Số 9 (2023)
Bài viết
-
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TẠO CÁC BIẾN DỊ CÓ LỢI TRÊN HẠT LÚA JASMINE 85 NẢY MẦM BẰNG CHIẾU XẠ TIA GAMMA NGUỒN Co60
Abstract : 22 PDF: 14Nghiên cứu xử lý đột biến bằng phóng xạ Co60 với bốn liều lượng (thấp: 10 Gy, 15 Gy; cao: 100 Gy, 150 Gy) lên hạt nảy mầm nhằm tạo ra các biến dị di truyền của giống lúa Jasmine 85. Các thể biến dị được đánh giá ảnh hưởng liều chiếu xạ đến sinh trưởng của quần thể M1 và khảo sát biến dị di truyền M2 về thời gian sinh trưởng, số hạt chắc/bụi và khối lượng hạt/bụi. Kết quả thí nghiệm cho thấy, bốn liều chiếu xạ gây ra chết LD50 cho cây mạ, tỷ lệ hữu thụ từ 29 - 48%, dị dạng cây mạ và dạng hạt ở M1 từ 2 - 22%. Liều chiếu xạ 100 Gy cho biến dị cao ở M2 với các thể hữu ích về thời gian sinh trưởng (94 - 106 ngày). Liều chiếu xạ 15 Gy và 100 Gy cho số hạt chắc/bụi (1.015 - 1.678 hạt) và khối lượng hạt/bụi (26,5 - 46,5 g) của biến thể M2 cao hơn so với giống Jasmine 85 đối chứng. Các cá thể M2-244, M2-249, M2-250 và M2-253 từ liều chiếu xạ 100 Gy có hạt chắc/bụi và khối lượng hạt/bụi cao vượt trội, có thể chọn lọc và đánh giá chất lượng gạo ở các vụ tiếp theo.
-
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH MẬT ĐỘ CẤY THÍCH HỢP CHO GIỐNG LÚA HƯƠNG THANH 8 TẠI HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN
Abstract : 17 PDF: 11Nghiên cứu xác định mật độ cấy phù hợp cho giống lúa Hương Thanh 8 vụ xuân và vụ mùa năm 2021 tại huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên. Thí nghiệm bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ, nhắc lại 3 lần, gồm 4 công thức, tương ứng với 4 mật độ cấy (khóm/m2): 30, 35, 40 và 45. Kết quả nghiên cứu cho thấy, giống lúa Hương Thanh 8 thời gian sinh trưởng trong vụ xuân dao động 129 - 131 ngày và trong vụ mùa dao động 101 - 105 ngày. Ở mật độ cấy 30 khóm/m2 có số hạt trên bông cao, năng suất cá thể cao nhưng năng suất quần thể thấp, năng suất thực thu trong vụ xuân đạt 6,15 tấn/ha, vụ mùa đạt 5,90 tấn/ha. Tăng mật độ cấy lên 45 khóm/m2, cây lúa có cạnh tranh về dinh dưỡng nên P1.000 giảm 19,0 g (vụ xuân) và 18,5 g (vụ mùa), năng suất thực thu trong vụ xuân đạt 6,77 tấn/ha, trong vụ mùa đạt 5,49 tấn/ha. Ở mật độ cấy 40 khóm/m2 năng suất thực thu cao nhất, vụ xuân đạt 6,91 tấn/ha, vụ mùa đạt 5,76 tấn/ha, hiệu quả kinh tế đạt cao nhất, lãi thuần đạt 26,34 triệu đồng/ha (vụ xuân) và 18,46 triệu đồng/ha (vụ mùa), rầy nâu (điểm 1), bệnh đạo ôn (điểm 0-1), bệnh bạc lá (điểm 0-3), cứng cây chống đổ tốt (điểm 1).
