Số 3 (2023)

					Xem Số 3 (2023)
Đã Xuất bản: 15-02-2023

Bài viết

  • ẢNH HƯỞNG CỦA VI KHUẨN QUANG DƯỠNG KHÔNG LƯU HUỲNH MÀU TÍA TIẾT EXOPOLYMERIC ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT LÚA TRONG ĐIỀU KIỆN ĐẤT MẶN TẠI HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG

    Abstract : 32 PDF: 12
    Lý Ngọc Thanh Xuân, Nguyễn Hoàng Anh, Nguyễn Quốc Khương
    3-11

    Mục tiêu nghiên cứu là đánh giá ảnh hưởng các dòng vi khuẩn quang dưỡng không lưu huỳnh màu tía (PNSB) tiết exopolymeric đến sinh trưởng và năng suất lúa trong điều kiện mặn. Thí nghiệm hai nhân tố được bố trí khối hoàn toàn ngẫu nhiên, bốn lần lặp lại. Trong đó, nhân tố thứ nhất (A) bốn mức độ mặn (i) 0‰, (ii) 2‰, (iii) 3‰, (iv) 4‰ và nhân tố thứ hai (B) PNSB tiết exopolymeric gồm (i) không vi khuẩn, (ii) dòng đơn E-TD16, (iii) dòng đơn E-TD25, (iv) dòng đơn E-TD43, (v) hỗn hợp ba dòng vi khuẩn E-TD16, E-TD25 và E-TD43 (mật số vi khuẩn 1,812 x 105 CFU/g đất khô). Kết quả cho thấy tưới mặn ở nồng độ 2 - 4‰ dẫn đến giảm chiều cao cây, chiều dài bông, số bông trên chậu, tỷ lệ hạt chắc và năng suất hạt lúa so với không tưới mặn. Bổ sung dòng đơn vi khuẩn E-TD16, E-TD25, E-TD43 hoặc hỗn hợp ba dòng vi khuẩn E-TD16, E-TD25 và E-TD43 tăng chiều cao cây, chiều dài bông, số bông trên chậu, tỷ lệ hạt chắc và năng suất hạt lúa trong điều kiện mặn. Năng suất lúa của nghiệm thức bổ sung hỗn hợp ba dòng vi khuẩn E-TD16, E-TD25 và E-TD43 trong điều kiện tưới nước mặn 4‰ đạt cao hơn trong điều kiện không tưới mặn và không bổ sung vi khuẩn, với 21,0 và 18,6 g chậu-1, theo thứ tự. Bổ sung dòng đơn hay hỗn hợp ba dòng vi khuẩn góp phần tăng pHH2O, NH4+, P dễ tiêu, với 2,30 - 3,60%, 183,6 - 243,5%, 36,0 - 49,9%, theo thứ tự. Bổ sung dòng đơn E-TD16, E-TD43 hay hỗn hợp ba dòng vi khuẩn giảm Na+ (7,43 - 14,6%) so với không bổ sung vi khuẩn.

    DOI: https://doi.org/10.71254/1s23fn04
  • NGHIÊN CỨU MẬT ĐỘ THÍCH HỢP TRỒNG GIỐNG NGÔ LAI QT55 TRÊN ĐẤT THỊT PHA TẠI VĨNH PHÚC

    Abstract : 15 PDF: 8
    Lê Quý Tường, Lê Văn Ninh, Hoàng Thị Thao, Lê Quý Tùng
    12-17

    Nghiên cứu xác định mật độ gieo hợp lý đối với giống ngô lai QT55 trên đất thịt pha trong vụ xuân, vụ đông năm 2022 tại Vĩnh Phúc. Thí nghiệm diện hẹp 4 công thức mật độ (95.000 cây/ha, 71.000 cây/ha, 57.000 cây/ha, 48.000 cây/ha), lặp lại 3 lần. Kết quả trong vụ xuân, gieo mật độ 71.000 cây/ha, khoảng cách 70 cm x 20 cm x 1 cây đạt năng suất hạt cao 8,22 tấn/ha/vụ và lãi thuần 10,40 triệu đồng/ha/vụ, vượt đối chứng (57.000 cây/ha) là 1,52 triệu đồng/ha/vụ; vụ đông trồng giống QT55 với mật độ 71.000 cây/ha, năng suất cao 7,28 tấn/ha, vượt hơn đối chứng, nhưng lãi thuần chỉ tương đương đối chứng (57.000 cây/ha) và cao hơn các công thức khác.

