Số 6 (2026)

					Xem Số 6 (2026)
Đã Xuất bản: 25-03-2026

Bài viết

  • ĐẶC TÍNH NÔNG HỌC, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG HẠT CỦA CÁC DÒNG LÚA MỚI CHỌN TẠO TẠI XÃ CỜ ĐỎ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

    Abstract : 39 PDF: 0
    Hà Thanh Long, Trương Ánh Phương, Lê Hữu Phước, Phan Thị Ngọc Trân
    3-11

    Nghiên cứu được thực hiện trong vụ đông xuân năm 2024 - 2025 nhằm đánh giá đặc tính nông học, năng suất và phẩm chất hạt qua đó tuyển chọn được các dòng lúa mới theo hướng năng suất cao trong điều kiện tự nhiên và đáp ứng nhu cầu sản xuất tại xã Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ. Kết quả khảo nghiệm cơ bản cho thấy, thời gian sinh trưởng của 13 dòng lúa mới tuyển chọn dao động từ 98 - 105 ngày, các dòng có chiều cao trung bình từ 98 - 117 cm, năng suất cao trung bình 8 - 9 tấn/ha. Qua đó, chọn được 02 dòng lúa là CĐR 12 và CĐR 40 có thời gian sinh trưởng ngắn từ 98 - 99 ngày, ít nhiễm sâu, bệnh hại, dạng hạt thon dài, chất lượng cơm nấu khá. Năng suất thực thu của các dòng lúa tuyển chọn đạt 9,30 tấn/ha (CĐR 12) và 8,69 tấn/ha (CĐR 40). Đây là kết quả cơ bản bước đầu tạo nguồn vật liệu phục vụ công tác chọn tạo giống lúa năng suất cao, chất lượng khá phục vụ sản xuất.

    DOI: https://doi.org/10.71254/8k996h48
  • KHẢO SÁT ĐIỀU KIỆN CHIẾT VÀ HOẠT TÍNH KHÁNG VIÊM in vitro CỦA CAO CHIẾT ETHANOL DIỆP HẠ CHÂU ĐẮNG (Phyllanthus amarus Schum. et Thonn) TRÊN MÔ HÌNH TẾ BÀO

    Abstract : 45 PDF: 0
    Hoàng Thị Thu Thuỳ, Trần Hữu Thiện, Nguyễn Thị Ngọc Nhi, Ngô Đại Hùng, Mạch Bảo Ngọc, Võ Thanh Sang
    12-19

    Diệp hạ châu đắng (Phyllanthus amarus Schum. et Thonn) là dược liệu có tiềm năng kháng viêm nhờ chứa nhiều hợp chất polyphenol và các chất chuyển hóa thứ cấp có hoạt tính sinh học; tuy nhiên, hiệu quả thu nhận các thành phần này phụ thuộc vào điều kiện chiết xuất. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm khảo sát điều kiện thích hợp để chiết xuất các hợp chất polyphenol từ Diệp hạ châu đắng bằng ethanol, đồng thời đánh giá hoạt tính kháng viêm của cao chiết thu được. Cao chiết được thu nhận bằng phương pháp ngâm ủ có gia nhiệt trong ethanol ở các điều kiện khác nhau để xác định thông số chiết thích hợp thông qua đo hàm lượng polyphenol tổng, đồng thời đánh giá hoạt tính ức chế sản sinh nitric oxide (NO) và TNF-α trên dòng tế bào đại thực bào RAW 264.7 được kích thích bởi lipopolysaccharide (LPS). Kết quả cho thấy, điều kiện chiết thích hợp là ethanol 70°, tỷ lệ nguyên liệu/dung môi 1: 8, ở 70°C trong 4 giờ, cho hàm lượng polyphenol tổng cao nhất (212,18 mg GAE/g cao chiết). Cao chiết thể hiện khả năng ức chế đáng kể lên sự sản sinh NO và TNF-α theo nồng độ. Nghiên cứu này chứng minh tiềm năng của cao chiết Diệp hạ châu đắng như một nguồn dược liệu tự nhiên có tác dụng kháng viêm và định hướng phát triển sản phẩm hỗ trợ điều trị viêm.