-
XÁC ĐỊNH ẨM ĐỘ PHÙ HỢP CHO VẬT LIỆU TRONG QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT CHẾ PHẨM VI SINH CHỨA CÁC DÒNG VI KHUẨN CỐ ĐỊNH ĐẠM NỘI SINH TỪ RỄ CÂY BẮP LAI
Abstract : 35 PDF: 14Mục tiêu của nghiên cứu nhằm xác định ẩm độ phù hợp cho vật liệu để ủ chế phẩm vi sinh chứa các dòng vi khuẩn cố định đạm nội sinh từ rễ cây bắp nhằm cung cấp N, P cho cây trồng. Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 chế phẩm chứa vi khuẩn cố định đạm (trên nền chất mang là thân, lá bắp: tro trấu ủ theo tỷ lệ 4: 1 đã khử trùng và sấy khô kiệt): Chế phẩm 1 bổ sung các vi khuẩn gồm AG-VR-B-07, AG-VR-B-17, AG-VR-B-28 và AG-VR-B-43; chế phẩm 2 gồm AG-NS-B-13, AG-NS-B-21, AG-NS-B-48 và AG-NS-B-40; chế phẩm 3 gồm AG-VR-B-07, AG-VR-B-17, AG-VR-B-28, AG-NS-B-13, AG-NS-B-21, AG-NS-B-48, AG-VR-B-43 và AG-NS-B-40 với tương ứng 4 nghiệm thức độ ẩm: 40, 50, 60 và 70% cho mỗi chế phẩm. Sau 8 tuần ủ, kết quả cho thấy, chế phẩm 3 chứa các dòng vi khuẩn cố định đạm và tổng hợp IAA: AG-VR-B-07, AG-VR-B-17, AG-VR-B-28, AG-NS-B-13, AG-NS-B-21, AG-NS-B-48, AG-VR-B-43 và AG-NS-B-40 ở điều kiện ẩm độ 60% duy trì mật số vi khuẩn cao nhất đạt 3,41 x 106 CFU/g. Hàm lượng đạm, lân và các bon tổng số là 4,48, 0,86 và 25,4%, theo thứ tự và tỷ số C/N là 5,67. Vì vậy, ẩm độ 60% là phù hợp nhất đối với quy trình sản xuất chế phẩm vi khuẩn cố định đạm nội sinh từ rễ cây bắp.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOẠI PHÂN BÓN ĐẾN NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG CỦA GIỐNG DƯA LÊ KIM HOÀNG HẬU TRỒNG TRONG NHÀ KÍNH TẠI THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Abstract : 26 PDF: 9Dưa lê (Cucumis melo L.) là một loại rau lấy quả có chứa nhiều dinh dưỡng có lợi cho sức khỏe con người như tăng cường hệ miễn dịch, hỗ trợ kiểm soát huyết áp và lượng đường trong máu. Bên cạnh đó, dưa lê cũng mang lại giá trị kinh tế cao cho người sản xuất. Mục đích của nghiên cứu là đánh giá sự ảnh hưởng của một số loại phân bón khác nhau đến năng suất và chất lượng của giống dưa lê Kim Hoàng Hậu được trồng trong nhà kính có ứng dụng công nghệ tưới nhỏ giọt ở Thái Nguyên. Kết quả nghiên cứu cho thấy, phân bón HAIFA MKP + MAP + Nova Calcium cho các chỉ tiêu là tốt nhất, cụ thể với khối lượng quả trung bình 1,66 kg/quả, năng suất lý thuyết 41,5 tấn/ha, năng suất thực thu 33,2 tấn/ha và các chỉ tiêu về đường kính quả, chiều cao, độ dày thịt quả và độ brix tương ứng với các giá trị 10,48 cm, 11,98 cm, 2,12 cm và 13,68%.
-
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG GÂY HẠI CỦA CÁC GIỐNG TUYẾN TRÙNG KÝ SINH THỰC VẬT TRÊN MỘT SỐ CÂY DƯỢC LIỆU Ở TỈNH LÀO CAI
Abstract : 15 PDF: 10Lào Cai là một tỉnh thuộc vùng Tây Bắc bộ của Việt Nam với các điều kiện tự nhiên và khí hậu thổ nhưỡng thuận lợi cho việc quy hoạch và phát triển nguồn cây dược liệu cho Quốc gia. Gần đây, cùng với sự gia tăng về diện tích canh tác, cây dược liệu ở tỉnh Lào Cai đang phải đối mặt với sự gia tăng của nhiều loại sâu, bệnh hại khác nhau, trong đó có tuyến trùng ký sinh thực vật. Nghiên cứu thực hiện năm 2020 - 2021, phân tích 230 mẫu đất và rễ/củ của 7 loại cây dược liệu gồm: Cát cánh, Atisô, Đương quy, Đan sâm, Tục đoạn, Đảng sâm và Xuyên khung, ghi nhận 8 giống tuyến trùng ký sinh thực vật. Trong đó, giống Pratylenchus là nhóm gây hại chính trên cây Tục đoạn và Đảng sâm. Giống Meloidogyne là nhóm gây hại chính trên cây Cát cánh, Atisô và Đan sâm. Trên cây Đương quy và Xuyên khung ghi nhận hai nhóm gây hại chính là Pratylenchus và Meloidogyne. Các triệu chứng điển hình sần và u sưng do tuyến trùng Meloidogyne và hoại tử rễ do tuyến trùng Pratylenchus và mật độ nhóm này trong rễ trên một số cây dược liệu tương quan với triệu chứng cây còi cọc và vàng lá.