    DOI: https://doi.org/10.71254/84awmn12
  • ĐÁNH GIÁ ĐA DẠNG DI TRUYỀN NGUỒN GEN NGÔ THỰC PHẨM DỰA TRÊN ĐẶC ĐIỂM NÔNG HỌC VÀ CHỈ THỊ PHÂN TỬ SSR

    Abstract : 21 PDF: 11
    Nguyễn Trung Đức, Phạm Quang Tuân, Nguyễn Thị Nguyệt Anh, Nguyễn Quốc Trung, Vũ Văn Liết
    18-29

    Nghiên cứu này tiến hành nhằm tìm hiểu thông tin đa dạng di truyền của 15 nguồn gen ngô thực phẩm (5 mẫu ngô ngọt, 10 mẫu ngô nếp) dựa trên các đặc điểm nông học và chỉ thị phân tử SSR. Thí nghiệm đồng ruộng được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh với 3 lần nhắc lại trong vụ xuân 2021 tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Phân tích thành phần chính cho thấy tổng hai thành phần chính đầu tiên đóng góp 60,0% tổng biến đổi kiểu hình biểu thị mức độ quan sát sự thay đổi về kiểu hình cao giữa các nguồn gen ngô nghiên cứu. Phân tích cụm dựa trên thành phần chính cho thấy các vật liệu ngô được phân thành năm nhóm nhỏ, khác biệt chính ở thời gian sinh trưởng, chiều cao cây, năng suất cá thể và đặc biệt là tổng lượng chất rắn hoàn tan. Chỉ số đa hình di truyền (PIC) dao động từ 0,04 - 0,30 với 6/17 chỉ thị SSR có hệ số thông tin đa hình cao gồm phi308707, phi328175, phi108411, phi299852, phi223376 và phi032. Dựa trên khoảng cách Euclidean, nguồn gen ngô được phân thành 4 nhóm nhỏ ở hệ số tương đồng 40,5. Dựa trên chỉ thị SSR ở hệ số tương đồng 0,23 đã chia nguồn gen ngô thành 10 nhóm nhỏ. Kết hợp cả 3 phương pháp phân tích đa dạng di truyền cho thấy có sự tương đồng cao về sự đa dạng dựa trên kiểu hình và kiểu gen. Thông tin đa dạng di truyền và vật liệu ngô từ nghiên cứu này là cơ sở quan trọng phục vụ chiến lược cải tiến và phát triển các giống ngô thực phẩm chất lượng cao tại Việt Nam.

    DOI: https://doi.org/10.71254/5d7n7e36
  • NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHIỀU CAO CHE SÁNG TRƯỚC KHI HÁI ĐẾN NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG NGUYÊN LIỆU GIỐNG CHÈ LCT1 CHO CHẾ BIẾN CHÈ MATCHA TẠI PHÚ THỌ

    Abstract : 15 PDF: 9
    Nguyễn Văn Toàn, Nguyễn Ngọc Bình, Nguyễn Hoàng Hà, Lê Thế Tùng, Nguyễn Thị Kiều Ngọc, Trần Xuân Hoàng
    30-36

