Số 20 (2024)
Bài viết
-
Đánh giá các đặc điểm nông sinh học chính của tập đoàn lúa màu Việt Nam
Abstract : 700 PDF: 0Nghiên cứu đa dạng di truyền trên 150 mẫu giống lúa màu Việt Nam cho thấy sự phong phú, đa dạng về nguồn gen. Kết quả đánh giá 41 đặc điểm nông học cho thấy, sự biến động lớn về chiều cao cây, thời gian sinh trưởng, khối lượng 1.000 hạt và màu sắc vỏ gạo. Cụ thể, 62,6% giống có chiều cao trên 100 cm, 70% giống có thời gian sinh trưởng từ trung bình đến dài ngày, 49 giống có khối lượng 1.000 hạt lớn hơn 30 g, trong đó giống GBVN014650 đạt mức cao nhất 37,9 g. Về màu sắc vỏ gạo, các giống thể hiện sự đa dạng với 92 nguồn gen có vỏ gạo màu tím, 25 nguồn gen có vỏ gạo màu trắng, 20 nguồn gen có màu đỏ, 9 nguồn gen có màu nâu nhạt, ánh nâu và 4 nguồn gen có màu nâu. Phân tích hệ số tương đồng di truyền cho thấy, sự phân hóa rõ rệt giữa các giống, chia thành hai nhóm chính. Nhóm I gồm 62 giống với hệ số tương đồng từ 0,39 - 0,96, trong đó cặp giống GBVN016873 và GBVN016877 có hệ số tương đồng cao nhất (0,96). Nhóm II gồm 88 giống với hệ số tương đồng từ 0,49 - 0,89. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa trong công tác chọn tạo các giống lúa màu có năng suất cao, chất lượng tốt và thích ứng rộng với các điều kiện canh tác khác nhau tại Việt Nam, đồng thời cung cấp nguồn gen tiềm năng cho các nghiên cứu sâu hơn về cơ chế di truyền các tính trạng quan trọng.
-
Tri thức truyền thống của người H’Mông trong bảo tồn và sử dụng nguồn gen lúa Tẻ Mèo tại khu vực Bắc Dào San, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu
Abstract : 464 PDF: 0Tẻ Mèo là tên gọi mà người H’Mông tại huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu đặt cho giống lúa tẻ được gieo cấy tại địa phương. Việc tìm hiểu tri thức truyền thống liên quan có vai trò quan trọng trong công tác lưu giữ, sử dụng nguồn gen lúa Tẻ Mèo phục vụ an ninh lương thực, đồng thời phát triển kinh tế của huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Kết quả điều tra, nghiên cứu cho thấy, các kỹ thuật gieo, cấy lúa Tẻ Mèo 1 vụ/năm, không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hóa học, không bón phân vô cơ, bảo quản hạt giống là những phương thức canh tác ổn định, bền vững, thân thiện với môi trường, tốt cho người sản xuất, an toàn cho người sử dụng cần được duy trì và phát huy, mở rộng trong sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh đó, một số kỹ thuật truyền thống của người H’Mông cần được cải tiến như: Chọn lọc làm thuần giống, mật độ cấy và sử dụng phân bón hợp lý, phòng trừ sâu, bệnh hại để cho hiệu quả kinh tế cao hơn. Đây là vấn đề cần được các nhà khoa học hỗ trợ, giúp đỡ cộng đồng người H’Mông để giống lúa Tẻ Mèo phát triển bền vững gắn với bảo tồn tại chỗ nguồn gen lúa Tẻ Mèo ở khu vực Bắc Dào San, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
-
Xây dựng bản đồ trực tuyến (WebGIS) về đất sản xuất nông nghiệp phục vụ quản lý và định hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp ở huyện Như¬ Xuân, tỉnh Thanh Hóa
