Số 20 (2022)

					Xem Số 20 (2022)
Đã Xuất bản: 31-10-2022

Bài viết

  • NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC CHÍNH CỦA NGUỒN GEN QUÝT CHIỀNG YÊN TẠI HUYỆN VÂN HỒ, TỈNH SƠN LA

    Abstract : 1 PDF: 1
    Trần Thị Huế, Lã Tuấn Anh, Dương Gia Định
    3-7

    Quýt Chiềng Yên (Citrus sp. Blanco) là nguồn gen quý có đóng góp quan trọng vào việc nâng cao đời sống của người dân địa phương tại huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La. Nghiên cứu được thực hiện tại 1 xã trồng trọng điểm của huyện Vân Hồ là xã Chiềng Yên, nguồn gen quýt Chiềng Yên có một số đặc điểm nông sinh học chính như sau: Lá đơn hình e líp; hoa 5 cánh màu trắng; xuất hiện 3 - 4 đợt lộc/năm; tỷ lệ đậu quả tương đối cao và ổn định; năng suất quả trung bình đạt 35,8 kg/cây 15 tuổi. Vỏ quả mỏng, khi chín có màu vàng cam, thịt quả màu vàng cam, ăn có vị ngọt, hàm lượng vitamin C khá cao, đạt 25,7 mg/100 g, đường tổng số 8,0%, độ Brix 10,2%.

    DOI: https://doi.org/10.71254/k154sd93
  • NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG CHỊU MẶN CỦA GIỐNG QUÝT KHÔNG HỘT GHÉP TRÊN GỐC QUÁCH (Limonia acidissima L.)

    Abstract : 1 PDF: 0
    Nguyễn Thành Nhân, Lê Văn Bé, Dương Thị Huỳnh Liên
    8-14

    Nhằm đánh giá khả năng kháng mặn của cây quách (Limonia acidissima L. thuộc họ cam Rutaceae) và tổ hợp ghép giống quýt không hột trên gốc quách cũng như khả năng tiếp hợp của chúng, 3 thí nghiệm trong chậu, một nhân tố được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ với yếu tố thí nghiệm là nồng độ muối nhân tạo khác nhau (0, 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10‰ đối với gốc ghép quách; 0, 1, 3, 5, 7, 9‰ đối với tổ hợp ghép) và tương quan về sinh trưởng của cành ghép với gốc ghép (với thí nghiệm về khả năng tiếp hợp) đã được thực hiện tại Khoa Nông nghiệp, Trường Đại học Cần Thơ, giai đoạn cây 2 tháng tuổi đến 1 năm tuổi. Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong điều kiện tưới mặn nhân tạo, cây quách 2 tháng tuổi có khả năng sống ở độ mặn 7‰ trong 3 tháng, trong lúc tổ hợp ghép quýt/quách sống được ở độ mặn 9‰ trong thời gian 3 tháng với tỷ lệ đường kính cành ghép/đường kính gốc ghép nhỏ hơn 1, ở mức chấp nhận được.

    DOI: https://doi.org/10.71254/5e8a7t72
  • KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHỌN TẠO VÀ KHẢO NGHIỆM GIỐNG BÍ ĐỎ LAI MẬT SAO 2

    Abstract : 1 PDF: 0
    Đoàn Xuân Cảnh, Nguyễn Thị Yến, Nguyễn Thị Trang, Đoàn Thị Thanh Thúy
    15-24

    Giống bí đỏ Mật sao 2 là giống lai (F1) của Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm tạo ra từ tổ hợp lai giống bí đỏ Hà Châu (♀) x Số 1(♂) năm 2018. Giống có khả năng sinh trưởng tốt ở cả 2 vụ trồng (xuân hè và thu đông), ra hoa và đậu quả sớm, thời gian thu quả sau trồng là 70 -75 ngày (vụ xuân hè) và 65 -70 ngày (vụ thu đông) và thời gian sinh trưởng 90 -100 ngày (vụ xuân hè), 85 -90 ngày (vụ thu đông). Giống Mật sao 2 có dạng cây khỏe, lá xanh, dạng lá xẻ thùy trung bình, chiều dài thân chính 314,6 cm, phân nhánh trung bình, dạng quả lê tròn dài, chiều dài quả 43,5 cm, đường kính quả 12,6 cm, vỏ quả có chấm hình sao, khi chín màu nâu, thịt quả chắc, mịn, màu vàng đậm, hàm lượng chất khô đạt 8,33%, độ Brix 8,9%. Giống bí đỏ Mật sao 2 cho số quả/cây đạt 1,27 - 1,31 quả (xuân hè) và 1,28 quả (thu đông), thuộc dạng quả to, khối lượng quả 3,25 - 3,31 kg (vụ xuân hè) và 2,89 kg (vụ thu đông). Năng suất thực thu đạt 35,41 - 37,68 tấn/ha (xuân hè) và 32,96 tấn/ha (thu đông), cho ưu thế lai chuẩn với giống Lucky từ + 12,99% đến + 16,66% (xuân hè) và 10,16% (thu đông), từ + 22,66% đến + 24,65% với giống Vino 989. Giống bí đỏ lai Mật sao 2 được khảo nghiệm và mở rộng trong sản xuất tại các tỉnh Hà Nam, Nam Định và Bắc Giang năm 2021 - 2022. Tại các điểm khảo nghiệm, giống cho năng suất trung bình 35,23 tấn/ha (vụ xuân hè) và 32,32 tấn/ha (vụ thu đông), vượt năng suất mô hình giống đối chứng 7,77 - 12,13%.