    Nghiên cứu ảnh hưởng của chiều cao che sáng đối với giống chè LCT1 để sản xuất nguyên liệu chế biến chè xanh Matcha tại Phú Thọ cho thấy, các công thức với chiều cao che sáng mặt tán chè khác nhau như không che (CT1), cao 0,8 m (CT2), 1,2 m (CT3), 1,5 m (CT4) đã ảnh hưởng đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng nguyên liệu. Công thức che với chiều cao 1,5 m so với mặt tán chè năng suất đạt cao nhất là 8,23 tấn/ha và ít bị sâu hại. Tỷ lệ bánh tẻ giữa các công thức chiều cao che sáng của giống LCT1 có xu hướng giảm dần từ CT1, tiếp đến CT2, CT3, sau đến CT4. Khi che với chiều cao 1,5 m so với mặt tán chè thì hàm lượng tanin đạt thấp nhất; hàm lượng chất hòa tan, đường khử, axit amin, hợp chất thơm, catechin tổng số, chlorophyll đều có giá trị cao hơn các công thức khác. Điểm thử nếm cảm quan sản phẩm chè Matcha của giống chè LCT1 ở công thức che với chiều cao 1,5 m so với mặt tán chè đạt điểm thử nếm cảm quan cao nhất (17,66 điểm) so với công thức chiều cao che 0,8 m và 1,2 m.

    DOI: https://doi.org/10.71254/a3vvxb94
  • ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU THÂN MỘT SỐ LOÀI HỒ TIÊU (Piper spp.) VÀ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA CÁC TỔ HỢP CÂY TIÊU GHÉP

    Abstract : 19 PDF: 8
    Dương Thị Oanh, Nguyễn Quang Ngọc, Nguyễn Thị Thủy, Nguyễn Bá Huy, Phạm Thị Hoài
    37-44

    Nghiên cứu đặc điểm giải phẫu thân của một số loài hồ tiêu (Piper spp.) được thực hiện trên các giống hồ tiêu (P. nigrum), tiêu rừng Nam Mỹ (P. colubrinum), tiêu rừng Việt Nam (Piper spp.), trầu không (P. betle), các tổ hợp cây hồ tiêu ghép (VL-Sr1, VL-TRNM, VL-TRQT, VL-TrN) nhằm chọn tạo tổ hợp cây hồ tiêu ghép chống chịu bệnh hại rễ. Vi phẫu thân bằng các lát cắt ngang vuông góc với trục thân sau đó nhuộm kép để nhận biết mô thực vật. Kết quả cho thấy, cấu tạo thân của các loài hồ tiêu tương đồng, gồm các lớp biểu bì, lớp mô dày, lớp mô mềm vỏ, bó mạch vòng ngoài, bó mạch vòng trong, lớp mô cứng, mô mềm tủy. Tuy nhiên, giữa các loài có vị trí sắp xếp các lớp tế bào khác nhau. Vi phẫu vị trí vết ghép của các tổ hợp ghép cho thấy, có sự khác nhau về khả năng tiếp hợp giữa chồi ghép và gốc ghép. Tổ hợp ghép VL-TRQT (Vĩnh Linh-tiêu rừng Quảng Trị), vết ghép tiếp hợp tốt nhưng các mô sắp xếp lộn xộn, không đồng nhất. Tổ hợp ghép VL-TrN (Vĩnh Linh-Trầu không) tiếp hợp kém, hình thành nhiều tế bào chết ngăn cách tượng tầng (tầng phát sinh), tỷ lệ cây ghép sống đạt 55,3%; tổ hợp ghép cùng loài hồ tiêu VL-Sr1 (Vĩnh Linh-Sri Lanka) vết ghép và tượng tầng phát triển liền mạch, ít xuất hiện tế bào chết, tỷ lệ cây ghép sống đạt 62,5%; tổ hợp ghép VL-TRNM (Vĩnh Linh-tiêu rừng Nam Mỹ) tầng phát sinh liền mạch không hoàn toàn, xuất hiện tế bào chết, tỷ lệ cây ghép sống đạt 73,3%.

