tâm đến bảo tồn đa dạng sinh học đáp ứng phát triển bền vững và hướng tới một thành phố sinh thái.

    DOI: https://doi.org/10.71254/pscn7g89