    DOI: https://doi.org/10.71254/88rrjz51
  • ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ DẦU THỰC VẬT TRONG KHẨU PHẦN ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG THỊT GÀ LÔNG MÀU GIAI ĐOẠN SINH TRƯỞNG - VỖ BÉO

    Abstract : 24 PDF: 0
    Nguyễn Công Oánh
    20-30

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của ba loại dầu thực vật gồm: Dầu đậu nành (DN), dầu hạt lanh (DL) và dầu Sacha inchi (DS) có trong khẩu phần ăn đến khả năng sinh trưởng và chất lượng thịt của gà lông màu giai đoạn sinh trưởng - vỗ béo. Tổng 120 gà lai (♂Hồ × ♀Lương Phượng) 56 ngày tuổi, được phân ngẫu nhiên vào 3 lô thí nghiệm, mỗi lô 40 con với 4 lần lặp lại, các lô đồng đều về giới tính và khối lượng ban đầu. Gà ở lô 1 (TN1) ăn khẩu phần bổ sung 4,5% DN, lô 2 (TN2) bổ sung 4,5% DL và lô 3 (TN3) bổ sung 4,5% DS trong thời gian 56 ngày. Các chỉ tiêu nghiên cứu gồm: Tốc độ sinh trưởng, thu nhận và hiệu quả sử dụng thức ăn, năng suất thân thịt, chất lượng thịt, thành phần hóa học và axit béo của thịt lườn. Kết quả cho thấy, bổ sung các loại dầu thực vật ảnh hưởng không có ý nghĩa thống kê đến khối lượng kết thúc, tăng khối lượng, hệ số chuyển hóa thức ăn và các chỉ tiêu thân thịt (P > 0,05). Các chỉ tiêu chất lượng thịt như: pH, tỷ lệ mất nước bảo quản, mất nước chế biến và độ dai cũng không có sự khác biệt giữa các lô thí nghiệm (P > 0,05). Tuy nhiên, lô bổ sung DL và DS làm giảm độ sáng (L*) và tăng màu đỏ (a*) của thịt lườn so với lô bổ sung DN (P < 0,05). Đồng thời, các lô này làm giảm hàm lượng cholesterol và tăng tỷ lệ PUFA, đặc biệt là omega-3, qua đó cải thiện rõ rệt tỷ lệ omega-6/omega-3 trong thịt gà (P < 0,05), trong đó DS cho hiệu quả cao nhất. Kết quả nghiên cứu cho thấy, DS là nguồn lipit chức năng tiềm năng trong sản xuất thịt gà giàu omega-3, góp phần nâng cao giá trị và chất lượng sản phẩm.

    DOI: https://doi.org/10.71254/5b08p111
  • PHÂN LẬP VÀ XÁC ĐỊNH THỰC KHUẨN THỂ CÓ KHẢ NĂNG LY GIẢI VI KHUẨN Escherichia coli TRÊN THỊT GÀ Ở TỈNH VĨNH LONG

    Abstract : 22 PDF: 0
    Nguyễn Trung Trực, Quách Văn Cao Thi, Huỳnh Thị Diểm Chinh
    31-40

    Escherichia coli (E. coli) là vi khuẩn thường hiện diện trên thịt gia cầm chưa qua chế biến và là một trong những tác nhân gây ngộ độc thực phẩm phổ biến. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm phân lập và định danh các chủng thực khuẩn thể (TKT) có khả năng ly giải E. coli được thu nhận từ thịt gà bán lẻ tại một số chợ truyền thống thuộc tỉnh Vĩnh Long. Phương pháp vết tan trên thạch hai lớp (double-layer agar plaque assay) được sử dụng để phân lập và xác định phổ ký chủ của các chủng TKT. Kết quả cho thấy, chủng TKT PEBM_45 có khả năng ly giải 17/49 chủng E. coli khảo sát (34,69%). Ảnh chụp hiển vi điện tử truyền qua (transmission electron microscopy, TEM) xác định chủng TKT PEBM_45 thuộc bộ Caudovirales. Đánh giá hiệu quả ức chế E. coli trên thịt gà ở 8°C và 25°C sau 24, 48, 72 giờ cho thấy, các mẫu được xử lý bằng chủng TKT PEBM_45 có mức giảm mật số E. coli từ 1,82 - 2,93 log CFU/g hoặc log CFU/g so với đối chứng. Kết quả này chứng minh tiềm năng ứng dụng của thực khuẩn thể PEBM_45 như một tác nhân kiểm soát vi sinh vật nhằm nâng cao an toàn vi sinh cho sản phẩm thịt gia cầm.

