Số 23 (2025)
Bài viết
-
KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ GIỐNG DƯA CHUỘT BABY TRỒNG TRONG NHÀ MÀNG TẠI TỈNH NINH BÌNH
Abstract : 133 PDF: 0Nghiên cứu nhằm đánh giá đặc điểm sinh trưởng, phát triển và năng suất của 6 giống dưa chuột baby gồm: VS116, FS 175, VA.031, Kami 98, Kichi 207, PD054 trồng trong nhà màng tại tỉnh Ninh Bình. Thí nghiệm bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên (RCBD) với 3 lần nhắc lại trong vụ đông xuân năm 2023 và 2024. Kết quả cho thấy, giống dưa Kichi 207 có thời gian từ trồng đến thu hoạch lần cuối dài nhất là 110 ngày, có đặc điểm sinh trưởng vượt trội như: Chiều dài và chiều rộng lá lớn nhất lần lượt 23,6 cm và 29,8 cm, chiều dài thân chính đạt 220,5 cm. Các yếu tố cấu thành năng suất đạt cao nhất về chiều dài quả là 13,2 cm, đường kính quả là 2,2 cm, khối lượng quả là 91,2 g và năng suất đạt 66,0 tấn/ha cao nhất so với các giống khác. Vì vậy, giống dưa chuột Kichi 207 có khả năng sinh trưởng tốt và năng suất vượt trội hơn so với các giống trong nghiên cứu, nên khuyến cáo sử dụng giống Kichi 207 trong sản xuất tại tỉnh Ninh Bình và các vùng có điều kiện sản xuất tương tự.
-
KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA THỜI VỤ TRỒNG ĐẾN SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG DƯỢC LIỆU CÂY XÀ SÀNG (Cnidium monnieri L.) TẠI PHƯỜNG SA PA, TỈNH LÀO CAI
Abstract : 185 PDF: 0Khảo sát ảnh hưởng của thời vụ trồng đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng dược liệu cây Xà sàng (Cnidium monnieri L.) tại phường Sa Pa, tỉnh Lào Cai. Thí nghiệm gồm 6 công thức: CT 1: Trồng ngày 15/9; CT 2: Gieo ngày 15/10; CT 3: Gieo ngày 15/2; CT 4: Gieo ngày 15/3; CT 5: Gieo ngày 15/6; CT 6: Gieo ngày 15/7, các công thức được bố trí theo phương pháp khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCB) 3 lần nhắc lại mỗi lần nhắc lại 10 m2, tổng diện tích thí nghiệm là 180 m2. Kết quả nghiên cứu đã đưa ra được thời vụ gieo cho năng suất cao nhất và hàm lượng hoạt chất tốt nhất là thời vụ gieo 15/3 (CT 4) đạt các chỉ tiêu tỷ lệ nảy mầm 88%, chiều cao cây 93,9 cm, số lá/cây 16,6 lá, đường kính tán 34,7 cm, số cành/cây 7,7 cành cho năng suất dược liệu cao nhất đạt 10,4 tạ/ha và hàm lượng osthol cao nhất đạt 3,50%, vượt hơn rất nhiều so với tiêu chuẩn của Dược điển Việt Nam V hiện hành (Osthol > 1,0%). Thời vụ cho năng suất và hàm lượng osthol thấp nhất là thời vụ 15/10 (CT 2) với năng suất đạt 8,0 tạ/ha, hàm lượng osthol chỉ đạt 2,21%.
-
ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT VÀ HÀM LƯỢNG AXIT OLEANOLIC TRONG CÁC MẪU GIỐNG NGƯU TẤT (Achyranthes bidentata Blume.) TẠI XÃ THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Abstract : 142 PDF: 0Nghiên cứu được thực hiện trên 16 mẫu giống ngưu tất thu thập ở các địa phương khác nhau nhằm tuyển chọn được mẫu giống có tiềm năng về năng suất và hàm lượng hoạt chất axit oleanolic - một trong những hợp chất triterpenoid chính quyết định giá trị dược liệu. Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khảo sát tập đoàn, tuần tự không nhắc lại tại Trung tâm Nghiên cứu Nguồn gen và Giống dược liệu Quốc gia, Viện Dược liệu. Kết quả đánh giá ban đầu của các mẫu giống ngưu tất thu thập cho thấy, năng suất dược liệu đạt 2,11 - 4,04 tấn/ha, hàm lượng hoạt chất axit oleanolic đạt từ 1,84 - 2,74%, năng suất hoạt chất đạt 42,29 - 99,38 kg/ha. Mẫu giống ngưu tất NT4 thu thập tại xã Thanh Trì, thành phố Hà Nội đạt kết quả tốt nhất (năng suất dược liệu đạt 4,04 tấn/ha, năng suất hoạt chất axit oleanolic đạt 99,38 (kg/ha). Mẫu giống NT4 được đánh giá là mẫu giống triển vọng, phù hợp để tiếp tục nghiên cứu chọn lọc trong giai đoạn tiếp theo nhằm phục vụ mục tiêu phát triển giống ngưu tất có năng suất cao và chất lượng dược liệu tốt.
