Số 17 (2023)

					Xem Số 17 (2023)
Đã Xuất bản: 15-09-2026

Bài viết

  • ỨNG DỤNG CHỈ THỊ PHÂN TỬ ADN CHỌN TẠO GIỐNG LÚA BC15-02 KHÁNG BỆNH ĐẠO ÔN

    Abstract : 16 PDF: 8
    Phạm Thiên Thành, Tăng Thị Diệp, Nguyễn Trí Hoàn, Dương Xuân Tú, Tống Thị Huyền, Lê Thị Thanh
    3-10

    Bệnh đạo ôn hại lúa do nấm Pyricularia oryzae gây ra là một trong những bệnh hại rất nghiêm trọng ở Việt Nam hiện nay. Có nhiều biện pháp quản lý bệnh hại, trong đó việc sử dụng giống lúa mang gen kháng bệnh được xem như là biện pháp hữu hiệu, ít tốn kém và bảo vệ môi trường. Ngày nay, với tiến bộ của công nghệ sinh học, chỉ thị phân tử ADN được sử dụng hỗ trợ quá trình lai tạo và chọn lọc rất hiệu quả. Gen Pita được xác định là gen kháng hữu hiệu với các chủng nấm đạo ôn ở các tỉnh phía Bắc. Trên cơ sở giống lúa BC15 có nhiều ưu điểm như năng suất cao, chất lượng tốt, khả năng thích ứng rộng, đã sử dụng làm vật liệu nhận gen Pita nhằm tạo giống lúa mới. Chỉ thị phân tử RM7102 được sử dụng hỗ trợ quá trình lai trở lại (MABC) và chọn lọc cá thể phân ly. Qua 5 thế hệ hồi giao, chọn lọc các dòng tự thụ mang đặc điểm ưu tú của giống BC15 gốc. Giống lúa triển vọng BC15-02 ở thế hệ BC5F5 qua 3 vụ khảo nghiệm quốc gia được đánh giá có các đặc điểm nông sinh học tốt. Thời gian sinh trưởng 113 ngày trong vụ mùa. Năng suất trung bình 65-75 tạ/ha, thâm canh tốt có thể đạt 80 tạ/ha. Khả năng thích ứng rộng, phù hợp cho sản xuất vụ xuân và vụ mùa tại các tỉnh phía Bắc. Chất lượng gạo trắng trong, ít bạc bụng, tỷ lệ gạo xát cao (69%), hàm lượng amylose 17,5%, cơm mềm dẻo, đậm, ngon có mùi thơm nhẹ. Đây là giống lúa triển vọng mang lại hiệu quả kinh tế cao, giảm thiểu ô nhiễm môi trường từ việc hạn chế sử dụng thuốc bảo vệ thực vật. Giống lúa BC15-02 được công nhận sản xuất thử theo Quyết định số 330/QĐ-TT-BNN, ngày 10 tháng 10 năm 2019.

    DOI: https://doi.org/10.71254/v0n6rw71
  • ẢNH HƯỞNG CỦA AXIT GIBBERELLIC (GA3) ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÂY CÀ GAI LEO (Solanum procumbens Lour) TRONG ĐIỀU KIỆN NƯỚC TƯỚI NHIỄM MẶN

    Abstract : 20 PDF: 8
    Bùi Thị Mỹ Hồng, Nguyễn Hoàng Minh, Lê Trường Thuận
    11-20

    Trong nghiên cứu này, chất điều hòa sinh trưởng thực vật axit gibberellic (GA3) đã được phun bổ sung cho cây cà gai leo trong điều kiện mặn. Thí nghiệm trồng chậu, được thực hiện theo kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên, 2 yếu tố. Các chỉ tiêu sinh trưởng, hàm lượng diệp lục, prolin được đánh giá ở những nồng độ mặn khác nhau: 1,5 (đối chứng); 2; 2,5; 3‰ NaCl và các liều lượng GA3 0, 50, 100 mg/L. Chiều cao cây, số nhánh trên cây, diện tích lá, khối lượng của rễ cây đều giảm khi lượng muối cung cấp tăng lên, nhưng khi xử lý GA3 đã có hiệu quả cải thiện đáng kể đối với các chỉ tiêu tăng trưởng này. Trong cùng điều kiện xử lý NaCl ở nồng độ NaCl 2,0‰ hoặc 2,5‰, có bổ sung GA3 100 mg/L đã có tác dụng tăng khối lượng khô của cây so với không phun GA3 và đối chứng. Ở độ mặn cao nhất NaCl 3‰ kết hợp phun GA3 100 mg/L có khối lượng khô của cây tương đương với đối chứng có độ mặn thấp nhất NaCl 1,5‰ và không bổ sung GA3.  