Abstract : 795 PDF: 0Nghiên cứu được thực hiện trên 15.944,36 ha diện tích đất sản xuất nông nghiệp thuộc huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Kết quả đánh giá đất đai đã xác định được 32 đơn vị đất đai (ĐVĐĐ) và 99 mã nông hóa trên 4 loại đất thuộc 2 nhóm đất chính là đất đỏ và đất đen, trong đó nhóm đất đỏ chiếm 98,97% tổng diện tích đưa vào đánh giá. Diện tích đất nông nghiệp có hàm lượng đạm tổng số và kali tổng số nghèo chiếm khoảng 60%, lân dễ tiêu và kali dễ tiêu đều nghèo, hàm lượng chất hữu cơ tổng số (OM) và dung tích hấp thu trao đổi (CEC) trong đất đều thấp, pHKCl trong đất từ chua vừa đến rất chua. Đã xác định được lượng phân bón khuyến cáo cho các cây trồng chính thuộc 2 nhóm: Cây hàng năm và cây ăn quả. Đề xuất được 6 loại cơ cấu cây trồng phù hợp với định hướng phát triển sản xuất nông nghiệp của huyện Như Xuân. Bộ cơ sở dữ liệu (CSDL) trực tuyến (WebGIS) mã nguồn mở về đất sản xuất nông nghiệp của huyện Như Xuân được xây dựng dựa trên các ứng dụng của các phần mềm hệ thống thông tin địa lý (Mapinfo, ArcGIS, QGIS) kết hợp với trang Web địa lý bao gồm: Bản đồ nông hóa; bản đồ thích hợp đất đai; bản đồ khuyến cáo bón phân cân đối; bản đồ nền (ranh giới huyện, ranh giới xã, giao thông, sông hồ, bình độ, độ cao…); các CSDL dưới dạng thông tin (video, ảnh, tin tức, báo cáo, kỹ thuật canh tác, quy trình canh tác, bài báo và trang web liên kết có nội dung liên quan đến sản xuất nông nghiệp); các CSDL dạng số liệu (số liệu phân tích mẫu nông hóa theo vị trí lấy mẫu, số liệu thống kê sản xuất trồng trọt và số liệu khí tượng. Bản đồ trực tuyến về đất sản xuất nông nghiệp rất dễ dàng khai thác, sử dụng và tìm kiếm thông tin, giúp cho công tác khuyến nông và các hộ nông dân thực hành nông nghiệp chính xác, hiệu quả.
-
Đánh giá phẩm chất tinh dịch gà Lương Phượng ở thời điểm 6 và 8 tháng tuổi
Abstract : 426 PDF: 0Nghiên cứu được tiến hành trên 15 gà trống Lương Phượng ở thời điểm 6 và 8 tháng tuổi, nuôi tại Trại gà thực nghiệm, Trường Đại học Tây Đô nhằm đánh giá chất lượng tinh dịch gà Lương Phượng trong thời gian từ tháng 3 - 5 năm 2024. 15 con gà Lương Phượng trống được lây tinh 3 ngày/1 lần vào buổi sáng. Tinh dịch của gà Lương Phượng trống sau khi lấy được pha loãng bằng dung dịch bảo quản thuộc môi trường Ringer, trữ lạnh ở 4oC và kiểm tra phẩm chất tinh tại Phòng thực hành chẩn đoán thú y, Trường Đại học Tây Đô. Kết quả cho thấy, phẩm chất tinh dịch của gà Lương Phượng cho thể tích tinh dịch 0,34 ml, hoạt lực và nồng độ tinh trùng lần lượt là 86,52 x 109/ml và 3,59%, tỷ lệ kỳ hình gà là 3,66%. Sự khác biệt giữa chất lượng tinh dịch của nhóm gà Lương Phượng 6 tháng với nhóm gà Lương Phượng 8 tháng có ý nghĩa về mặt thống kê với P<0,05. Phẩm chất tinh dịch của gà Lương Phượng 8 tháng tuổi cho hoạt lực tinh trùng cao và tỷ lệ tinh trùng kỳ hình thấp hơn so với nhóm gà 6 tháng tuổi. Tương quan dương giữa khối lượng gà với hoạt lực tinh trùng là 0,046, giữa hoạt lực tinh trùng với nồng độ tinh trùng là 0,531. Tương quan âm giữa khối lượng gà trống với nồng độ tinh trùng là -0,153, giữa tỷ lệ kỳ hình và hoạt lực là -0,279.
-
Nghiên cứu thực nghiệm xác định chế độ sấy thích hợp cho nấm linh chi sử dụng công nghệ sấy bơm nhiệt có hỗ trợ siêu âm
Abstract : 634 PDF: 0nấm Linh chi (Ganoderma lucidum) là một nguồn tài nguyên quý giá với nhiều lợi ích cho sức khỏe con người. Trong nấm Linh chi chứa các hoạt chất sinh học quý như: Polysaccharides, Triterpenoids, Peptit và các chất chống oxy hóa, trong đó thành phần Polysaccharides được xem là hoạt chất chính tạo nên giá trị của nấm. Kết quả nghiên cứu đã xây dựng được các hàm hồi quy: Ar = 19,0812 - 0,3985.t - 0,070625.P + 0,0027.t2 + 0,000916667.t.P + 0,0000944444.P2, dE = 206,187 - 7,00175.t - 0,124167.P - 49,9938.A + 0,0718.t2 + 0,000902778.P2 + 73,625.A2, %PA = –333,654 + 16,7157.t + 0,323173.P – 0,168985.t2 - 0,00145791.P2 và xác định được các thông số ở chế độ tối ưu: t = 49,9oC, P = 103,6 W, A = 0,33 với Ar = 4,35 kWh/kg, %PA = 97,5%, dE = 23,93.