-
NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG BỘT GẠO THAY THẾ MỘT PHẦN BỘT MÌ TRONG CHẾ BIẾN BÁNH MÌ SANDWICH
Abstract : 140 PDF: 0Gạo gãy (hay còn gọi là tấm) là một phụ phẩm phổ biến trong quá trình xay xát lúa. Gạo gãy là nguồn phụ phẩm từ quá trình xay xát có giá trị dinh dưỡng cao và ít được chú ý trong quá trình chế biến. Nghiên cứu này nhằm tận dụng nguồn phụ phẩm và phát triển công thức chế biến bánh mì sandwich từ việc thay thế một phần bột mì bằng bột gạo (từ gạo gãy) trong phạm vi từ 5 - 25% (so với tổng khối lượng bột mì được sử dụng), với các mẫu được mã hóa từ G1 - G5 và mẫu đối chứng G0 (100% bột mì). Trên cơ sở phân tích các đặc điểm vật lý cùng với đánh giá cảm quan, kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ bột gạo 15% (mẫu G3) được sử dụng thay thế bột mì cho sản phẩm có giá trị cảm quan cao, màu sắc đẹp và được người tiêu dùng ưa chuộng. Sự thay đổi tính chất vật lý của sản phẩm theo chiều hướng tốt hơn cũng đã được ghi nhận, bánh mì sandwich có độ cứng vừa phải, với độ cứng đo được của ruột bánh và vỏ bánh tương ứng là 150,7 g lực và 602,0 g lực, độ nở và thể tích riêng của bánh mì khá tốt (291,3% và 4,1 cm3/g). Bên cạnh đó, hàm lượng carbohydrate và tro của mẫu G3 (49,68% và 3,4%) ghi nhận khá cao hơn so với mẫu đối chứng G0 (47,87% và 1,69%). Hàm lượng chất xơ của mẫu G3 được chọn (1,40%) tương đương với mẫu đối chứng.
-
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG BỘ TIÊU CHÍ ĐIỂM CẢM QUAN THEO PHƯƠNG PHÁP CHỈ SỐ CHẤT LƯỢNG QIM VÀ PHÂN TÍCH MÔ TẢ ĐỊNH LƯỢNG QDA ĐỂ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CÁ CHIM VÂY VÀNG (Trachinotus spp.) BẢO QUẢN LẠNH
Abstract : 170 PDF: 0Nghiên cứu nhằm xây dựng bộ tiêu chí cảm quan (sau đây gọi là bảng điểm cảm quan) theo phương pháp chỉ số chất lượng (quality index method, QIM) và phân tích mô tả định lượng (quantitative descriptive analysis, QDA) cho cá chim vây vàng (Trachinotus spp.) bảo quản lạnh. Phương pháp cảm quan kiểm chứng là phương pháp sử dụng bảng điểm Torry cho cá béo. Kết quả thu được bảng điểm QIM cho cá chim vây vàng nguyên con (chưa qua xử lý) bảo quản lạnh gồm 9 thuộc tính: Mùi của da, màu sắc của da, trạng thái phần da gần đuôi, nhớt trên bề mặt da, độ chắc (phần lưng), độ sáng của mắt, hình dạng của mắt, mùi của mang và màu của mang, với điểm thành phần của mỗi thuộc tính trong khoảng 0 - 1, 0 - 2 hoặc 0 - 3 và chỉ số chất lượng (quality index, QI) là 0 - 19. Bảng điểm QIM cho cá chim vây vàng nguyên con đã qua xử lý sơ bộ (cắt tiết, xả máu, bỏ mang và nội tạng) bảo quản siêu lạnh gồm 9 thuộc tính: Mùi của da, nhớt trên bề mặt da, màu sắc của da, độ chắc (phần lưng), độ sáng của mắt, hình dạng của mắt, mùi của khoang bụng, màu của khoang bụng, màu sắc của hốc mang và QI dao động trong khoảng 0 - 17. Bảng điểm QIM cho phi lê cá chim vây vàng bảo quản lạnh gồm 7 thuộc tính: Mùi mặt da, mùi mặt phi lê, màu sắc mặt da, màu sắc mặt phi lê, nhớt mặt da, nhớt mặt phi lê, độ đàn hồi và QI tối đa là 13 