
Số 21 (2024)
Bài viết
-
Đặc điểm nông sinh học của một số nguồn gen cà chua vụ thu đông tại Ngân hàng gen cây trồng Quốc gia
Nghiên cứu trong vụ thu đông năm 2023 tại xã An Khánh, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội với 50 mẫu giống cà chua hiện đang được lưu giữ tại ngân hàng gen cây trồng Quốc gia. Kết quả cho thấy, sự đa dạng về mặt hình thái quả của các mẫu giống cà chua. Các đặc điểm về hình dạng quả, màu quả chín, màu thịt quả, độ cứng của quả có biểu hiện các trạng thái khác nhau. Thời gian sinh trưởng các giai đoạn từ khi gieo hạt đến khi thu hoạch quả lần cuối cũng có sự biến động đáng kể, đặc biệt là thời gian thu quả. Số quả/cây do chịu ảnh hưởng lớn của mối tương tác GxMT nên hệ số biến động cao nhất. Do vậy, năng suất cũng có sự biến động lớn. Điều này cho thấy, sự đa dạng giữa các mẫu giống trong tập đoàn. Từ kết quả đánh giá 50 mẫu giống cà chua, đã chọn lọc ra được 5 mẫu giống: SĐK 5684, SĐK 7526, SĐK 15424, SĐK 15430, SĐK 7672. Đây là cơ sở để tuyển chọn giống ưu tú có tiềm năng năng suất giới thiệu ra sản xuất.
-
Nghiên cứu đặc điểm hình thái và vi phẫu của cây Trọng lâu cao bằng (Paris caobangensis) thu thập ở Việt Nam
Cây Trọng lâu cao bằng (Paris caobangensis Y. H. Ji, H. Li, Z. K. Zhou) lần đầu tiên được ghi nhận phân bố tại tỉnh Cao Bằng. Cũng như các loài khác trong chi Paris, thân, rễ cây Trọng lâu cao bằng đang được khai thác để làm dược liệu và là một vị thuốc có giá trị trong y học cổ truyền. Tuy nhiên, cho đến nay ở Việt Nam vẫn chưa có nghiên cứu chi tiết về đặc điểm hình thái và vi phẫu của cây Trọng lâu cao bằng. Kết quả nghiên cứu toàn diện về đặc điểm hình thái ngoài, vi phẫu và bột dược liệu của cây Trọng lâu cao bằng (thu thập ở các tỉnh Cao Bằng, Lào Cai, Lai Châu) để phục vụ công tác định danh, xác định tính đúng của dược liệu từ các loài cùng chi. Cây Trọng lâu cao bằng phân biệt với 2 loài (Paris chinensis và Paris yunnanensis) đã được quy định cho dược liệu Trọng lâu trong Dược điển Trung Quốc (2020) ở lá hình trứng, gốc lá gần bằng hoặc hình tim; cánh hoa rộng 1 – 2 mm, ngắn hơn 2/3 lá đài; bầu 4 - 5 cạnh bằng; hạt tinh bột hình elip đến gần cầu, kích thước 5 - 11 x 7 - 17 µm, tinh thể canxi oxalat dài khoảng 100 - 280 x 2 - 4 µm.
-
Ảnh hưởng của phân hữu cơ sản xuất từ phụ phẩm ngọn lá mía đến sinh trưởng và năng suất mía tại vùng mía nguyên liệu huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa
Thí nghiệm được triển khai nhằm đánh giá ảnh hưởng của phân hữu cơ sản xuất từ phụ phẩm ngọn lá mía đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng mía nguyên liệu trong điều kiện canh tác có tưới và không tưới tại huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá. Thí nghiệm gồm 7 công thức; công thức đối chứng 1: Bón phân bón (300 kg N + 150 kg P2O5 + 300 kg K2O/ha); công thức đối chứng 2: Phân bón nền + phân chuồng (10 tấn/ha) và 5 công thức thử nghiệm: phân bón nền + 5 mức bón phân hữu cơ sản xuất từ phụ phẩm ngọn lá mía (3,0; 6,0; 9,0; 12,0; 15,0 tấn/ha). Kết quả nghiên cứu cho thấy, phân hữu cơ sản xuất từ phụ phẩm ngọn lá mía có tác động rõ rệt đến khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng mía. Trên cơ sở thiết lập tương quan giữa lượng phân bón hữu cơ với năng suất mía trong điều kiện có tưới và không tưới, lượng bón phân hữu cơ cho năng suất cao nhất được xác định ở mức 12,50 tấn/ha (trong điều kiện có tưới) và 12,47 tấn/ha (trong điều kiện không tưới); lượng bón tối ưu về kinh tế được xác định ở mức 11,10 tấn/ha (trong điều kiện có tưới) và 11,54 tấn/ha (trong điều kiện không tưới).
