
Số 9 (2026)
Bài viết
-
ĐÁNH GIÁ SỨC KHỎE ĐẤT NGẬP NƯỚC TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VÙNG CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Nghiên cứu nhằm đánh giá sức khỏe đất tại các khu vực đất trũng có ngập nước theo mùa thuộc vùng Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh là vùng nông nghiệp ven đô tiêu biểu đang chịu tác động của đô thị hóa và biến đổi khí hậu (BĐKH). Ba loại hình canh tác được khảo sát gồm: Trồng lúa, rau màu và cây ăn trái, phân bố trên địa hình trũng có ngập theo mùa. Mẫu đất mặt (0 - 20 cm) được phân tích các chỉ tiêu lý - hóa - sinh học, bao gồm: pH, OC, EC, CEC, hàm lượng Fe2+ hòa tan, mật độ vi sinh vật, hoạt độ enzyme và giun đất. Kết quả cho thấy, đất lúa có hàm lượng hữu cơ cao (2,3%) nhưng pH thấp và đặc trưng bởi điều kiện khử yếm khí; đất rau màu suy giảm mạnh về sinh học; trong khi đất cây ăn trái có sức khỏe đất ổn định hơn, phản ánh qua mật độ giun và enzyme cao. Phân tích thành phần chính (PCA) cho phép phân loại tích hợp sức khỏe đất giữa các mô hình sử dụng đất, với hai thành phần đầu tiên giải thích 81,8% tổng phương sai. Điểm mới của nghiên cứu là áp dụng phương pháp tích hợp PCA trong điều kiện đất ngập nước ven đô, từ đó đề xuất định hướng cải tạo theo hướng hữu cơ - sinh học và xây dựng hệ thống quan trắc sức khỏe đất dài hạn.
-
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA KHOẢNG CÁCH VÀ LIỀU LƯỢNG PHÂN BÓN ĐẾN SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG DƯỢC LIỆU THẢO QUYẾT MINH (Senna tora (L.) Roxb.)
Thảo quyết minh (Senna tora (L.) Roxb.) là cây dược liệu được sử dụng phổ biến trong dân gian và có nhiều công dụng trong y học, có tác dụng nhuận tràng, an thần, ức chế vi khuẩn, chống oxy hóa, hạ áp chống lại tế bào ung thư. Nhằm xác định khoảng cách trồng và liều lượng phân bón thích hợp để nâng cao năng suất và chất lượng của Thảo quyết minh, thí nghiệm hai nhân tố được tiến hành năm 2024 với 9 công thức, lặp lại 3 lần, được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ. Kết quả nghiên cứu cho thấy, công thức với khoảng cách trồng 40 × 50 cm và lượng phân bón 84 kg N + 48 kg P2O5 + 120 kg K2O là công thức phù hợp cho sản xuất dược liệu Thảo quyết minh, với năng suất đạt 2,06 tấn/ha. Công thức này là lựa chọn tối ưu nhất, vừa đảm bảo hàm lượng aurantio-obtusin ở mức cao (0,22%), vừa đạt năng suất hoạt chất cao (4,61 kg/ha).
-
TIỀM NĂNG ỨC CHẾ SINH HỌC CỦA DỊCH CHIẾT CÂY KÉ ĐẦU NGỰA (Xanthium strumarium L.) ĐỐI VỚI CỎ MẦN TRẦU (Eleusine indica L.)
Nghiên cứu được thực hiện để đánh giá tiềm năng ức chế sinh học của dịch chiết ethanol từ các bộ phận cây ké đầu ngựa (Xanthium strumarium L.) đối với cỏ mần trầu (Eleusine indica L.). Hàm lượng phenolic tổng (TPC) và flavonoid tổng (TFC) được xác định bằng phương pháp quang phổ, kết hợp phân tích thành phần hóa học qua sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) trang bị đầu dò mảng diode (DAD). Kết quả cho thấy, lá có TPC cao nhất (168,33 mg GAE/g), trong khi quả tích lũy TFC cao nhất (86,78 mg QE/g). Phân tích HPLC đã xác định được các hợp chất chủ đạo gồm: Procyanidins (chiếm hơn 53% tổng diện tích pic), catechin, rutin và epigallocatechin gallate (EGCG). Trong thử nghiệm sinh học, dịch chiết thể hiện tác động ức chế mạnh mẽ lên sự nảy mầm và sinh trưởng của cây ké đầu ngựa theo mối quan hệ liều lượng - đáp ứng. Mô hình hồi quy Log-logistic xác định nồng độ ức chế 50% số hạt nảy mầm (ED50) là 0,0420 g/mL. Tại nồng độ 0,08 g/mL, dịch chiết có hiệu quả ức chế thân và rễ lần lượt là 80,3% và 81,95%. Ở nồng độ 0,32 g/mL đã ức chế 100% số hạt cỏ thử nghiệm. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tiềm năng sử dụng dịch chiết cây ké đầu ngựa làm nguồn nguyên liệu để phát triển chế phẩm phòng trừ cỏ sinh học tiền nảy mầm.