điểm. Điểm QIM 0 đại diện cho cá tươi, điểm tăng lên khi chất lượng cá giảm dần theo thời gian bảo quản. Bảng điểm QDA cho mẫu thịt cá chim vây vàng hấp gồm 25 thuộc tính chia thành các nhóm mùi (9), bề ngoài (2), cấu trúc (8) và vị (6), trong đó có nhóm các thuộc tính tốt đặc trưng cho cá tươi như: Mùi thịt luộc, cấu trúc dai và nhóm các thuộc tính xấu đặc trưng cho cá chất lượng kém/đã bảo quản lâu ngày như: Mùi ôi khét, bề mặt có màu sậm, cấu trúc khô xác và vị hỏng/thối.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA SỐC NHIỆT ĐỘ VÀ NITRITE CAO ĐẾN KHẢ NĂNG GÂY BỆNH CỦA VI KHUẨN LÂY NHIỄM TRÊN LƯƠN ĐỒNG (Monopterus albus Zuiew, 1793)
Abstract : 166 PDF: 0Nghiên cứu thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của yếu tố môi trường đến khả năng gây bệnh của vi khuẩn Aeromonas veronii, Edwardsiella tarda và Flavobacterium columnare trên lươn giống (M. albus). Đầu tiên, thực hiện thăm dò ngưỡng chịu đựng của lươn giống ở mức nhiệt 24, 26, 28, 30, 32 và 34oC và lựa chọn hai ngưỡng gây sốc cao (28 - 32oC) và thấp (24 - 28oC). Sau đó, bố trí 14 nghiệm thức bao gồm: Cảm nhiễm vi khuẩn đơn (Av, Et, Fc), sốc hai ngưỡng nhiệt độ khi cảm nhiễm lươn với vi khuẩn (Lt-Av, Ht-Av, Lt-Et, Ht-Et, Lt-Fc, Ht-Fc), sốc nitrite lươn khi có và không có vi khuẩn (NO2-Av, NO2-Et, NO2-Fc, NO2) và đối chứng. Kết quả ghi nhận chỉ có hai nghiệm thức Ht-Av (20%), Lt-Fc (35%) và các nghiệm thức sốc nitrite (15 - 100%) có sự hao hụt sau khi bố trí. Dấu hiệu bệnh lý biểu hiện giữa nghiệm thức sốc nhiệt và nitrite có sự khác biệt, nhưng không khác giữa các mẫu lươn sốc nitrite. Qua đó, cho thấy vi khuẩn A. veronii, F. columnare chỉ gây bệnh trên lươn khi sốc nhiệt độ và E. tarda góp phần làm tăng tỉ lệ chết khi lươn giống bị sốc nitrite.
-
KHẢ NĂNG XỬ LÝ NƯỚC THẢI TỪ AO NUÔI TÔM THÂM CANH BẰNG VẬT LIỆU LỌC LƯỚI ĐÁNH CÁ
Abstract : 191 PDF: 0Nghiên cứu này thử nghiệm khả năng sử dụng lưới đánh cá để xử lý nước thải ao nuôi tôm thâm canh tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei). Nghiên cứu được bố trí quy mô phòng thí nghiệm với mô hình tự chế tạo. Nghiên cứu sử dụng vật liệu làm giá thể vi sinh K3 có bố trí thổi khí và không có thổi khí (giá thể K3 có diện tích tiếp xúc > 2.900 m2/m3) và được đánh giá với vật liệu là lưới đánh cá có bố trí thổi khí và không có thổi khí (vật liệu là sợi nhựa HDPE, mắt lưới 3 x 3 cm có tỷ trọng 150 kg/m3). Nghiên cứu sử dụng mô hình xử lý có kích thước 1 đơn nguyên có thể tích là 6,4 L chứa 50% giá thể K3 và chứa loại vật liệu là lưới đánh cá 89,2% thể tích. Kết quả cho thấy, các chỉ tiêu DO, pH, độ mặn, độ kiềm, độ đục, H2S, BOD5, COD, TSS và Coliform của 4 các nghiệm thức đều đạt QCVN 02-19:2014/BNNPTNT. Ngoại trừ chỉ tiêu NH3 của 4 nghiệm thức vượt QCVN 02-19:2014/BNNPTNT. Nghiệm thức 1 (vật liệu lưới đánh cá không sục khí) sẽ được lựa chọn để áp dụng tại các điểm xử lý nước thải thực tế.
-
NGHIÊN CỨU HẤP PHỤ NITRAT CỦA CHẾ PHẨM THAN SINH HỌC ĐƯỢC SẢN XUẤT TỪ CÀNH THANH LONG (Hylocereus sp.)