-
Ảnh hưởng nồng độ sucrose và glycerol đến chất lượng tinh đông lạnh của thỏ đen địa phương
Nhằm bảo tồn nguồn gen của thỏ đen bản địa vùng đồng bằng sông Cửu Long, bảo quản lạnh tinh trùng thỏ đen bằng phương pháp thủy tinh hóa đã được nghiên cứu. Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của nồng độ sucrose và glycerol trong môi trường bảo quản đến chất lượng tinh trùng sau thủy tinh hóa, kết quả cho thấy, nồng độ sucrose và glycerol tác động đáng kể đến các chỉ số như: Tỷ lệ toàn vẹn acrosome, tỷ lệ di động tổng số và tỷ lệ sống của tinh trùng. Nồng độ sucrose 0,25M và glycerol 4% mang lại kết quả tốt nhất về chất lượng tinh trùng. Nghiên cứu này góp phần bảo tồn nguồn gen địa phương và phục hồi quần thể trong tương lai.
-
Nghiên cứu tính chất hóa lý và khả năng chống oxy hóa của mật ong xuyến chi, hoa trắng và cà phê có nguồn gốc từ Việt Nam
Các mẫu mật ong đơn hoa gồm: Mật ong xuyến chi (Bidens pilosa L.), hoa trắng (Schefflera heptaphylla L.) và cà phê (Coffea robusta L.) từ Việt Nam đã được chọn để phân tích về các tính chất hoá lý và khả năng chống oxy hoá. Đây là nghiên cứu đầu tiên về các hợp chất hoạt tính sinh học và khả năng chống oxy hóa của mật ong xuyến chi và hoa trắng. Các mẫu được phân tích các tính chất hóa lý như: Tổng hàm lượng phenolic, tổng hàm lượng flavonoid và hàm lượng carotenoid. Trong 3 loại mật ong, hàm lượng hydroxymethylfurfural (HMF) dao động từ 7,67 - 36,13 mg/kg và hàm lượng axit tự do dao động từ 20,90 - 26,77 meq/kg. Hơn nữa, 3 loại mật ong này có hàm lượng cao các chất có hoạt tính sinh học như: Phenolic tổng trong khoảng từ 34,05 - 67,58 mg GAE/100 g, flavonoid tổng trong khoảng từ 3,00 - 7,07 mg QE/100 g và carotenoid trong khoảng từ 1,64 - 14,47 mg β-carotene/kg. Ngoài ra, khả năng chống oxy hoá của 3 loại mật ong này cũng được ghi nhận với IC50 dao động từ 38mg/mL. Kết quả của nghiên cứu nhấn mạnh tác dụng tăng cường sức khỏe của 3 loại mật ong.
-
Ảnh hưởng của liều lượng hormone GnRHa và DHA Selco bổ sung vào thức ăn đến kích thích quá trình thành thục sớm ở cá song da báo (Plectropomus leopardus Laepède, 1802)
Nghiên cứu này được thực hiện với 2 thí nghiệm nhằm mục đích đánh giá hiệu quả của việc áp dụng 2 phương pháp kích thích thúc đẩy quá trình thành thục sớm ở cá song da báo (Plectropomus leopardus) bố mẹ gồm cấy hormone GnRHa và bổ sung DHA Selco vào thức ăn ngay sau khi kết thúc mùa vụ sinh sản. Thí nghiệm 1 được bố trí với 4 nghiệm thức tương ứng với 3 liều lượng hormone GnRHa (25, 50, 70 µg/kg) và nghiệm thức đối chứng (không có hormone). Thí nghiệm 2 được bố trí với 1 nghiệm thức thí nghiệm (có bổ sung DHA Selco vào thức ăn) và một nghiệm thức đối chứng (không bổ sung DHA Selco). Các thí nghiệm được bố trí bằng phương pháp ngẫu nhiên hoàn toàn (CRD). Kết quả cho thấy, kích thích cá song da báo bằng phương pháp cấy hormone GnRHa đã thúc đẩy thời gian thành thục sớm hơn bình thường, với tỷ lệ thành thục >40%. Kết quả cũng chỉ ra rằng, kích thích ở liều 25 hoặc 50 µg/kg đã giảm tỷ lệ dị hình so với ở liều 75 µg/kg. Ngược lại, tỷ lệ thành thục của cá bố mẹ ở lô đối chứng thấp (13,3%), nhưng không tham gia sinh sản. Ở thí nghiệm 2, bổ sung axit béo không no DHA vào thức ăn kết hợp kích thích bằng hormone GnRHa ở liều 50 µg/kg đã thúc đẩy thời gian thành thục sớm lên đến 70%, đạt tỷ lệ đẻ 87,5% và nâng cao tỷ lệ sống của ấu trùng 5 ngày tuổi.