    DOI: https://doi.org/10.71254/dbm40w35
  • ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ PHẨM BÓN LÁ ĐẾN NĂNG SUẤT VẢ CHẤT LƯỢNG QUẢ Ở GIỐNG MẬN CHÍN SỚM LẠNG SƠN

    Abstract : 12 PDF: 8
    Nguyễn Thị Tình, Nguyễn Tiến Dũng, Nguyễn Thị Thu Hà, Vi Đại Lâm, Bùi Quang Đãng, Lã Văn Hiền, Chu Huy Tưởng, Ngô Xuân Bình
    21-27

    Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm bón lá đến năng suất chất lượng quả ở cây mận chín sớm Lạng Sơn được tiến hành với mục tiêu xác định được thời điểm và số lần sử dụng phân bón lá phù hợp cho cây mận. Thí nghiệm được tiến hành trong năm 2021 trên vườn mận chín sớm 7 năm tuổi trồng tại huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn. Nghiên cứu thời điểm sử dụng chế phẩm bón lá để tăng năng suất, chất lượng quả ở cây mận chín sớm được sử dụng ở 3 thời điểm, phun trước khi hoa nở 10 ngày, khi hoa nở rộ và sau khi hoa nở 15 ngày. Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong 3 loại chế phẩm sử dụng, chế phẩm 1 (CP1) và chế phẩm 3 (CP3) cho kết quả tốt, tỷ lệ đậu quả tăng và ở khoảng từ 6,43 - 8,41% (đối chứng không phun là 3,41 - 3,55%), năng suất quả tăng lên và ở khoảng từ 27,7 - 33,9 kg, (đối chứng chỉ đạt 20,5 - 21,4 kg). Số lần phun chế phẩm có ý nghĩa trong việc tăng năng suất ở cây mận chín sớm, cùng 1 loại chế phẩm, năng suất quả tăng lên khi số lần phun nhiều hơn, phun chế phẩm 3 lần cho năng suất cao hơn phun 1 lần. Hai loại chế phẩm là CP1 và CP3 đã cho năng suất tăng lên theo số lần phun, cụ thể với CP1 năng suất đạt cao nhất khi phun 3 lần (đạt 32,7 kg/cây), với CP3 phun 1, 2, 3 lần cho năng suất lần lượt đạt là 31,3 kg, 36,6 kg và 38,2 kg, so với đối chứng chỉ đạt 20,2 - 20,5 kg. Kết quả nghiên cứu cũng khuyến cáo khi lựa chọn các loại chế phẩm bón là cho cây mận, cần thiết nên chọn chế phẩm có đủ thành phần dinh dưỡng đa lượng, vi lượng và chất kích thích sinh trưởng.

    DOI: https://doi.org/10.71254/049c6n63
  • KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM RA HOA VÀ BƯỚC ĐẦU LAI TẠO MỘT SỐ GIỐNG HỒ TIÊU (Piper spp.) Ở VIỆT NAM

    Abstract : 25 PDF: 8
    Trương Thị Hồng Hải, Nguyễn Quang Ngọc, Dương Thị Oanh, Sonexay Rasphone
    28-35