-
XÁC ĐỊNH NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH HÉO VÀNG CHUỐI TẠI MỘT SỐ TỈNH TRUNG DU MIỀN NÚI PHÍA BẮC, VIỆT NAM
Abstract : 20 PDF: 10Bệnh héo vàng chuối do nấm Fusarium oxysporum f. sp cubense (Foc) còn gọi là bệnh Panama, gây hại rất nghiêm trọng cho các vùng trồng chuối trên cả nước. Bệnh đã được ghi nhận rất sớm tại Việt Nam. Các chủng nấm Foc được xác định dựa vào hình thái, đặc điểm phân tử và tính gây bệnh của chúng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, chủng Foc 4 (Foc - TR4) được tìm thấy trên các mẫu chuối tiêu và chuối tây, trong khi đó chủng Foc 1 (Foc 1) chỉ gây bệnh trên chuối tây. Sử dụng cặp mồi đặc hiệu W1805F/W1805R và TR4-F/TR4-R giúp xác định nhanh, chính xác chủng nấm gây hại có ý nghĩa quan trọng trong việc đề xuất cơ cấu giống chuối tại các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc, Việt Nam.
-
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ VÀ CHỈ TIÊU SINH LÝ, SINH HÓA MÁU CHÓ BỊ VIÊM TỬ CUNG TÍCH MỦ TẠI BỆNH XÁ THÚ Y TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Abstract : 26 PDF: 9Nghiên cứu cắt ngang nhằm xác định đặc điểm dịch tễ và sự thay đổi một số chỉ số sinh lý, sinh hóa máu trên chó bị viêm tử cung tích mủ được thực hiện Bệnh xá Thú y, Trường Đại học Cần Thơ từ tháng 4 đến tháng 11 năm 2022. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 121 chó bị viêm tử cung tích mủ, chiếm 31,59% trong tổng số 383 chó có bệnh lý trên đường sinh dục được đưa đến khám và điều trị lần đầu tại Bệnh xá. Kết quả nghiên cứu dịch tễ cho thấy, bệnh xảy ra ở giống chó nội cao hơn so với giống chó ngoại (35,34% so với 24,62%). Bệnh viêm tử cung tích mủ xảy ra cao nhất ở chó >5 năm tuổi (38,09%) và thấp nhất xảy ra ở chó <2 năm tuổi (8,75%). Bệnh ảnh hưởng bởi phương thức nuôi, chó nuôi thả tỷ lệ bệnh cao hơn so với chó nuôi nhốt (40,25%; 17,68%). Những con có tiền sử tiêm ngừa thai có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn so với những con không có tiền sử tiêm ngừa thai (38,64%; 18,18%). Kết quả xét nghiệm sinh lý máu 70/121 chó mắc bệnh viêm tử cung tích mủ cho thấy, số lượng RCB (hồng cầu), HGB (huyết sắc tố), HCT (tỷ lệ thể tích hồng cầu) đều giảm (dao động lần lượt là 1,34 – 5,47.106/mm3, 3 – 11,91 g/dL và 9,3 – 36,9%); số lượng bạch cầu, bạch cầu lympho và bạch cầu trung tính tăng cao (dao động lần lượt là 18,3 - 75,49.103/mm3; 31,8 - 50,6% và 71,2 - 92%). Kết quả xét nghiệm sinh hóa máu trên chó mắc bệnh viêm tử cung tích mủ cho thấy, chỉ số AST (Aspartate aminotransferase), ALT (Alanine aminotransferase), urea và creatine đều cao hơn so với bình thường (dao động trong khoảng từ 49 – 565 U/L và 63 – 171 U/L; 26,3 – 225,5 mg/dL và 1,7 – 14,1 mg/dL). Kết quả đánh giá huyết học cho thấy, giảm hồng cầu, giảm nồng độ hemoglobin, giảm dung tích hồng cầu (PCV), tăng bạch cầu với bạch cầu trung tính, các chỉ số sinh hóa: AST, ALT, ure, creatine tăng cao so với bình thường, là những phát hiện nhất quán liên quan đến bệnh viêm tử cung tích mủ trên chó.