    DOI: https://doi.org/10.71254/01x29846
  • ẢNH HƯỞNG CỦA THỜI GIAN GÂY HẠN ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA CÁC DÒNG/GIỐNG ĐẬU XANH TRIỂN VỌNG Ở GIAI ĐOẠN RA HOA

    Abstract : 1 PDF: 0
    Hồ Huy Cường, Đường Minh Mạnh, Mạc Khánh Trang, Trương Thị Thuận, Đỗ Thị Xuân Thùy, Phan Trần Việt, Nguyễn Phi Hùng
    25-30

    Đánh giá khả năng chịu hạn trong điều kiện chậu vại của 20 dòng/giống đậu xanh được mã hóa từ G1 đến G20 tiến hành từ tháng 6 đến tháng 9 năm 2019 với các mức độ gây hạn là H0 (đối chứng - không gây hạn), H1 (gây hạn 5 ngày), H2 (gây hạn 7 ngày) và H3 (gây hạn 9 ngày) tại Viện KHKT Nông nghiệp duyên hải Nam Trung bộ, tọa độ 13°54'10"N 109°06'25"E. Kết quả thí nghiệm đã cho thấy có sự sai khác giữa các dòng/giống đậu xanh và các mức độ gây hạn. Tỷ lệ phục hồi và năng suất thực thu của các dòng/giống đậu xanh và các công thức mức độ gây hạn có xu hướng giảm dần khi tăng dần mức độ gây hạn từ 5 - 9 ngày, ngược lại mức độ suy giảm năng suất có xu hướng tăng dần khi tăng dần các công thức gây hạn. Từ kết quả nghiên cứu đã xác định 2 dòng/giống đậu xanh có khả năng chịu hạn với năng suất thực thu và chỉ số hạn (STI) tốt hơn các dòng/giống khác là G3 (giống ĐXBĐ.07) và G4 (giống ĐXBĐ.08).

    DOI: https://doi.org/10.71254/edf3s685
  • PHÁT HIỆN Cymbidium Mosaic Virus (CymMV) VÀ Odontoglossum Ringspot Virus (ORSV) GÂY BỆNH TRÊN HOA LAN BẰNG KỸ THUẬT PCR

    Abstract : 1 PDF: 1
    Phạm Đức Toàn, Nguyễn Khánh Ngọc Hà, Bùi Cách Tuyến
    31-38

    Một trong những trở ngại cho ngành trồng hoa lan trên thế giới cũng như Việt Nam là dịch hại, trong đó bệnh gây thiệt hại rất lớn, đặc biệt là bệnh do virus bởi hiện không có cách chữa ngoài biện pháp phòng bệnh. Có hơn 30 virus tấn công hoa lan, trong đó phổ biến hàng đầu là Cymbidium Mosaic Virus (CymMV) gây bệnh khảm và Odontoglossum Ringspot Virus (ORSV) gây bệnh khảm vòng. Trong nghiên cứu này, kỹ thuật RT - PCR đã được sử dụng phát hiện virus nhanh chóng để có biện pháp phòng trừ thích hợp. Đã phát hiện 20/30 mẫu dương tính với CymMV chiếm tỉ lệ 66,7%, 4/30 mẫu dương tính với ORSV chiếm tỉ lệ 13,3%, trong đó Dendrobium là giống có tỉ lệ nhiễm CymMV cao nhất. Đã giải trình tự sản phẩm PCR và so sánh kết quả trên Genbank cho thấy tỉ lệ tương đồng với CymMV được phát hiện so với trình tự CymMV đã được công bố có sự tương đồng là 97%, tỉ lệ tương đồng của ORSV được phát hiện so với trình tự ORSV đã được công bố là 99%. Từ đó có thể khẳng định rằng hai đối tượng đã được chẩn đoán bằng RT - PCR là CymMVORSV.