    Đã nghiên cứu đặc điểm ra hoa của 5 giống hồ tiêu loài loài Piper nigrum L. bao gồm: Vĩnh Linh (HUIB_PN27), Srilanka (HUIB_PN97), Ấn Độ (HUIB_PN69), Phú Quốc (HUIB_PN101), Mã Lai (HUIB_PN96) và đánh giá khả năng lai tạo của chúng với giống hồ tiêu rừng Nam Mỹ (HUIB_PD36), thuộc loài P. divaricatum có khả năng kháng Phytophthora và tuyến trùng. Kết quả cho thấy, giai đoạn kéo dài gié của các giống hồ tiêu dao động từ 14,0 - 22,1 ngày, thời gian phân hóa hoa kéo dài từ 8,1 - 17,3 ngày và có sự khác biệt giữa các vật liệu. Khoảng cách lệch giao của các giống hồ tiêu từ 1,7 - 7,6 ngày. Các tổ hợp lai đã đậu quả và thu hoạch được hạt lai. Tuy nhiên, tỉ lệ đậu quả rất thấp, chỉ đạt từ 4,67 - 7,33%. Khả năng nảy mầm của các hạt lai rất thấp. Tổ hợp lai ♂HUIB_PD36 x ♀HUIB_PN27 đã thu được 2 hạt lai nảy mầm và phát triển thành cây (2 lá mầm). Tổ hợp lai ♂HUIB_PD36 x ♀ HUIB_PN97 cũng thu được 1 cây 2 lá mầm nhưng cây còi cọc không phát triển, sau 1 thời gian thì cây chết. Hạt của các tổ hợp lai còn lại không có khả năng nảy mầm sau một thời gian gieo ươm. Vì vậy, đối với các tổ hợp lai giữa các loài không tương thích, nên sử dụng các kỹ thuật công nghệ sinh học như cứu phôi và tạo cây lai bằng phương pháp nuôi cấy mô.

    DOI: https://doi.org/10.71254/dg5faw79
  • CHỌN LỌC DÒNG KÉ ĐẦU NGỰA ĐỊNH HƯỚNG NÂNG CAO NĂNG SUẤT VÀ HÀM LƯỢNG AXIT CHLOROGENIC

    Abstract : 14 PDF: 7
    Nguyễn Thị Thúy, Trần Văn Lộc, Nguyễn Xuân Nam, Tô Minh Tứ, Nguyễn Văn Tâm, Nhữ Thu Nga
    36-43

    Ké đầu ngựa (Xanthium strumarium L.) là cây thuốc có giá trị y dược cao. Hai quần thể ké đầu ngựa do Viện Dược liệu thu thập. Kết quả chọn lọc được 5 dòng ưu tú, đặc biệt dòng D1 và D7 đạt năng suất thực thu dược liệu đạt lần lượt là 15,38 tấn/ha và 15,23 tấn/ha, hàm lượng hoạt chất axit chlorogenic đạt 0,67% và 0,58%. Đây là 2 dòng có tiềm năng về năng suất và chất lượng dược liệu. Kết quả này là cơ sở để chọn lọc giống ké đầu ngựa theo định hướng nâng cao năng suất và hàm lượng axit cholorogenic.

    DOI: https://doi.org/10.71254/0kepby70
  • KHẢO SÁT ĐẶC TÍNH ĐẤT TRỒNG VÚ SỮA (Chrysophyllum cainito L.) TẠI HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

    Abstract : 13 PDF: 6
    Nguyễn Quốc Khương, Lê Thị Ngọc Thơ, Nguyễn Thanh Ngân, Nguyễn Huỳnh Minh Anh, Phan Chấn Hiệp, Nguyễn Đức Trọng, Lý Ngọc Thanh Xuân, Lê Vĩnh Thúc
    44-50

    Mục tiêu của nghiên cứu là khảo sát đặc tính hóa học đất canh tác vú sữa. Tổng số 60 mẫu đất được thu thập ở hai tầng đất với độ sâu 0 - 20 cm và 20 - 40 cm của các vườn trồng vú sữa tại huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ. Kết quả phân tích đặc tính đất tầng 0 - 20 cm cho thấy, đất trồng vú sữa được đánh giá ở ngưỡng rất chua. Hàm lượng đạm tổng số được đánh giá ở ngưỡng trung bình, nhưng hàm lượng NH4+ được xác định ở mức thấp. Hàm lượng lân tổng số được đánh giá ở ngưỡng giàu, với giá trị trung bình 0,12% và hàm lượng lân dễ tiêu với giá trị trung bình 115,9 mg kg-1, được đánh giá ở mức rất cao. Hàm lượng Al3+, Fe2+ cao nhất là 7,65 meq Al3+ 100 g-1 và 21,7 mg kg-1, theo thứ tự. Hàm lượng chất hữu cơ được đánh giá ở mức thấp 2,64% C. Hàm lượng đạm hữu dụng và chất hữu cơ ở mức thấp được xem là trở ngại về dinh dưỡng đối với canh tác vú sữa.