-
Nghiên cứu quy trình sản xuất trà nụ hoa Tam thất túi lọc
Abstract : 522 PDF: 0Nụ hoa Tam thất, lá Bồ công anh, rễ Đương quy là 3 loại thảo dược có nhiều hợp chất hóa học, giàu hoạt tính sinh học, rất tốt cho sức khoẻ con người. Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu quy trình sản xuất trà nụ hoa Tam thất, có phối hợp với lá Bồ công anh và rễ Đương quy ở dạng túi lọc. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các thông số kỹ thuật phù hợp cho quá trình sản xuất trà túi lọc là: Thời gian sao nụ hoa Tam thất là 35 phút ở nhiệt độ 900C, thời gian sao lá Bồ công anh là 45 phút ở nhiệt độ 1000C và thời gian sao rễ Đương quy là 40 phút ở nhiệt độ 800C. Sau khi nghiền và sàng từng loại thảo dược, bán thành phẩm thảo dược thu được có kích thước phù hợp để đóng túi lọc là dưới lưới số 18 x 18 và trên lưới số 44 x 44. Tỷ lệ phối trộn giữa nụ hoa Tam thất - Bồ công anh - Đương quy (%) là 70 - 20 - 10. Sản phẩm có màu nước xanh hơi vàng, trong sáng; thơm đặc trưng mạnh, hài hòa; vị chát nhẹ, hài hòa, hấp dẫn. Điểm chất lượng theo phương pháp cảm quan là 17,5; sản phẩm xếp loại khá. Các chỉ tiêu lý hóa và chỉ tiêu an toàn thực phẩm đều phù hợp với TCVN 7975:2008 và QCVN 8-1:2011/BYT, QCVN 8-2:2011/BYT, QCVN 8-3:2011/BYT.
-
Ảnh hưởng của thay thế thức ăn công nghiệp bằng ấu trùng ruồi lính đen (Hermetia illucens) với các tỷ lệ khác nhau lên tỷ lệ sống và tăng trưởng của lươn đồng (Monopterus albus) nuôi trong điều kiện không bùn
Abstract : 572 PDF: 0Nghiên cứu nhằm xác định sự ảnh hưởng của thức ăn công nghiệp được bổ sung ấu trùng ruồi lính đen với các tỷ lệ khác nhau lên tỷ lệ sống và tăng trưởng của lươn đồng trong điều kiện nuôi không bùn. Tổng số 900 lươn giống có khối lượng trung bình 24,09 g/con được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên vào 3 nghiệm thức với 3 lần lặp lại. Nghiệm thức 1 (NT1): Lươn được cho ăn 100% thức ăn công nghiệp; nghiệm thức 2 (NT2): 90% thức ăn công nghiệp + 10% ấu trùng ruồi lính đen; nghiệm thức 3 (NT3): 80% thức ăn công nghiệp + 20% ấu trùng ruồi lính đen. Lươn được nuôi trong bể lót bạt, đáy không bùn và có mái che. Thí nghiệm được thực hiện trong 150 ngày. Kết quả cho thấy, không có sự sai khác có ý nghĩa thống kê về tăng chiều dài và tỷ lệ sống của lươn ở các nghiệm thức (p > 0,05). Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng tuyệt đối và tương đối về khối lượng của lươn ở NT3 cao hơn NT1 và NT2 (p < 0,05) và hệ số chuyển hóa thức ăn ở NT3 thấp hơn hai nghiệm thức còn lại (p < 0,05). Kết quả nghiên cứu cho thấy, lươn thương phẩm nuôi trong điều kiện không bùn được cho ăn 80% thức ăn công nghiệp kết hợp với 20% ấu trùng ruồi lính đen đã cải thiện khả năng sinh trưởng về khối lượng và chi phí thức ăn.