    DOI: https://doi.org/10.71254/camv6t19
  • ẢNH HƯỞNG CỦA TỶ LỆ TẨM ƯỚP GIA VỊ VÀ THẢO MỘC ĐẾN CHẤT LƯỢNG THỊT ẾCH (Hoplobatrachus rugulosus)

    Abstract : 23 PDF: 0
    Trần Hồng Quân, Trịnh Ngọc Hân, Huỳnh Thị Hồng Nhung, Lê Ngọc Vỉnh, Giáp Phạm Ngọc Trâm, Trần Tiểu Yến, Lê Trân Vi, Nguyễn Phụng Tiên
    41-50

    Thịt ếch tẩm gia vị và thảo mộc được xem là sản phẩm tiềm năng nhằm đa dạng hóa và kéo dài thời gian sử dụng của loại thịt giàu giá trị dinh dưỡng ở đồng bằng sông Cửu Long. Nghiên cứu đã kết hợp gia vị tẩm ướp gồm: Muối (7%, 8%, 9%), đường (5%), bột ngọt (2,5%) và hai loại thảo mộc là húng quế và thì là. Các chỉ tiêu về chất lượng được đánh giá gồm: Màu sắc (L*, a*, b*), cấu trúc (N), hao hụt sau nấu và đánh giá cảm quan. Kết quả cho thấy, thịt ếch được tẩm ướp với 7% muối, 5% đường, 2,5% bột ngọt và hỗn hợp thì là với tỷ lệ 1: 1 (thì là: ếch) cho sản phẩm đạt chất lượng tốt nhất về chất lượng và cảm quan. Cụ thể, màu sắc của sản phẩm đạt giá trị L*, a*, b* lần lượt là 46,66; 4,94 và 16,32; hao hụt sau nấu là 40,58% và cấu trúc là 3,48 N. Bên cạnh đó, các chỉ tiêu cảm quan về trạng thái, màu sắc, mùi, vị, cấu trúc, và yêu thích chung lần lượt đạt điểm đánh giá cao là 7,52; 7,94; 7,46; 7,40; 7,52 và 7,64/9,00. Nghiên cứu bước đầu cho thấy, thì là là một nguyên liệu tiềm năng góp phần vào việc tăng giá trị cảm quan của sản phẩm ếch tẩm gia vị cũng như có thể bổ sung vào các sản phẩm tương tự.

    DOI: https://doi.org/10.71254/n8s21n74
  • NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC BỘT VÀ MÔ HÌNH ĐỘNG HỌC SẤY BỌT XỐP TẢO Spirulina

    Abstract : 14 PDF: 0
    Phan Thế Duy, Nguyễn Thị Kim Chi, Trần Phú Quý, Lê Nguyễn Đoan Duy
    51-57

    Nghiên cứu này nhằm xây dựng và đánh giá các mô hình động học mô tả quá trình sấy bọt xốp tảo Spirulina ở các mức nhiệt độ khác nhau (50, 60, 70, 80°C). Tảo Spirulina được xử lý tạo bọt bằng cách bổ sung CMC 0,75%, đánh bọt 3 phút, lớp bọt dày 4 mm và tiến hành sấy trong khoảng 3,5 - 5 giờ tùy nhiệt độ, các kết quả trên đã được kiểm tra bằng mô hình tối ưu hóa. Ba mô hình toán học gồm Lewis, Page và Henderson & Pabis được sử dụng để mô phỏng quá trình giảm ẩm. Các chỉ số thống kê (, χ², RMSE) được dùng để đánh giá mức độ phù hợp giữa dữ liệu thực nghiệm và mô hình dự đoán. Kết quả cho thấy, mô hình Page là mô hình mô tả chính xác nhất động học sấy bọt xốp tảo Spirulina, với đạt từ 0,9976 - 0,9994, trong khi RMSEχ² đều ở mức rất thấp. Điều này cho thấy, quá trình thoát ẩm trong cấu trúc bọt xốp phức tạp không tuân theo quy luật hàm mũ đơn giản mà được phản ánh chính xác hơn bởi dạng phi tuyến của mô hình Page. Phân tích SEM, FT-IR và XRD cho thấy, nhiệt độ sấy ảnh hưởng đáng kể đến cấu trúc và đặc tính hóa lý của bột. Ở 70°C, mẫu bột có cấu trúc xốp ổn định, khả năng hòa tan tốt, ít biến tính protein và vẫn duy trì các đặc trưng hóa học cơ bản. Kết quả cho thấy, ở điều kiện sấy phù hợp, bột tảo có cấu trúc tơi xốp, ít bị co rút, từ đó cải thiện khả năng tái hòa tan so với các điều kiện sấy nhiệt độ cao hoặc thời gian kéo dài.