    DOI: https://doi.org/10.71254/570jss43
  • ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC MỨC BÓN ĐẠM ĐẾN SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA KHOAI LANG LÀM RAU ĂN LÁ TẠI THỪA THIÊN HUẾ

    Abstract : 11 PDF: 6
    Trịnh Thị Sen, Trần Văn Tý, Huỳnh Thị Thúy Nguyệt, Nguyễn Tấn Trọng, Trần Thị Hương Sen
    51-58

    Nghiên cứu được tiến hành với 5 mức phân đạm (0-ĐC, 30, 60, 90 và 120 kg N/ha) trên 2 giống khoai lang làm rau ăn lá là Chiêm dâu xanh và KLR3 nhằm xác định được mức phân đạm thích hợp cho khoai lang làm rau ăn lá đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất. Thí nghiệm được bố trí theo kiểu ô lớn, ô nhỏ (split-plot) với 3 lần nhắc tại Trung tâm Nghiên cứu và Dịch vụ nông nghiệp, Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế trong vụ hè thu năm 2022. Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi theo Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác và giá trị sử dụng của giống khoai lang QCVN 01- 60: 2011/BNNPTNT và Descriptors for Sweet Potato (1990). Kết quả nghiên cứu cho thấy, mức phân đạm thích hợp nhất cho giống KLR3 và Chiêm dâu xanh trong vụ hè thu là 90 - 120 kg N/ha. Tại mức 90 kg N/ha, giống Chiêm dâu xanh sinh trưởng tốt, đạt năng suất 7,11 tấn/ha, lãi 16.310.000 đồng/ha và VCR là 9,32; giống KLR3 có năng suất đạt 7,41 tấn/ha, lãi 14.910.000 đồng và VCR 8,61. Tại mức 120 kg/ha, giống Chiêm dâu xanh đạt năng suất 7,35 tấn/ha, lãi 17.350.000 đồng và VCR 7,67; giống KLR3 có năng suất đạt 8,64 tấn/ha, lãi 22.880.000 đồng và VCR 9,8. Từ kết quả nghiên cứu trên, bước đầu khuyến cáo sử dụng mức phân đạm cho khoai lang làm rau ăn lá trong vụ hè thu tại tỉnh Thừa Thiên Huế là 90 - 120 kg N/ha.

    DOI: https://doi.org/10.71254/vmtzb464
  • NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG ĐẤT, NƯỚC VÀ ĐA DẠNG SINH HỌC TẠI BA KHU BẢO TỒN THUỘC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

    Abstract : 19 PDF: 9
    Châu Thị Thanh Trúc, Lê Ngọc Tuyền, Phan Ngọc Thảo Uyên, Lê Phạm Hải Yến, Lê Thị Diễm Mi, Nguyễn Thanh Giao
    59-70

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá chất lượng môi trường đất, nước và đa dạng sinh học tại 3 khu bảo tồn (KBT) thuộc đồng bằng sông Cửu Long bao gồm KBT Thiên nhiên Lung Ngọc Hoàng, KBT Loài - Sinh cảnh Phú Mỹ và Rừng tràm Trà Sư, bằng phương pháp kế thừa các kết quả nghiên cứu đã công bố trước đó. Kết quả cho thấy, nguồn nước mặt tại các KBT có dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ, dinh dưỡng và nhiễm sắt thông qua nồng độ các chất ô nhiễm BOD, COD, NH4+-N, TN, TP và Fe2+ vượt ngưỡng khuyến nghị an toàn. Trong đó, rừng tràm Trà Sư có chất lượng nước mặt ô nhiễm nghiêm trọng nhất. Đất tại các KBT có tính axit, thuộc loại đất chua. Các chỉ tiêu pH, EC và Al3+ trong đất có xu hướng ảnh hưởng tiêu cực đến sự sinh trưởng và phát triển của thực vật. Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất bao gồm chất hữu cơ, TN, TP dao động từ mức nghèo đến cao, trong khi P dễ tiêu và K+ trao đổi ở mức thấp. Trong 3 khu vực nghiên cứu, KBT Loài – Sinh cảnh Phú Mỹ có chất lượng đất thấp nhất. Đối với đa dạng sinh học, các KBT được đánh giá có mức độ đa dạng sinh học cao, bao gồm nhiều loài động thực vật khác nhau, trong đó có nhiều loài động thực vật quý hiếm hiện diện tại các khu vực này. Đa dạng sinh học tại 3 KBT có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao gồm ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu và sinh vật ngoại lai. Từ đó, nghiên cứu đã đưa ra một số giải pháp cụ thể nhằm bảo tồn đa dạng sinh học của vùng.