    DOI: https://doi.org/10.71254/4yjnvn26
  • MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA SÂU ĐỤC NGỌN Polylopha vietnama sp. nov. (Tortricidae: Chlidanotinae: Polyorthini) GÂY HẠI RỪNG TRỒNG QUẾ TẠI VIỆT NAM

    Abstract : 1 PDF: 1
    Đào Ngọc Quang, Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Bình, Nguyễn Minh Chí
    39-44

    Quế là cây lâm sản ngoài gỗ có giá trị kinh tế cao, được sử dụng rộng rãi làm gia vị, hương liệu, mỹ phẩm, dược liệu. Trong những năm gần đây đã xuất hiện loài sâu mới Polylopha vietnama (Tortricidae: Chlidanotinae: Polyorthini) đục ngọn cây Quế gây hại rừng trồng Quế với tỷ lệ và mức độ gây hại cao, đặc biệt là ở rừng trồng Quế dưới 3 năm tuổi (P = 70,8%, R = 2,16). Cánh trước trưởng thành có màu nâu lốm đốm, 1/3 chân cánh màu nâu sẫm, 1/3 giữa cánh màu trắng kem, 1/3 phía ngoài cánh lốm đốm nâu, râu đầu hình sợi chỉ dài 2,5 - 3 mm. Trưởng thành đực và cái không có sự khác nhau về hình thái, con cái có kích thước lớn hơn con đực. Trưởng thành đực có sải cánh dài 9,1 - 9,4 mm, trưởng thành cái có sải cánh dài 10,0 - 12,6 mm. Trứng dạng bán cầu, hình elip gần tròn, màu trắng. Sâu non có 3 tuổi, kích thước và màu sắc thay đổi theo tuổi. Nhộng trần có màu vàng nâu đến màu xám đen.

    DOI: https://doi.org/10.71254/90b5c433
  • NGHIÊN CỨU LIỀU LƯỢNG PHÂN BÓN N, P, K THÍCH HỢP CHO GIỐNG CHANH LEO ĐÀI NÔNG 1 TẠI THANH HÓA

    Abstract : 1 PDF: 0
    Tống Văn Giang, Nguyễn Quang Tin
    45-52

    Nghiên cứu được tiến hành nhằm xác định được liều lượng bón phân N, P, K thích hợp cho giống chanh leo Đài Nông 1 trồng tại Thanh Hóa. Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ gồm 4 công thức, 3 lần nhắc tại 2 địa điểm trong 2 vụ: vụ thu đông 2019 và vụ xuân 2020. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tại Thanh Hóa giống chanh leo Đài Nông 1 có thời gian từ trồng đến quả chín tại vụ xuân ngắn hơn vụ thu đông từ 5 - 8 ngày, cụ thể ở vụ thu đông dao động 210 - 240 ngày, vụ xuân dao động 202 – 235 ngày. Năng suất thực thu ở vụ thu đông 2019 dao động từ 20,57 - 39,57 tấn/ha. Trong đó mức bón P3 (0,7 kg N + 0,5 kg P2O5 + 1,1 kg K2O/cây) đạt cao nhất 38,68 tấn/ha - 39,57 tấn/ha, đạt lãi thuần cao nhất 157.236.423 - 164.346.639 đồng/ha; Vụ xuân 2020, năng suất thực thu dao động 25,01 - 38,51 tấn/ha, mức phân bón P3 (0,7 kg N + 0,5 kg P2O5 + 1,1 kg K2O/cây) đạt cao nhất 37,36 tấn/ha đến 38,51 tấn/ha, lãi thuần đạt 146.657.691 - 155.878.960 đồng/ha. Tỷ suất lợi nhuận cận biên MBCR ở mức bón phân bón P3 (0,7 kg N + 0,5 kg P2O5 + 1,1 kg K2O/cây) và P4 (0,8 kg N + 0,6 kg P2O5 + 1,3 kg K2O/cây) có MBCR>2, người sản xuất có thể áp dụng. Tuy nhiên chi phí ở mức phân bón P3 (0,7 kg N + 0,5 kg P2O5 + 1,1 kg K2O/cây) là phù hợp, lãi thuần đạt cao nhất, MBCR đạt cao nhất 5,45 – 6,23 lần, khuyến cáo ưu tiên áp dụng trong sản xuất.

    DOI: https://doi.org/10.71254/j4asqr67
  • NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH LIỀU LƯỢNG PHÂN BÓN CHO CÂY SẮN TRÊN ĐẤT ĐỒI HUYỆN BA TƠ, TỈNH QUẢNG NGÃI

    Abstract : 1 PDF: 0
    Nguyễn Tiến Lực, Vũ Đình Hoàn, Nguyễn Thu Hoài, Nguyễn Duy Phương
    53-58