-
TỐI ƯU HÓA MỘT SỐ THÔNG SỐ CÔNG NGHỆ CỦA QUÁ TRÌNH CHẾ BIẾN PUREE CHUỐI CHẤT LƯỢNG CAO
Abstract : 20 PDF: 7Nghiên cứu này tiến hành thực nghiệm đa yếu tố và tối ưu hóa chế độ công nghệ chế biến puree chuối trong môi trường MA (Modified Atmosphere). Kế hoạch thực nghiệm đa yếu tố sử dụng mô hình quy hoạch trực giao đối xứng với 3 yếu tố thực nghiệm gồm nhiệt độ 83 - 87oC, thời gian 3 - 4 phút và độ pH 4,0 - 4,5. Tương ứng mục tiêu thực nghiệm gồm: Hàm lượng vitamin C (mg/100 g), hoạt độ enzyme polyphenol oxidase (PPO) còn lại (%) và chất lượng cảm quan (điểm). Tối ưu hóa sử dụng thuật toán hàm mong đợi với mong muốn hàm lượng vitamin C đạt giá trị lớn nhất, hoạt độ PPO đạt giá trị nhỏ nhất và điểm cảm quan đạt giá trị tối đa, tương ứng hệ số quan trọng 3/5, 5/5, 5/5. Kết quả đã xác định được chế độ công nghệ tối ưu trong quy trình chế biến puree chuối với nhiệt độ tiền xử lý 86,40C trong thời gian 3,1 phút, độ pH 4,3, tương ứng hàm lượng vitamin C đạt được 12,256 ± 0,004 mg/100 g (mức tổn thất 23,97%), hoạt độ PPO còn lại 0,612 ± 0,003% và chất lượng cảm quan đạt 19,15 ± 0,005 điểm.
-
TÁC ĐỘNG CỦA THƯƠNG MẠI HÓA NÔNG NGHIỆP ĐẾN MÔI TRƯỜNG: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI KHU VỰC MIỀN NÚI HUYỆN A LƯỚI, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Abstract : 13 PDF: 8Thương mại hóa nông nghiệp (TMHNN) được thừa nhận rộng rãi trong việc giảm nghèo ở khu vực nông thôn và miền núi, nhưng tác động đến môi trường hiếm khi được đề cập. Để phân tích tình trạng TMHNN và các tác động đến môi trường ở các khu vực miền núi, một cuộc khảo sát 237 nông dân đã được thực hiện tại huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế. Kết quả cho thấy, chỉ số TMHNN của nông hộ ở mức trung bình (HCI = 0,440), với khoảng 22,78% nông hộ tự cung tự cấp, 73,84% nông hộ bán thương mại và 3,38% nông hộ thương mại trong khu vực nghiên cứu. Mức độ thương mại của cây ăn quả, sắn, ngô và chăn nuôi bò bản địa cao hơn so với các sản phẩm nông nghiệp còn lại. Chỉ số tác động đến môi trường khá cao (E = 0,602) với các nguy cơ đến từ việc sử dụng các hóa chất trong sản xuất nông nghiệp. Kết quả phân tích hồi quy cho thấy, TMHNN được xem là yếu tố tác động lớn cùng với 8 yếu tố khác như tiếp cận cơ quan nhà nước, tiếp cận đầu vào, tín dụng, phương tiện truyền thông, tham gia tập huấn, giới tính và số lao động có tác động đến việc suy giảm chất lượng môi trường. Các biểu hiện này như giảm diện tích rừng, suy giảm của động vật hoang dã và lâm sản ngoài gỗ, suy thoái đất và ô nhiễm nước. Nâng cao nhận thức về việc sử dụng hóa chất trong nông nghiệp, tập trung vào việc quy hoạch cây ăn quả theo hướng VietGAP, hữu cơ và nuôi bò bán chăn thả an toàn sinh học là những giải pháp hướng tới sự phát triển sinh kế nông nghiệp bền vững cho nông hộ tại huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế.