    DOI: https://doi.org/10.71254/3qgtmr85
  • ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VÀ ĐA DẠNG LOÀI CÂY GỖ Ở RỪNG TỰ NHIÊN NÚI ĐẤT LÁ RỘNG THƯỜNG XANH TRUNG BÌNH THUỘC KHU VỰC BAN QUẢN LÝ VƯỜN QUỐC GIA PHƯỚC BÌNH, TỈNH NINH THUẬN

    Abstract : 16 PDF: 12
    Ngô Tiến Phát, Phan Minh Xuân, Nguyễn Minh Cảnh
    71-81

    Bài báo giới thiệu kết quả nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc rừng và đa dạng loài cây gỗ đối với những quần xã thực vật ở rừng tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh trung bình tại khu vực Ban Quản lý Vườn Quốc gia (VQG) Phước Bình, tỉnh Ninh Thuận. Trong nghiên cứu này, đặc điểm cấu trúc rừng và đa dạng loài cây gỗ của những quần xã thực vật đã được phân tích từ 15 ô tiêu chuẩn điển hình với kích thước 1.000 m2. Kết quả nghiên cứu cho thấy, chỉ số IVI đối với nhóm loài cây gỗ ưu thế và đồng ưu thế chiếm tỷ lệ 29,58%, bao gồm 5 loài: Dẻ trắng, Trâm mốc, Re trắng, Bình linh 3 lá và Căm xe. Mật độ và trữ lượng bình quân lâm phần đạt 589 cây/ha và 157,71 m3/ha. Số cây tập trung chủ yếu ở nhóm D1,.3 < 20 cm và lớp H = 10 - 15 m. Tiết diện ngang và trữ lượng gỗ tập trung chủ yếu ở nhóm D1,3 = 20 - 40 cm và lớp H = 15 – 20 m. Phân bố N/D1,3 và phân bố N/H lần lượt tuân theo hàm phân bố Weibull (l = 0,06; a= 1,12) và hàm phân bố chuẩn (l = 12,657; s2 = 25,543). Tại khu vực nghiên cứu đã bắt gặp được 113 loài cây thân gỗ thuộc 45 họ thực vật, trong đó ghi nhận được 20 loài cây gỗ nguy cấp, quý, hiếm trong Sách Đỏ Việt Nam (2007), Nghị định số 84/2021/NĐ-CP,  IUCN (2023). Đa dạng họ thực vật của kiểu rừng này đạt ở mức trung bình (H’ = 2,17 – 2,95), đa dạng loài cây gỗ đạt ở mức từ trung bình đến cao (H’ = 2,38 – 3,52).

    DOI: https://doi.org/10.71254/mw7jcp32
  • XÁC ĐỊNH MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI CỦA VƯỢN ĐEN MÁ HUNG TRUNG BỘ (Nomascus annamensis) BẰNG PHƯƠNG PHÁP ÂM SINH HỌC TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN ĐAKRÔNG, TỈNH QUẢNG TRỊ

    Abstract : 19 PDF: 8
    Vũ Tiến Thịnh, Nguyễn Hữu Văn, Nguyễn Thị Hòa, Nguyễn Đắc Mạnh, Nguyễn Vĩnh Thanh, Trần Thị Linh, Phan Viết Đại, Giang Trọng Toàn, Tạ Tuyết Nga, Mai Hà An, Nguyễn Hữu Quang Vinh
    82-90