    DOI: https://doi.org/10.71254/9bf9ee54
  • NGHIÊN CỨU NHÂN GIỐNG IN VITRO CÂY LA HÁN QUẢ (Siraitia grosvenorii)

    Abstract : 13 PDF: 7
    Hoàng Thị Như Nụ, Nguyễn Thị Xuyên, Lê Thị Quỳnh Nga, Đinh Thanh Giảng, Vũ Hoài Sâm
    45-50

    Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục đích xây dựng quy trình nhân nhanh và tạo cây la hán quả hoàn chỉnh in vitro. Chồi la hán quả in vitro được nuôi cấy trên môi trường cơ bản MS có bổ sung các chất điều tiết sinh trưởng để thăm dò khả năng nhân nhanh và tạo cây hoàn chỉnh. Kết quả nghiên cứu cho thấy, môi trường MS có bổ sung 0,5 mg/l BA cho kết quả nhân chồi tốt nhất với 6,75 chồi/mẫu, chiều cao chồi trung bình là 4,6 cm, số lá trung bình là 5,8 lá/chồi sau 6 tuần nuôi cấy. Môi trường ½ MS có bổ sung 0,1 mg/l IBA cho tỷ lệ chồi tạo rễ đạt 100%, số rễ đạt nhiều nhất 5,33 rễ/chồi, chiều dài rễ 5,15 cm.

    DOI: https://doi.org/10.71254/n0528r09
  • TỶ LỆ PHÂN LẬP VI KHUẨN Clostridium perfringens TỪ LỢN CON VÀ BÊ NGHI MẮC VIÊM RUỘT HOẠI TỬ TẠI SÁU TỈNH, THÀNH PHỐ Ở VIỆT NAM

    Abstract : 18 PDF: 10
    Nguyễn Thị Thu Hằng, Trần Thị Thu Hằng, Nguyễn Đức Tân, Nguyễn Thị Thắm, Phạm Tùng Lâm
    51-59

    Viêm ruột hoại tử ở gia súc non là một trong những nguyên nhân chính gây thiệt hại cho đàn vật nuôi. Clostridium perfringens là một vi khuẩn phân bố rộng rãi trong đường tiêu hóa của người, gia súc cũng như môi trường và là nguyên nhân gây nhiều bệnh cho động vật trong đó có bệnh gây viêm ruột hoại tử ở lợn con và bê. Trong nghiên cứu này, 248 mẫu phân và ruột của lợn con và bê nghi mắc bệnh viêm ruột hoại tử từ 6 tỉnh, thành phố ở Việt Nam là Hà Nội, Thái Nguyên, Hà Tĩnh, Đắk Lắk, Khánh Hòa và Cần Thơ đã được thu thập để phân lập, xác định tỷ lệ nhiễm Clostridium perfringens. Tỷ lệ dương tính lần lượt là 95%, 95%, 22,5%, 45%, 41,7% và 60% tương ứng với các mẫu thu thập từ Hà Nội, Thái Nguyên, Hà Tĩnh, Đắk Lắk, Khánh Hòa và Cần Thơ. Nghiên cứu cũng cho thấy type A là type lưu hành chủ yếu trên lợn con và bê nghi mắc bệnh viêm ruột hoại tử. Trong 147 chủng phân lập được, chỉ có 3 chủng thuộc type D (2,04%), 4 chủng thuộc type C (2,72%), 6 chủng thuộc type E (4,08%) và 134 chủng còn lại đều thuộc type A (91,16%). Đây cũng là nghiên cứu đầu tiên xác định sự có mặt của các chủng Clostridium perfringens type E gây bệnh viêm ruột hoại tử ở trên bê tại Việt Nam.

