ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC MỨC BÓN ĐẠM ĐẾN SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA KHOAI LANG LÀM RAU ĂN LÁ TẠI THỪA THIÊN HUẾ

Các tác giả

  • Trịnh Thị Sen, Trần Văn Tý, Huỳnh Thị Thúy Nguyệt, Nguyễn Tấn Trọng, Trần Thị Hương Sen

DOI:

https://doi.org/10.71254/vmtzb464

Abstract

The study was conducted with 5 levels of nitrogen fertilizer (0-control, 30, 60, 90 and 120 kg N/ha) on two varieties of sweet potato for leafy vegetables Chiem dau xanh and KLR3 to determine the level of fertilizer application suitable for sweet potatoes as leafy vegetables to achieve the highest yield and economic efficiency. The experiment was arranged in the split-plot with 3 repetitions at in the Center for Agricultural Research and Services (CARAS) of the Faculty of Agronomy, University of Agriculture and Forestry, Hue University, belongs to Tu Ha ward, Huong Tra town, Thua Thien Hue province in summer-autumn 2022 cropping season. The characters were recorded according to the National Technical Regulation on Testing for Value of Cultivation and Use of sweet potato varieties (2011) issued by the Ministry of Agriculture and Rural development and Descriptors for Sweet Potato (1990). Research results indicated that the most suitable level of nitrogen fertilizer for Chiem dau xanh and KLR3 varieties in summer-autumn cropping season was 90 - 120 kg N/ha. At 90 kg N/ha, Chiem dau xanh variety grew well, yielded 7.11 tons/ha, profit was 16,310,000 VND/ha and VCR was 9.32; KLR3 variety had a yield of 7.41 tons/ha, profit of 14,910,000 VND and VCR of 8.61. At 120 kg N/ha, Chiem dau xanh variety has a yield of 7.35 tons/ha, profit of VND 17,350,000 VND and VCR of 7.67; KLR3 variety had yield of 8.64 tons/ha, profit of 22,880,000 VND and VCR of 9.8. From the above research results, the initial recommendation to use nitrogen fertilizer for leafy sweet potatoes in summer-autumn crop in Thua Thien Hue province was 90 -120 kg N/ha.

Keywords:

Economic efficiency, sweet potato for leafy vegetables, yield, nitrogen fertilizer, growth.

Tóm tắt

Nghiên cứu được tiến hành với 5 mức phân đạm (0-ĐC, 30, 60, 90 và 120 kg N/ha) trên 2 giống khoai lang làm rau ăn lá là Chiêm dâu xanh và KLR3 nhằm xác định được mức phân đạm thích hợp cho khoai lang làm rau ăn lá đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất. Thí nghiệm được bố trí theo kiểu ô lớn, ô nhỏ (split-plot) với 3 lần nhắc tại Trung tâm Nghiên cứu và Dịch vụ nông nghiệp, Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế trong vụ hè thu năm 2022. Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi theo Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác và giá trị sử dụng của giống khoai lang QCVN 01- 60: 2011/BNNPTNT và Descriptors for Sweet Potato (1990). Kết quả nghiên cứu cho thấy, mức phân đạm thích hợp nhất cho giống KLR3 và Chiêm dâu xanh trong vụ hè thu là 90 - 120 kg N/ha. Tại mức 90 kg N/ha, giống Chiêm dâu xanh sinh trưởng tốt, đạt năng suất 7,11 tấn/ha, lãi 16.310.000 đồng/ha và VCR là 9,32; giống KLR3 có năng suất đạt 7,41 tấn/ha, lãi 14.910.000 đồng và VCR 8,61. Tại mức 120 kg/ha, giống Chiêm dâu xanh đạt năng suất 7,35 tấn/ha, lãi 17.350.000 đồng và VCR 7,67; giống KLR3 có năng suất đạt 8,64 tấn/ha, lãi 22.880.000 đồng và VCR 9,8. Từ kết quả nghiên cứu trên, bước đầu khuyến cáo sử dụng mức phân đạm cho khoai lang làm rau ăn lá trong vụ hè thu tại tỉnh Thừa Thiên Huế là 90 - 120 kg N/ha.

Từ khóa:

Hiệu quả kinh tế, khoai lang ăn lá, năng suất, phân đạm, sinh trưởng.

Tải xuống

Ngày nhận bài:

09-07-2026

Ngày nhận bài sửa:

26-08-2026

Ngày duyệt đăng:

26-08-2026

Ngày xuất bản:

15-09-2023

Title:

EFFECTS OF NITROGEN FERTILIZER LEVELS ON GROWTH, YIELD AND ECONOMIC EFFICIENCY OF LEAFY SWEET POTATO IN THUA THIEN HUE
Cách trích dẫn
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC MỨC BÓN ĐẠM ĐẾN SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA KHOAI LANG LÀM RAU ĂN LÁ TẠI THỪA THIÊN HUẾ. (2023). Tạp Chí Nông nghiệp Và Môi trường, 17, 51-58. https://doi.org/10.71254/vmtzb464
Bài viết

Các trích dẫn

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC MỨC BÓN ĐẠM ĐẾN SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA KHOAI LANG LÀM RAU ĂN LÁ TẠI THỪA THIÊN HUẾ. (2023). Tạp Chí Nông nghiệp Và Môi trường, 17, 51-58. https://doi.org/10.71254/vmtzb464
Lượt xem
11
Lượt tải
6