    DOI: https://doi.org/10.71254/yt930w17
  • PHÂN LẬP VÀ TUYỂN CHỌN VI KHUẨN CÓ KHẢ NĂNG PHÂN HỦY PROTEIN TỪ BỂ TẬP KẾT NƯỚC THẢI CỦA NHÀ MÁY CHẾ BIẾN THỦY SẢN KHU CÔNG NGHIỆP TRÀ NÓC, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

    Abstract : 36 PDF: 0
    Đỗ Thị Xuân, Dương Văn Thành Đô, Đặng Kim Thảo, Nguyễn Thị Bạch Kim, Phạm Thị Hải Nghi, Văn Phạm Trọng Tính, Nguyễn Võ Châu Ngân
    58-68

    Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu phân lập và tuyển chọn vi khuẩn có khả năng phân hủy protein (VK-Pro) từ các bể tập kết nước thải của nhà máy chế biến thủy sản tại Khu Công nghiệp Trà Nóc, thành phố Cần Thơ. Các chủng VK-Pro sau phân lập được khảo sát định tính và định lượng khả năng sinh enzyme protease, đánh giá khả năng phân hủy cá và thịt heo vụn của các chủng VK-Pro có chỉ số phân hủy protein cao được tuyển chọn và định danh các chủng VK-Pro có hiệu quả cao trong phân hủy cá và thịt vụn. Kết quả, đã phân lập được 40 chủng VK-Pro và tuyển chọn được 20 chủng VK-Pro có chỉ số phân hủy protein cao. Bốn trong 20 chủng VK-Pro có khả năng phân hủy tyrosin cao nhất đến giai đoạn 96 giờ ủ với hàm lượng enzyme protease đạt từ 905,2 ± 25,3 đến 4312,8 ± 41,6 U/mL. Ở mật độ nguồn chủng là 108 CFU/gkk, chủng vi khuẩn ký hiệu SR3 có tỉ lệ phân hủy cá vụn (82,0 ± 0,3%%) và thịt vụn (66,2 ± 0,54%) đạt cao nhất và chủng HVD7 có tỉ lệ phân hủy cá vụn (75,0 ± 0,52%%) và thịt vụn (65,2 ± 0,36%) cao thứ hai so với các chủng đơn và sự phối trộn của 4 chủng VK-Pro còn lại. Kết quả định danh xác định chủng SR3 và HVD7 lần lượt có độ tương đồng 99,04% và 100% với vi khuẩn Pseudomonas sp. SR3 và Priestia  sp. HVD7 dựa vào trình tự gen 16S rRNA. Hai chủng này có tiềm năng trong xử lý phụ phẩm có nguồn gốc protein từ cá và thịt heo vụn.

    DOI: https://doi.org/10.71254/qk0gwb13
  • ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ VIỄN THÁM VÀ GIS NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỘNG LỚP PHỦ THỰC VẬT PHỤC VỤ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BỀN VỮNG CHO KHU VỰC THỦY ĐIỆN BẢN VẼ, TỈNH NGHỆ AN TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

    Abstract : 33 PDF: 0
    Phạm Thị Hà, Nguyễn Văn Viên, Nguyễn Văn Khánh, Lê Thị Linh Thương, Nguyễn Quang Thi
    69-77

    Nghiên cứu này ứng dụng công nghệ viễn thám (RS) và Hệ thống thông tin địa lý (GIS) để đánh giá biến động lớp phủ thực vật tại khu vực thủy điện Bản Vẽ, tỉnh Nghệ An. Dữ liệu sử dụng gồm ảnh SPOT 5 và Sentinel-2 với độ phân giải 10 m. Kết quả phân loại lớp phủ thực vật gồm 3 nhóm: Đất khác, rừng trung bình và rừng giàu, với độ chính xác tổng thể > 83% và hệ số Kappa > 0,7. Trong 20 năm, diện tích rừng giàu giảm từ 893,96 km² xuống 710,99 km² (~19,4%), trong khi rừng trung bình tăng từ 38,03 km² lên 179,86 km², chủ yếu do suy giảm chất lượng rừng giàu. Diện tích đất khác tăng từ 11,33 km² lên 52,47 km², phản ánh tác động của hoạt động nhân sinh, bao gồm: Xây dựng và vận hành thủy điện. Phân tích biến động không gian cho thấy các thay đổi mạnh tập trung quanh lòng hồ và các khu vực khai thác rừng. Nghiên cứu đề xuất các giải pháp quản lý bền vững, bao gồm: Bảo vệ và phục hồi rừng giàu, trồng rừng bản địa, áp dụng quản lý rừng cộng đồng, hạn chế mở rộng đất sản xuất vào rừng, phát triển sinh kế bền vững và thích ứng biến đổi khí hậu thông qua trồng rừng phòng hộ và hệ thống cảnh báo thiên tai. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học để lập kế hoạch bảo tồn rừng, quản lý tài nguyên đầu nguồn và giảm thiểu rủi ro thiên tai trong bối cảnh biến đổi khí hậu.