    DOI: https://doi.org/10.71254/wcmbba08
  • ẢNH HƯỞNG MỘT SỐ YẾU TỐ ĐẾN KHẢ NĂNG CHIẾT XUẤT β-D- GLUCAN CHO CHẾ BIẾN THỰC PHẨM TỪ NẤM BỜM SƯ TỬ BẰNG PHƯƠNG PHÁP CHIẾT CÓ HỖ TRỢ SÓNG SIÊU ÂM

    Abstract : 20 PDF: 13
    Nguyễn Đức Tiến
    60-68

    Những tác dụng có lợi của β-D-Glucan từ nấm Bờm sư tử (Hericium erinaceus) đối với sức khỏe con người đã tạo sự quan tâm về nghiên cứu phát triển các phương pháp chiết xuất chúng từ Hericium erinaceus quả thể. Hợp chất β-D-Glucan của nấm Bờm sư tử có chức năng được ứng dụng cho chữa bệnh về dạ dày, loét tá tràng, hỗ trợ chữa ung thư dạ dày, ung thư thực quản, ung thư đại trực tràng, giúp chống mệt mỏi, chống quá trình oxy hóa, chống lão hóa và tăng cường miễn dịch… Một số điều kiện tối ưu để trích β-D-Glucan từ nấm bờm sư tử đã được nghiên cứu. Sự kết hợp giữa chiết xuất bằng dung môi là nước nóng với sử dụng sóng siêu âm tần số 20 kHz được sử dụng để tối ưu các thông số đã cho thấy chiết xuất bằng nước khử ion, cường độ siêu âm 50 W/cm2 với chiết xuất tỷ lệ dung môi nước khử ion/BV1 nguyên liệu là 16 (v/w), thời gian siêu âm 12 phút ở nhiệt độ 55±20C cho khả năng chiết xuất thu hàm lượng β-D-Glucan cao (tăng cao hơn 2,14 lần so với chiết xuất không siêu âm trong 180 phút). Cho thấy tiềm năng ứng dụng sóng siêu âm trong chiết xuất β-D-Glucan từ nấm bờm sư tử mang lại hiệu quả hơn so với phương pháp chiết xuất thông thường không sử dụng sóng siêu âm: rút ngắn thời gian chiết xuất, hàm lượng β-D-Glucan thu được cao hơn.

    DOI: https://doi.org/10.71254/km48zf19
  • ẢNH HƯỞNG CỦA XỬ LÝ NƯỚC NÓNG VÀ CHẾ PHẨM BẢO QUẢN ĐẾN KHẢ NĂNG BẢO QUẢN QUẢ CHANH DÂY

    Abstract : 20 PDF: 12
    Trần Thị Kim Oanh, Đặng Thị Sáu, Lê Thị Mỹ Phương, Lâm Đông Phố, Phạm Thị Thanh Tĩnh
    69-76

     Mục tiêu của nghiên cứu là xác định được chế độ xử lý nước nóng và loại chế phẩm bảo quản nhằm kéo dài thời gian thương phẩm của quả chanh dây sau thu hoạch, làm cơ sở để xây dựng quy trình công nghệ bảo quản chanh dây phục vụ nội tiêu và xuất khẩu. Nguyên liệu thí nghiệm là giống chanh dây tím trồng tại tỉnh Gia Lai. Chanh dây được xử lý nước nóng ở các mức nhiệt độ khác nhau (47oC, 49oC, 51oC, 53oC) trong thời gian 5 phút và  được xử lý các chế phẩm bảo quản: 1-MCP; Postasium sorbate 1%; SIAEP-3; CITROSOL A EU. Các chỉ tiêu chất lượng cảm quan màu sắc, độ nhăn, nấm bệnh và các chỉ tiêu hóa lý bao gồm tổng chất rắn hòa tan, axit tổng số, cường độ màu, tỷ lệ hao hụt khối lượng, tỷ lệ hư hỏng được phân tích đánh giá trong thời gian theo dõi bảo quản. Từ kết quả nghiên cứu đã xác định được chế độ nước nóng xử lý chanh dây thích hợp ở nhiệt độ 48,5 ± 0,5oC, thời gian xử lý 5 phút, kết hợp chế phẩm bảo quản CITROSOL EU có khả năng làm hạn chế mức độ nấm bệnh và tỷ lệ hư hỏng do nấm bệnh, giảm hao hụt khối lượng quả, giảm độ nhăn vỏ và duy trì chất lượng quả trong thời gian bảo quản 12 ngày ở điều kiện mát 20 - 25oC và 28 ngày ở điều kiện lạnh 5±1oC.