-
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA NGƯỜI DÂN XUNG QUANH KHU BẢO TỒN ĐẤT NGẬP NƯỚC LÁNG SEN ĐẾN LOÀI LE NÂU (Dendrocygna javanica)
Abstract : 14 PDF: 11Nghiên cứu đánh giá những tác động của người dân xung quanh khu bảo tồn đến loài Le nâu (Dendrocygna javanica) ở Khu Bảo tồn đất ngập nước Láng Sen, nhằm tạo cơ sở khoa học cho đề xuất giải pháp hạn chế tình trạng suy giảm của loài chim nước này. Kết quả ghi nhận, phần lớn người dân được khảo sát biết loài Le nâu, với tần suất gặp là 3,5 ± 3,4 lần/người/năm, chủ yếu vào tháng 6-12, ở hệ sinh thái đất ngập nước khác ngoài khu bảo tồn đặc biệt là ruộng lúa (96,2% người dân). Le nâu là đối tượng thường bị đánh bắt ở địa phương (66,7% người dân), phương pháp đánh bắt chủ yếu là lưới (65,4% người dân), câu trời (34,6% người dân), bẫy (11,5%) và súng. Hầu hết người dân (96,7%) biết Le nâu là loài được bảo vệ và đề xuất giải pháp để bảo vệ chúng như nghiên cấm đánh bắt (96,7% người dân), tuyên truyền giáo dục (86,7% người dân), nghiêm cấm người dân vào khu bảo tồn (13,3% người dân). Tuy nhiên, có một số người dân cho biết bắt Le nâu là hoạt động hợp pháp (13,3%) và không ảnh hưởng đến khu bảo tồn (16,7%). 53,3% người dân có nhu cầu nuôi Le nâu và cần hỗ trợ về kỹ thuật, con giống. Vì vậy cần có giải pháp xử phạt những trường hợp đánh bắt Le nâu trong và ngoài khu bảo tồn, hỗ trợ người dân nuôi loài chim nước này; tiếp tục tuyên truyền nâng cao nhận thức về bảo vệ Le nâu và bảo tồn đa dạng sinh học cho người dân đại phương.
-
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC LOẠI HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI HUYỆN BẮC TRÀ MY, TỈNH QUẢNG NAM
Abstract : 20 PDF: 7Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, kiểu sử dụng đất trồng sắn cho hiệu quả kinh tế cao nhất với hệ số lợi nhuận hơn 5,53 lần và thu nhập 4,53 lần. Loại hình sử dụng đất có hiệu quả kinh tế cao thứ 2 là lúa rẫy, với hệ số lợi nhuận là 2,96 và thu nhập là 1,96. Tương tự như loại hình sử dụng đất trồng sắn, canh tác lúa rẫy có chi phí trung gian rất thấp, do đó giá trị tăng cao. Đối với mô hình lúa đông xuân và hè thu không có sự khác biệt, tuy nhiên lúa đông xuân có hiệu quả kinh tế cao hơn, đạt năng suất 42 tạ/ha cao hơn năng suất lúa hè thu (37 tạ/ha). Đối với loại hình sử dụng đất lúa đông xuân, đồng bào dân tộc Kor tạo ra được hiệu quả kinh tế cao hơn đồng bào dân tộc Ka dong. Trong các loại hình sử dụng đất, đất sản xuất ngô có hiệu quả kinh tế thấp nhất, với hệ số lợi nhuận là 2,07 lần và thu nhập là 1,07 lần. Ngoài ra, các loại hình sử dụng đất của đồng bào dân tộc thiểu số có hiệu quả xã hội cao và chưa gây ra tác động tiêu cực đến môi trường. Các nghiên cứu tiếp theo cần đánh giá khả năng phát triển các loại hình sử dụng đất cho các cây trồng bản địa kết hợp phát triển các sản phẩm hàng hóa từ các loại hình sử dụng đất này nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường.