Abstract : 171 PDF: 0Nghiên cứu này đánh giá hiệu quả bỏ nitrat ra khỏi nước của than sinh học (TSH) được sản xuất từ cành thanh long. TSH được sản xuất từ quá trình nhiệt phân ở 450°C trong 120 phút có hình thái bề mặt thô, xốp và không đồng nhất, phù hợp với ứng dụng hấp phụ. Khi sử dụng 3,0 g TSH có đường kính hạt khoảng 0,054 - 0,105 mm trong 50 mL dung dịch chứa 80 mg/L nitrat ở điều kiện pH 2, thời gian tiếp xúc 60 phút và nhiệt độ phòng thì khả năng hấp phụ tối đa của TSH là 1,25 g nitrat/1 g TSH với hiệu suất loại bỏ nitrat là 93,4%. Ảnh hưởng mạnh của pH dung dịch tới hiệu suất hấp phụ thể hiện thông qua việc hiệu suất giảm đáng kể khi pH dung dịch tăng, từ đó làm nổi bật vai trò của lực hút tĩnh điện giữa bề mặt TSH tích điện dương (dưới PZC 7,6) và các anion nitrat. Quá trình hấp phụ nitrat tuân theo mô hình đẳng nhiệt Langmuir (qmax = 1,437 mg/g) và động học bậc hai, chứng tỏ cơ chế chủ yếu là hấp phụ hóa học. Nghiên cứu này góp phần làm rõ tiềm năng ứng dụng của phụ phẩm nông nghiệp trong xử lý nitrat, đồng thời đề xuất hướng sử dụng TSH sau hấp phụ như phân bón chậm giải phóng, phù hợp với mô hình nông nghiệp tuần hoàn.
-
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU NƯỚC BIỂN DÂNG HỖ TRỢ QUẢN LÝ SỬ DỤNG ĐẤT VÙNG VEN BIỂN TỈNH THANH HÓA
Abstract : 212 PDF: 0Biến đổi khí hậu và nước biển dâng đang đặt ra những thách thức nghiêm trọng đối với các khu vực ven biển, đặc biệt tại các tỉnh có mật độ dân cư và hoạt động kinh tế cao như Thanh Hóa. Trong bối cảnh đó, việc xây dựng cơ sở dữ liệu về nước biển dâng là cơ sở quan trọng giúp hỗ trợ công tác quản lý, quy hoạch và sử dụng đất một cách chủ động và bền vững. Nghiên cứu này tập trung xây dựng cơ sở dữ liệu nguy cơ ngập do nước biển dâng cho vùng ven biển tỉnh Thanh Hóa trên nền tảng dữ liệu Digital Elevation Model (DEM), viễn thám và các kịch bản khí hậu Representative Concentration Pathways (RCP). Dữ liệu sử dụng đất từ ESRI (Environmental Systems Research Institute) 10 m Land Cover được tích hợp để phân tích mức độ ảnh hưởng đến từng loại hình sử dụng đất trong các mốc thời gian năm 2050, 2080, 2100. Kết quả cho thấy, nguy cơ ngập tăng rõ rệt theo thời gian và kịch bản phát thải, đặc biệt ảnh hưởng đến đất nông nghiệp, đất xây dựng và khu vực rừng ven biển. Các bản đồ nguy cơ ngập và thống kê định lượng được xây dựng sẽ là cơ sở khoa học phục vụ công tác ra quyết định trong quản lý tài nguyên đất và quy hoạch không gian ứng phó với biến đổi khí hậu.
-
TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ THỰC TRẠNG THÍCH ỨNG CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI CÁC XÃ MIỀN NÚI HUYỆN A LƯỚI, THÀNH PHỐ HUẾ
Abstract : 274 PDF: 0Biến đổi khí hậu đang là mối thách thức toàn cầu bởi những tác động của nó. Nghiên cứu này cung cấp những dữ liệu quy mô địa phương nhằm thấy được cơ chế tác động của biến đổi khí hậu đối với sinh kế người dân tộc thiểu số (DTTS) và thực trạng thích ứng của họ. Phương pháp nghiên cứu tổng hợp được sử dụng để thu thập và phân tích số liệu thứ cấp từ Đài khí tượng thủy văn, thống kê của UBND xã, dữ liệu từ phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm và số liệu từ điều tra 173 hộ tại xã A Roàng và Hồng Hạ. Một số phát hiện chính được đúc kết như sau: (1) Người DTTS các xã miền núi A Lưới, thành phố Huế có đời sống chủ yếu dựa vào hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp; (2) Các loại rủi ro thiên tai ảnh hưởng tới sinh kế người dân địa phương theo cơ chế tác động trực tiếp, gián tiếp và lâu dài; (3) Ngoài các biện pháp ứng phó tức thì, người DTTS bắt đầu có sự thay đổi chiến lược sinh kế nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu. Xu hướng thay đổi chiến lược sinh kế theo 3 nhóm gồm: Chuyển đổi mục đích sử dụng đất, chuyển đổi nghề và thay đổi phương thức canh tác; (4) Để tăng cường khả năng thích ứng của đồng bào DTTS, cần thực hiện các giải pháp dài hạn gắn với các chương trình, chính sách đang hiện hành.