-
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH BỆNH ĐƯỜNG TIÊU HÓA VÀ ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH LÝ MÁU TRÊN CHÓ MẮC BỆNH ĐƯỜNG TIÊU HÓA TẠI BỆNH XÁ THÚ Y, ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện từ tháng 8/2025 đến tháng 02/2026 trên 412 con chó đến khám và điều trị tại Bệnh xá Thú y, Đại học Cần Thơ nhằm xác định tỷ lệ bệnh đường tiêu hóa và một số chỉ tiêu sinh lý máu trên chó bệnh đường tiêu hóa. Chó được khám lâm sàng và xét nghiệm một số chỉ tiêu sinh lý máu trên chó mắc bệnh đường tiêu hóa bằng máy phân tích huyết học tự động TC-Hemaxa 1000. Kết quả cho thấy, tỷ lệ chó bệnh là 77,43%, tỷ lệ chó mắc bệnh đường tiêu hóa là 62,38% trên tổng số chó mắc bệnh 319 con. Chó ở độ tuổi < 1 năm tuổi có tỷ lệ mắc bệnh đường tiêu hóa cao nhất là 71,90%, trong khi thấp nhất ở nhóm tuổi từ 1 năm đến < 3 năm tuổi (33,33%), không ghi sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm giống và giới tính. Các chỉ tiêu huyết học gồm: Hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu giảm so với giá trị tham chiếu với tỷ lệ lần lượt là 74,87%, 53,27%, 39,20%, tỷ lệ điều trị khỏi bệnh đạt 89,44%.
-
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA ĐIỀU KIỆN SẤY BỌT XỐP ĐẾN TỐC ĐỘ SẤY VÀ HÀM LƯỢNG POLYPHENOL TRONG BỘT KHOAI LANG RUỘT TRẮNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP BỀ MẶT ĐÁP ỨNG
Nghiên cứu nhằm mục đích tối ưu hóa các thông số sấy bọt xốp để sản xuất bột từ khoai lang ruột trắng (WFSP). Albumin trứng (EA) (5 - 15%), xanthan gum (XG) (0,1 - 0,5%) và nhiệt độ sấy (50 - 70°C) được sử dụng làm các biến độc lập để tối ưu hóa thông qua phương pháp bề mặt đáp ứng với thiết kế Box-Behnken (BBD). Các biến đáp ứng (tốc độ sấy và hàm lượng polyphenol) được đánh giá bằng 18 phương pháp xử lý, bao gồm: 6 điểm trung tâm và 3 lần lặp lại. Phân tích phương sai cho thấy, hệ số xác định cao (> 93%) giữa các giá trị dự đoán và thực nghiệm trên tất cả các mô hình. Điều kiện sấy bọt xốp tối ưu là 12,4% EA; 0,31% XG và nhiệt độ sấy 62,4°C. Những điều kiện này đạt được tốc độ sấy cao nhất (2,359 g nước/g chất khô/phút) và hàm lượng polyphenol cao nhất (2,07 mg gallic axit equivalent (GAE)/g). Các thông số tối ưu đã được xác nhận, với sai số giữa giá trị thực nghiệm và dự đoán dưới 5%. Sau 3,5 giờ sấy ở 62,4°C, bột WFSP sấy bọt xốp có hàm lượng ẩm thấp (4,38%) và độ hoạt động của nước (0,27). Chỉ số hấp thụ nước, chỉ số hòa tan trong nước, lần lượt là 4,60 g/g: 54,75%.