    Phương pháp âm sinh học là một phương pháp đã và đang được áp dụng để nghiên cứu phân loại một số loài động vật trong đó có các loài vượn thông qua phân tích tiếng hót để xác định loài, phục vụ cho công tác bảo tồn các loài động vật hoang dã nói chung và các loài vượn nói riêng. Trong nghiên cứu này, phương pháp âm sinh học được sử dụng để nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái của loài Vượn đen má hung Trung bộ tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên (BTTN) Đakrông, tỉnh Quảng Trị. Đã tiến hành đặt máy ghi âm ở 47 điểm tại 43/54 tiểu khu của Khu BTTN Đakrông; ghi âm tổng cộng 48 lượt vượn hót tại 15/47 điểm, 25/43 tiểu khu. Dữ liệu khảo sát hiện trạng rừng tại các điểm đặt máy ghi âm cho thấy, những điểm có ghi nhận Vượn đen má hung Trung bộ có hiện trạng rừng tự nhiên lá rộng thường xanh trữ lượng giàu và trung bình chiếm 61,70% diện tích. Như vậy, có thể thấy vượn được ghi nhận nhiều hơn ở các sinh cảnh rừng tự nhiên lá rộng thường xanh còn tốt. Các kết quả nghiên cứu cho thấy, Vượn đen má hung Trung bộ bắt đầu hót từ khoảng 4h50 cho đến 7h40, trong đó số lượng đàn bắt đầu hót trong khoảng từ 5h00 - 6h00 chiếm 60,41%, từ 6h00 - 7h00 chiếm 29,17%, từ 7h00 - 8h00 chiếm 10,42%. Số đàn Vượn đen má hung Trung bộ kết thúc hót trong khoảng từ 5h00 - 6h00 chiếm 50,00%, từ 6h00 - 7h00 chiếm 31,25%, từ 7h00 - 8h00 chiếm 18,75%. Các đàn Vượn đen má hung Trung bộ thường hót trong thời gian <40 phút.

    DOI: https://doi.org/10.71254/g35st460
  • NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG THÍ ĐIỂM QUY TRÌNH VẬN HÀNH HỆ THỐNG THỦY LỢI ĐA MỤC TIÊU VÙNG HẠ LƯU SÔNG SÀI GÒN - VÀM CỎ ĐÔNG

    Abstract : 16 PDF: 5
    Đỗ Đức Dũng, Trương Ngọc Chinh, Nguyễn Hữu Chí, Nguyễn Đức Thành
    91-100

     Nghiên cứu tóm tắt một phần kết quả đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của nguồn thải, xâm nhập mặn đến chất lượng nước và đề xuất giải pháp quản lý vận hành hệ thống công trình thủy lợi vùng hạ du sông Sài Gòn - Vàm Cỏ Đông” nhằm đưa ra định hướng phối hợp vận hành các hệ thống thủy lợi riêng rẽ nằm chung trong cùng một vùng có hệ thống sông, kênh liên kết và tương tác lẫn nhau. Mục tiêu của quy trình phối hợp vận hành đa mục tiêu là các hệ thống thủy lợi trong vùng nhằm giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước và kiểm soát xâm nhập mặn, phát huy tối đa nhiệm vụ của từng hệ thống. Kết quả nghiên cứu cho thấy, 5 hệ thống thủy lợi vùng hạ du sông Sài Gòn – Vàm Cỏ Đông cần phối hợp vận hành theo hướng chung là: tăng cường lấy nước vào nội đồng khi độ mặn ngoài sông nhỏ hơn 2,0 g/l và mực nước nội đồng không quá +0,4 m; các cống phía Bắc chủ yếu mở lấy nước, các cống phía Tây và Nam chủ yếu tiêu nước. Các cống chống ngập úng cho thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM) vận hành theo hướng lấy nước từ phía sông Sài Gòn, sau đó nhồi nước về phía sông Vàm Cỏ Đông và sông Cần Giuộc.

    DOI: https://doi.org/10.71254/ynsyfh40