    DOI: https://doi.org/10.71254/xfckqx30
  • ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT TẠI VƯỜN QUỐC GIA TRÀM CHIM, TỈNH ĐỒNG THÁP

    Abstract : 29 PDF: 12
    Nguyễn Võ Châu Ngân, Nguyễn Truyền, Trần Thị Kim Hồng, Nguyễn Công Thuận, Kim Lavane
    77-86

    Việc đánh giá tác động của nguồn nước từ bên ngoài đến chất lượng nguồn nước mặt trên các thủy vực ở Vườn Quốc gia Tràm Chim góp phần bảo vệ môi trường nước và bảo tồn đa dạng sinh học tại khu vực nghiên cứu. Nghiên cứu đã thu mẫu đánh giá chất lượng nước mặt tại quần xã và hệ thống kênh trong vườn (cỏ năng, rừng tràm, cỏ ống, lúa ma, sen súng, kênh lõi, kênh bao) và khu vực bên ngoài vườn (ao cá, ruộng lúa, kênh nguồn) vào mùa khô và mùa mưa, so sánh các thông số ô nhiễm nước với QCVN 08-MT: 2015/BTNMT (cột A1). Bên cạnh đó, tính toán chỉ số chất lượng nước VN_WQI giữa hai mùa trong năm và giữa các nhóm vị trí lấy mẫu. Chất lượng nước trong mạng lưới kênh bên trong vườn ở mức trung bình vào mùa mưa đến tốt và mùa khô có thể sử dụng cho tưới tiêu hoặc giao thông thủy; riêng tại các vị trí lấy mẫu nước bên ngoài vườn có hoạt động sản xuất thì chỉ số WQI ở mức ô nhiễm rất nặng và trung bình. Kết quả cho thấy cần quan tâm quản lý nguồn nước bên ngoài trước khi bơm vào vườn trong mùa khô hoặc khi mở cống trao đổi nước vào mùa mưa với nguồn nước bên trong vườn, hạn chế nguy cơ gây ô nhiễm và suy giảm đa dạng hệ sinh thái vườn.

    DOI: https://doi.org/10.71254/9vxwa198
  • ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN QUY HOẠCH, KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH GIAI ĐOẠN 2011-2021

    Abstract : 23 PDF: 10
    Đỗ Thị Tám, Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Nguyễn Bá Long, Trương Đỗ Thùy Linh
    87-100

    Nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (QH, KHSDĐ) thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. Các phương pháp nghiên cứu sử dụng: điều tra số liệu thứ cấp, điều tra sơ cấp, đánh giá theo thang đo 5 cấp của Likert, đánh giá theo độ lệch giữa kế hoạch và thực hiện. Kết quả cho thấy, trong tổng 65 chỉ tiêu sử dụng đất được đánh giá thì có 43,08% đạt mức thực hiện rất tốt; có tới 27,69% đạt mức kém và rất kém. Tỷ lệ thực hiện các công trình, dự án rất thấp. Kết quả điều tra 30 cán bộ cho thấy trong 11 tiêu chí có 5 tiêu chí được đánh giá ở mức rất tốt, có 5 tiêu chí được đánh giá ở mức trung bình và 1 tiêu chí được đánh giá ở mức thấp. Để nâng cao hiệu quả thực hiện QH, KHSDĐ cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau: nâng cao chất lượng phương án QH, KHSDĐ; tăng cường quản lý và giám sát thực hiện QH, KHSDĐ; huy động vốn đầu tư; tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật và hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai tổng thể.

    DOI: https://doi.org/10.71254/zvz1ky75