-
ĐÁNH GIÁ HOẠT TÍNH SINH HỌC VÀ ĐỘ ỔN ĐỊNH BẢO QUẢN CHLOROPHYLL TỪ RONG Ceratophyllum submersum
Nghiên cứu này nhằm đánh giá hoạt tính kháng oxy hóa, kháng khuẩn và sự biến đổi trong quá trình bảo quản của chlorophyll được trích ly từ rong Ceratophyllum submersum. Nguyên liệu được xử lý, sấy khô và chlorophyll được trích ly từ rong sấy khô bằng ethanol và định lượng bằng phương pháp quang phổ UV-Vis. Hoạt tính kháng oxy hóa được đánh giá đồng thời thông qua các phương pháp gồm: DPPH, ABTS, FRAP, nitric oxide (NO) và khả năng khử (RP) nhằm phản ánh các cơ chế chống oxy hóa khác nhau. Kết quả cho thấy, chlorophyll thể hiện hoạt tính kháng oxy hóa đáng kể, với giá trị IC50 lần lượt đạt 66,55 µg/mL (DPPH), 49,35 µg/mL (ABTS), 30,5 µg/mL (FRAP) và 29,72 µg/mL (NO), đồng thời khả năng khử tăng tỉ lệ thuận với nồng độ mẫu. Hoạt tính kháng khuẩn được xác định bằng phương pháp MIC cho thấy chlorophyll có khả năng ức chế hiệu quả các chủng vi khuẩn Escherichia coli, Staphylococcus aureus, Bacillus subtilis và Salmonella enterica, với MIC dao động từ 12,5 - 25 µg/mL. Bên cạnh đó, nghiên cứu khảo sát sự suy giảm màu sắc và hoạt tính kháng oxy hóa của chlorophyll sau sấy phun và vi bao bằng maltodextrin trong điều kiện bảo quản gia tốc cho thấy, giá trị ΔE tăng theo thời gian, trong khi khả năng bắt gốc tự do DPPH giảm xuống dưới 50% sau khoảng 7 ngày. Dựa trên mô hình Q10, thời gian bảo quản ước tính của sản phẩm ở 30°C là khoảng 56 ngày. Kết quả nghiên cứu cung cấp dữ liệu định lượng mới về hoạt tính sinh học và độ ổn định của chlorophyll từ rong C. submersum, qua đó cho thấy tiềm năng ứng dụng của hợp chất này như một chất chống oxy hóa và kháng khuẩn tự nhiên, đồng thời cung cấp cơ sở khoa học cho việc phát triển các sản phẩm có nguồn gốc sinh học trong lĩnh vực thực phẩm và dược phẩm.
-
NGHIÊN CỨU CHẾ BIẾN BỘT QUẢ THANH LONG RUỘT ĐỎ (Hylocereus polyrhizus) BẰNG PHƯƠNG PHÁP SẤY BỌT XỐP
Trong nghiên cứu này, bột thanh long ruột đỏ (Hylocereus polyrhizus) được sản xuất bằng phương pháp sấy bọt xốp nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng tốt. Mục tiêu của nghiên cứu là khảo sát ảnh hưởng của tỷ lệ glycerol monostearate (GMS) sử dụng (1, 2, 3, 4%) và dạng nguyên liệu (tươi và lạnh đông) đến hiệu suất thu hồi và chất lượng của bột thanh long ruột đỏ thành phẩm. Bột thanh long được phân tích về hàm lượng nước, hoạt độ nước, chỉ số độ hòa tan trong nước (WSI), màu sắc, hàm lượng betacyanin, phenolic và flavonoid cùng với hoạt tính chống oxy hóa được thể hiện qua khả năng loại gốc tự do 2,2-diphenyl-1-picrylhydrazyl (DPPH). Kết quả cho thấy, sử dụng nguyên liệu thanh long ruột đỏ dạng tươi cho sản phẩm có chất lượng tốt hơn so với dạng lạnh đông, đồng thời sử dụng GMS với tỷ lệ 3% cho độ giãn nở bọt hiệu quả nhất dẫn đến hiệu suất thu hồi cao (87,94%), bột thành phẩm có hoạt độ nước thấp (0,53), chỉ số hòa tan tốt (62,34%) và đặc biệt là có hàm lượng betacyanin, phenolic và flavonoid cao, tương ứng với 34,09 mg/100 g, 1,91 mg GAE/g và 17,13 mg QE/100 g, các hợp chất này góp phần cho khả năng loại gốc tự do DPPH của bột đạt 48,68%. Kỹ thuật sấy bọt xốp có thể được áp dụng như một kỹ thuật chế biến bột trái cây có khả năng bảo quản tốt vì tạo ra bột có hoạt độ nước thấp và hiệu suất thu hồi cao nên tiết kiệm chi phí hơn.
-
PHÂN TÍCH CÁC GIẢI PHÁP PHÁP LÝ ĐỘT PHÁ TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG NÔNG NGHIỆP HƯỚNG TỚI KINH TẾ TUẦN HOÀN TẠI VIỆT NAM
Nghiên cứu này phân tích các giải pháp pháp lý đột phá trong hệ thống pháp luật Việt Nam giai đoạn 2020 - 2025 nhằm thúc đẩy kinh tế tuần hoàn nông nghiệp. Thông qua phương pháp phân tích luật học, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ tư duy xử lý chất thải "cuối đường ống" sang tiếp cận phụ phẩm nông nghiệp như một tài nguyên tái tạo. Kết quả cho thấy, cơ chế sử dụng đất đa mục đích theo Luật Đất đai năm 2024 đã tháo gỡ điểm nghẽn về không gian hạ tầng tái chế. Cùng với đó, hệ thống quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng chất thải nguy hại và đồng xử lý (năm 2025) tạo lập hành lang pháp lý để thương mại hóa thứ cấp vật chất nông nghiệp an toàn. Các chính sách tín dụng xanh và ưu đãi tài nguyên nước được định hình là đòn bẩy tài chính trọng tâm. Nghiên cứu cũng đề xuất phương hướng hoàn thiện các hướng dẫn kỹ thuật và nâng cao năng lực quản trị môi trường cấp cơ sở nhằm đảm bảo hiệu lực thực thi chính sách.