-
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tính thích nghi sinh kế của hộ nuôi trồng thủy sản dưới tác động của việc ngăn đập Ba Lai, tỉnh Bến Tre
Abstract : 637 PDF: 0Nghiên cứu với dữ liệu sơ cấp từ 212 hộ nuôi trồng thủy sản (NTTS) (79 hộ ở ngoài đập Ba Lai, 71 hộ ở trong đập và 62 hộ đối chứng ở bên ngoài và không chịu ảnh hưởng của đập) thuộc 6 xã ở huyện Ba Tri và Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Sử dụng phương pháp đo lường tính thích nghi sinh kế của IPCC và khung sinh kế bền vững của DFID để phân loại và đo lường năm nguồn vốn sinh kế của nông hộ cho thấy, tính thích ứng sinh kế của các hộ khảo sát ở mức trung bình (LAC = 0,331). Kết quả so sánh cặp đôi Tukey và phân tích ANOVA cho thấy, các hộ NTTS ở trong và ngoài đập Ba Lai có năng lực thích ứng sinh kế lần lượt là LAC = 0,312 và 0,313, thấp hơn so với nhóm đối chứng LAC = 0,374, với sự khác biệt trung bình lần lượt là -0,0615 và -0,0610 và p-value = 0,000. Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính đa biến chỉ ra rằng, ngoại trừ biến giới tính của chủ hộ là nữ, các yếu tố tuổi, kinh nghiệm của chủ hộ, số lượng lao động chính của hộ và diện tích đất NTTS đều có tương quan thuận có ý nghĩa thống kê đến năm giá trị vốn sinh kế và tính thích nghi sinh kế của nông hộ.
-
Nghiên cứu xây dựng đường cong sập đổ nhà khung bê tông cốt thép chịu tác động của chiều sâu ngập nước và vận tốc dòng chảy trong vùng lũ lụt ở Việt Nam
Abstract : 441 PDF: 0Nghiên cứu phát triển mô hình đường cong sập đổ cho nhà khung bê tông cốt thép dựa trên chiều sâu và vận tốc dòng chảy, để xác định khả năng chống chịu của nhà trước tác động của lũ lụt. Nghiên cứu đã thiết lập cơ sở lý thuyết và quy trình phân tích để xây dựng đường cong sập đổ nhà dựa trên các tiêu chuẩn xây dựng ở Việt Nam, trong đó xét đến áp lực thủy tĩnh, thủy động, tải trọng gió và khối lượng bản thân của kết cấu. Kết quả cho thấy, sự khác biệt về khả năng bị sập đổ của nhà khung bê tông cốt thép hai tầng trong trường hợp nước lũ dâng nhanh (như lũ vỡ đập) và lũ dâng chậm (như lũ sông). Nghiên cứu đóng góp cơ sở khoa học về phát triển đường cong sập đổ nhà tại Việt Nam, từ đó ước tính thiệt hại và rủi ro ngập lụt cho nhà cửa trên quy mô rộng, giúp nâng cao khả năng ứng phó với thiên tai lũ lụt và bảo vệ cộng đồng.
-
Nghiên cứu khả năng tích trữ năng lượng của vật liệu nano carbon chế tạo từ than đá
Abstract : 544 PDF: 0Bài báo này giới thiệu về chế tạo và nghiên cứu khả năng tích trữ năng lượng của điện cực nano carbon chế tạo từ than đá (điện cực CNN). Điện cực CNN có điện dung riêng còn 65,35% so với điện dung riêng ở chu kỳ 1 sau 1.000 CV, điện dung riêng là 253 F/g ở mật độ dòng điện là 0,1 A/g. Phổ tổng trở cho thấy, điện trở chuyển điện tích nhỏ (Rct) bằng 2,15 Ω. Khi nghiên cứu tính chất điện hóa của điện cực CNN là anode trong cell pin Li - ion cho thấy khả năng lưu trữ tốt ion Li+, dung lượng riêng của pin (Li - ion) tại mật độ dòng tiêu chuẩn C/10 là 306,0 mAh/g, tại mật độ dòng C/20 là 435,5 mAh/g. Cell pin Li - ion sau khi phóng điện có điện trở chuyển điện tích Rct nhỏ. Những kết quả này cho thấy, có thể ứng dụng điện cực CNN làm anode trong pin Li - ion. Nghiên cứu sâu hơn có thể tập trung vào việc tối ưu hóa quy trình chế tạo và khám phá các ứng dụng bổ sung cho các vật liệu điện cực mới này.