    DOI: https://doi.org/10.71254/03w4rj05
  • NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM TÀI NGUYÊN ĐẤT KHU VỰC PHÍA ĐÔNG DÃY TAM ĐẢO, TỈNH THÁI NGUYÊN

    Abstract : 28 PDF: 0
    Ngô Thị Hồng Gấm, Lê Văn Thơ, Trương Thành Nam, Nguyễn Lê Duy
    78-87

    Nghiên cứu này nhằm đánh giá đặc điểm tài nguyên đất khu vực phía Đông dãy Tam Đảo, tỉnh Thái Nguyên thông qua việc xác định một số tính chất lý - hóa học các nhóm đất chủ yếu, phục vụ quy hoạch sử dụng đất, quản lý chất lượng đất. Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho công tác quy hoạch và sử dụng đất theo hướng bền vững. Phương pháp nghiên cứu bao gồm: Điều tra thực địa, thu thập và phân tích mẫu đất, kết hợp với ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS). Tổng số 322 mẫu đất đại diện cho các dạng địa hình và điều kiện sinh thái khác nhau trong khu vực. Các chỉ tiêu phân tích đất theo TCVN 9487:2012. Dữ liệu không gian được xử lý và xây dựng bản đồ đất bằng phần mềm ArcGIS. Kết quả cho thấy, khu vực nghiên cứu có 5 nhóm đất chính với sự khác biệt rõ rệt về diện tích, phân bố và đặc tính. Nhóm đất đỏ vàng chiếm diện tích lớn nhất (23.978,87 ha), phân bố chủ yếu ở địa hình có độ dốc từ 8 - 15° và độ cao 100 - 500 m. Nhóm đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ có diện tích 3.422,96 ha, phân bố ở độ dốc 3 - 8°. Nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi có diện tích 1.964,02 ha, phân bố ở khu vực có độ dốc lớn. Nhóm đất xám và bạc màu (1.579,42 ha) nghèo dinh dưỡng, phân bố ở độ cao trên 100 m. Nhóm đất phù sa có diện tích nhỏ nhất (895,57 ha), phân bố ở địa hình thấp, đất tơi xốp và thoát nước tốt. Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học đề xuất quy hoạch sử dụng đất, quản lý chất lượng đất và bố trí cơ cấu cây trồng phù hợp với điều kiện tự nhiên của khu vực.

    DOI: https://doi.org/10.71254/s8kjnq09
  • MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI CỦA HAI LOÀI ĐINH NGUY CẤP, QUÝ HIẾM TẠI KHU DỰ TRỮ THIÊN NHIÊN THẦN SA - PHƯỢNG HOÀNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

    Abstract : 14 PDF: 0
    Lê Văn Phúc, Nguyễn Thị Thoa, Lê Sĩ Hồng, Nguyễn Văn Tuyên, Ninh Viết Sơn
    88-96

    Kết quả điều tra trên 72 ô tiêu chuẩn ở địa bàn 8 xã, thị trấn với diện tích mỗi ô tiêu chuẩn là 500 m2, cho thấy: thành phần loài cây gỗ xuất hiện tại các địa điểm biến động từ 53 - 79 loài, thành phần loài cây tái sinh, biến động từ 61 - 114 loài. Nhóm loài cây ưu thế tham gia công thức tổ thành tầng cây gỗ từ 3 - 6 loài và tầng cây tái sinh có từ 2 - 6 loài. Mật độ trung bình tầng cây gỗ từ 420 - 551 cây/ha, trung bình là 474 cây/ha, mật độ loài Đinh từ 22 - 49 cây/ha. Mật độ tầng cây tái sinh trung bình 5495 cây/ha, mật độ loài Đinh tái sinh từ 54 - 178 cây/ha, trung bình là 93 cây/ha. Tỷ lệ cây tái sinh triển vọng của loài Đinh đạt 49,2 - 98,6 %, trung bình 69,9%. Cây tái sinh chủ yếu có nguồn gốc từ hạt chiếm tỷ lệ trung bình là 76,9%, mật độ cây Đinh tái sinh cao nhất ở cấp chiều cao > 1,5 - 2,0 m là 28 cây/ha. Cây tái sinh có phân bố ngẫu nhiên trên bề mặt đất rừng.

    DOI: https://doi.org/10.71254/tkyaqk72