-
Đặc điểm kỹ thuật, kinh tế, xã hội và môi trường của mô hình lúa - tôm và chuyên tôm tại huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng
Nghiên cứu khảo sát 30 hộ canh tác mô hình lúa - tôm và 30 hộ canh tác chuyên tôm tại xã Hòa Tú 1 và Ngọc Đông, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng được thực hiện từ tháng 3 đến tháng 5/2024 nhằm đánh giá đặc điểm kỹ thuật, kinh tế, xã hội và môi trường của hai mô hình để đề xuất giải pháp hướng đến phát triển nông nghiệp bền vững. Lịch gieo sạ lúa trên mô hình lúa - tôm bắt đầu tháng 8 và thu hoạch vào tháng 12 âm lịch, mật độ gieo sạ trung bình là 16,30 kg/1.000 m2 và năng suất đạt 900 kg/1.000 m2. Đến cuối tháng 2 đầu tháng 3 âm lịch năm sau nông dân tiến hành thả tôm với mật độ trung bình là 25.800 và 35.000 con/1.000 m2 lần lượt trên mô hình lúa - tôm và chuyên tôm. Năng suất tôm ở mô hình chuyên tôm là 649,3 và 609,30 kg/1.000 m2, tương ứng vụ 1 và 2, cao hơn mô hình lúa - tôm là 558,0 kg/1.000 m2. Mô hình lúa - tôm sử dụng ít hóa chất hơn so với mô hình chuyên tôm, từ đó giúp làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường, đặc biệt là với môi trường nước. Cụ thể, lượng vôi khoáng và men sử dụng trên mô hình lúa - tôm tương ứng là 303; 36 và 0 kg/1.000 m2/vụ, thấp hơn mô hình chuyên tôm là 312; 58 và 1,64 kg/1.000 m2/vụ. Tuy lợi nhuận từ mô hình chuyên tôm (44 triệu đồng/1.000 m2/năm) cao hơn so với lúa - tôm (38 triệu đồng/1.000 m2/năm), nhưng chi phí đầu tư của mô hình chuyên tôm khá cao (69 triệu đồng/1.000 m2/năm), trong khi mô hình lúa - tôm đầu tư thấp hơn (28 triệu đồng/1.000 m2/năm), dẫn đến tỷ suất lợi nhuận của mô hình chuyên tôm là 0,77 - 0,82, thấp hơn mô hình lúa – tôm là 3,05 và 1,67. Ngoài ra, mô hình chuyên tôm còn gặp phải rủi ro thời tiết thất thường, ô nhiễm và suy thoái môi trường nước, giá cả không ổn định, dịch bệnh, mất mùa. Việc thay đổi mô hình sản xuất phải phù hợp với quy hoạch từng vùng hướng đến phát triển bền vững ổn định về kinh tế, giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước và góp phần nâng cao chất lượng đời sống. Để đẩy mạnh phát triển mô hình lúa - tôm bền vững, cần kết hợp với doanh nghiệp để hỗ trợ giống tốt và giá cả, đầu ra ổn định, giúp nâng cao thu nhập.
-
Nghiên cứu đánh giá hiện trạng quần thể Dugong tại Vườn Quốc gia Phú Quốc và Vườn Quốc gia Côn Đảo
Nhằm xây dựng quy trình cứu hộ các loài thú biển ở Việt Nam, nghiên cứu đã tiến hành đánh giá hiện trạng quần thể loài Dugong, một loài thú bị đe dọa tuyệt chủng ở bậc sẽ nguy cấp (VU) ở cấp độ toàn cầu, ở vùng biển thuộc Vườn Quốc gia (VQG) Côn Đảo và VQG Phú Quốc trong các năm 2021 và 2022. Kết quả nghiên cứu về Dugong bằng phương pháp quan sát trực tiếp trên cano và phương pháp lặn có khí tài SCUBA cho thấy vùng biển Phú Quốc và Côn Đảo là môi trường sống quan trọng của loài Dugong. Số liệu thống kê cho thấy, tại VQG Côn Đảo ghi nhận Dugong xuất hiện 74 lần trong 23 năm (trung bình 3,22 lần/năm), có 9 cá thể Dugong chết được thống kê, chúng hoạt động quanh năm và xuất hiện nhiều từ tháng 4 đến tháng 8, tập trung ở vịnh Côn Sơn và bãi Six Senses. Tại VQG Phú Quốc, ghi nhận Dugong xuất hiện 42 lần trong 20 năm (trung bình 2,00 lần/năm), không ghi nhận chết tự nhiên, mùa hoạt động từ tháng 4 đến tháng 12 tại xã Hàm Ninh và bãi Ông Đội. Đây là kết quả nghiên cứu đầy đủ nhất và có ý nghĩa quan trọng làm cơ sở đề xuất các nghiên cứu tiếp theo phục vụ công tác bảo tồn loài Dugong tại hai đảo tiền tiêu của Tổ quốc.