-
PHÁT HIỆN NƯỚC MẶT RUỘNG LÚA TẠI TỈNH AN GIANG BẰNG DỮ LIỆU ẢNH VIỄN THÁM RADAR ALOS-2
Bài báo này trình bày việc xây dựng và kiểm chứng phương pháp phát hiện nước ngập trên ruộng lúa tại tỉnh An Giang. Phương pháp nghiên cứu sử dụng dữ liệu ảnh vệ tinh radar ALOS - 2 với hai kênh phân cực HH (Horizontal - Horizontal) và HV (Horizontal - Vertical). Quy trình tiền xử lý gồm: Hiệu chỉnh bức xạ, hiệu chỉnh hình học, lọc nhiễu đốm, nhằm nâng cao chất lượng ảnh phục vụ cho quá trình phân loại ảnh. Thuật toán cây quyết định (Decision Tree) được áp dụng cho việc phân loại dựa trên các giá trị ngưỡng tối ưu xác định từ dữ liệu thực địa. Dữ liệu thực địa bao gồm 89 điểm mẫu được thu thập tại các huyện Châu Thành, Thoại Sơn và thành phố Long Xuyên thuộc tỉnh An Giang (đơn vị hành chính trước sáp nhập), được phân chia ngẫu nhiên với tỷ lệ 70% cho mẫu huấn luyện và 30% cho mẫu kiểm chứng. Kết quả thực nghiệm chỉ ra rằng, kênh phân cực HV (thu nhận ngày 17/01/2025) đạt hiệu suất cao nhất với độ chính xác toàn cục là 74%. Những kết quả này chứng minh độ tin cậy của việc ứng dụng dữ liệu SAR trong giám sát chế độ nước mặt ruộng, cung cấp dữ liệu đầu vào quan trọng cho công tác tính toán phát thải khí metan trong canh tác lúa. Các nghiên cứu trong tương lai sẽ tập trung đánh giá ngập nước trên ruộng qua từng giai đoạn sinh trưởng khác nhau của lúa nhằm hỗ trợ hiệu quả hơn cho các cam kết giảm thiểu phát thải khí nhà kính của Chính phủ.
-
ỨNG DỤNG VBDLIS TRONG LÀM GIÀU, LÀM SẠCH CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐẤT ĐAI TẠI TỈNH NGHỆ AN
Nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp ứng dụng phần mềm VBDLIS trong chiến dịch làm giàu, làm sạch cơ sở dữ liệu đất đai (CSDLĐĐ) tại tỉnh Nghệ An. Các phương pháp được sử dụng gồm: Thu thập tài liệu, số liệu; đánh giá theo thang đo Likert và phân tích SWOT. Kết quả điều tra 36 cán bộ cho thấy, VBDLIS giữ vai trò quan trọng trong triển khai các nhiệm vụ của chiến dịch với 14/15 nhóm tiêu chí được đánh giá ở mức tốt và 1/15 tiêu chí ở mức rất tốt. Kết thúc chiến dịch, tỉnh Nghệ An đã hoàn tất tổ chức CSDLĐĐ theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp; tổng số thửa đất đã được đưa vào cơ sở dữ liệu (CSDL) quốc gia về đất đai thuộc nhóm I là 574.028, chiếm tỷ lệ 49%; số thửa đất đã đồng bộ lên CSDL quốc gia về đất đai là 1.165.302; tạo lập mới vào hệ thống CSDL cấp tỉnh dữ liệu 105.688 thửa đất. Tuy nhiên, một số nội dung còn hạn chế, đó là rà soát, phân loại, xác thực và khai thác dữ liệu. Nghiên cứu đã chỉ ra các lợi thế, hạn chế, cơ hội và thách thức trong ứng dụng phần mềm, đồng thời đề xuất một số giải pháp (kỹ thuật, tổ chức vận hành, chuẩn dữ liệu và liên thông, khai thác dữ liệu và tạo giá trị gia tăng, chính sách và bảo đảm nguồn lực) nhằm nâng cao hiệu quả khai thác CSDLĐĐ tại tỉnh Nghệ An.