-
Nghiên cứu đánh giá thực trạng và giải pháp phát triển sinh kế gắn với bảo tồn đa dạng sinh học cho người dân vùng đệm Vườn Quốc gia Bạch Mã
Nghiên cứu này đánh giá thực trạng sinh kế của người dân vùng đệm Vườn Quốc gia (VQG) Bạch Mã thông qua điều tra thu thập số liệu của hộ gia đình tại xã Thượng Nhật và Hương Lộc, huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế. Kết quả cho thấy, có sự khác nhau trong tiếp cận và sử dụng các nguồn vốn sinh kế giữa xã Thượng Nhật và Hương Lộc. Nguồn thu nhập chính của các hộ gia đình tại xã Thượng Nhật và Hương Lộc chủ yếu từ các hoạt động sản xuất nông - lâm nghiệp. Đời sống người dân của 2 xã ngày một cải thiện và tương đối ổn định, tuy nhiên, các nguồn vốn sinh kế của một số hộ gia đình tại 2 xã vẫn còn hạn chế, các sản phẩm lâm sản ngoài gỗ vẫn đóng vai trò nhất định trong đời sống người dân. Thông qua mô hình hồi quy đa biến, đã xác định được các nhân tố chính ảnh hưởng đến tổng thu nhập hộ gia đình tại khu vực nghiên cứu theo thứ tự ưu tiên là: (1) Thu nhập từ làm thuê, (2) Diện tích đất sản xuất, (3) Thu nhập từ buôn bán, (4) Dân tộc, (5) Trình độ văn hóa. Trên cơ sở phân tích đặc điểm các nguồn vốn sinh kế và các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập hộ, nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp góp phần phát triển nguồn vốn sinh kế, nâng cao thu nhập gắn với bảo tồn đa dạng sinh học cho người dân 2 xã vùng đệm của VQG Bạch Mã.
-
Nghiên cứu chuỗi thị trường sắn ở tỉnh Đắk Lắk
Nghiên cứu được tiến hành nhằm tìm hiểu chuỗi thị trường sắn ở vùng sắn nguyên liệu tỉnh Đắk Lắk và các rào cản trong tiêu thụ sắn của nông hộ. Nghiên cứu được thực hiện thông qua phỏng vấn sâu 12 người am hiểu về chuỗi thị trường sắn và khảo sát 364 nông hộ trồng sắn tại 2 huyện Ea Kar và Krông Bông. Kết quả nghiên cứu cho thấy, chuỗi thị trường sắn ở vùng nguyên liệu sắn tỉnh Đắk Lắk khá đa dạng với 4 kênh với các tác nhân chính gồm: Nông hộ, tổ hợp tác, thương lái nhỏ, thương lái lớn, nhà máy chế biến tinh bột sắn, cơ sở thu mua chế biến sắn lát, nhà máy chế biến ethanol, công ty chế biến thức ăn chăn nuôi và người tiêu dùng thị trường xuất khẩu hoặc nội địa. Trong đó chuỗi thị trường từ nông hộ đến thương lái nhỏ, thương lái lớn, đến nhà máy chế biến tinh bột sắn và xuất khẩu là chuỗi chính chiếm đến 78% sản lượng sắn của địa phương. Đa dạng chuỗi thị trường, đa dạng tác nhân trong chuỗi và cơ hội rải vụ là những thuận lợi cho thị trường tiêu thụ sắn ở tỉnh Đắk Lắk. Tuy nhiên, việc tiêu thụ sắn ở địa bàn nghiên cứu còn một số rào cản cần phải giải quyết để nông hộ chú trọng đầu tư đảm bảo vùng nguyên liệu sắn phát triển bền vững.