    Sắn là một trong cây trồng chủ lực trên đất đồi của huyện Ba Tơ, sản phẩm sắn củ hiện nay chủ yếu cung cấp cho các nhà máy chế biến tinh bột trong tỉnh. So với các huyện khác trong tỉnh năng suất sắn của huyện Ba Tơ chỉ ở mức trung bình thấp, dao động từ 15 - 17 tấn/ha. Nguyên nhân chủ yếu do sắn được trồng trên đất đồi có độ phì thấp và mức đầu tư phân bón không đầy đủ kết hợp với bón phân không cân đối. Trên cơ sở số liệu quan trắc ở các hộ trồng sắn, xây dựng phương trình hồi quy tương quan giữa lượng phân bón với hàm lượng N, P, K tích lũy trong lá và năng suất sắn, kết quả phân tích đã chỉ ra rằng, phân đạm và kali có mối tương quan khá chặt với hàm lượng N và K tích lũy trong lá cũng như năng suất sắn khi thu hoạch thể hiện qua hệ số tương quan (R2) của các phương trình tương quan hồi quy. Từ các phương trình hồi quy tương quan bằng phương pháp đạo hàm đã xác định được liều lượng phân bón cho cây sắn trên đất đồi huyện Ba Tơ là: 103 kg N+ 64 kg P2O5 + 90 kg K2O/ha và lượng bón ở giai đoạn trước khi hình thành củ là 83 kg N + 43 kg P2O5 + 50 kg K2O/ha.

    DOI: https://doi.org/10.71254/yppp1y36
  • KHẢO SÁT MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA CHỦNG VI KHUẨN NỘI SINH ĐƯỢC PHÂN LẬP TỪ THÂN VÀ RỄ CÂY KIM NGÂN (Lonicera japonica)

    Abstract : 1 PDF: 0
    Phạm Hồng Hiển, Hoàng Thị Liễu, Trần Thị Đào, Tạ Hà Trang, Nguyễn Thị Minh Yến, Trần Đức Hiếu, Nguyễn Thị Hoài Mến, Nguyễn Văn Giang
    59-64

    Vi khuẩn nội sinh là những vi khuẩn sinh trưởng và phát triển bên trong mô thực vật, không gây hại cho cây chủ. Chúng góp phần cải thiện sự phát triển của cây trồng bằng cách tổng hợp IAA, siderophore và hoà tan các hợp chất phosphate khó tan trong đất. Các loại cây dược liệu đã được sử dụng để điều trị nhiều bệnh khác nhau, nhưng tiềm năng của các loài vi khuẩn nội sinh trong cây dược liệu còn chưa được nghiên cứu nhiều. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục đích đánh giá một số đặc điểm sinh học của một số chủng vi khuẩn nội sinh được phân lập từ cây kim ngân (Lonicera japonica). Tất cả 33 chủng vi khuẩn nội sinh được phân lập đều có khả năng sinh indole-3-acetic axit (IAA), 11 chủng có khả năng phân giải phosphate khó tan, 8 chủng có khả năng sinh siderophore. Hai chủng vi khuẩn HY9 và TT3 biểu hiện khả năng tổng hợp IAA mạnh nhất lần lượt là 42,9 µg/ml và 49,07 µg/ml tại nồng độ L-tryptophan 100 mg/l.

    DOI: https://doi.org/10.71254/52xw5425
  • KHẢO SÁT CÁC THÔNG SỐ TỐI ƯU CỦA QUÁ TRÌNH LÊN MEN RAU MUỐNG (Ipomoea aquatica) MUỐI CHUA

    Abstract : 1 PDF: 0
    Phạm Hoàng Triệu, Nguyễn Minh Trang, Nguyễn Như Phương, Huỳnh Ngọc Thanh Tâm
    65-73

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm tìm ra thông số tối ưu cho quá trình lên men rau muống (Ipomoea aquatica). Sử dụng dòng Lactobacillus plantarum CMT2 được đăng ký trên GenBank với mã số MN841920 được sử dụng cho quá trình lên men. Kết quả xác định được nhiệt độ chần rau muống là 70oC sau 6 ngày lên men cho hàm lượng axit lactic cao, đồng thời cũng cho giá trị cảm quan tốt. Thông qua phần mềm Design Expert 7.0 với thể thức Box - Behnken, đã xác định được nghiệm thức tối ưu cho quá trình lên menrau muống là nồng độ muối 2,85%, nồng độ đường 2,77% và mật độ vi khuẩn giống 8,3x108 tế bào/mL với hàm lượng axit lactic đạt 7,14 g/L sau 6 ngày lên men ở nhiệt độ phòng (30oC - 32oC). Khi bổ sung CaCl20,2% cho giá trị axit lactic và cảm quan cao. Ngoài ra, việc bổ sung gia vị tỏi 3% và ớt 3% sẽ giúp tăng giá trị cảm quan sản phẩm, đồng thời đẩy nhanh quá trình lên men sản phẩm. Sau 6 ngày lên men,đánh giá cảm quan rau muống cho cấu trúc sản phẩm giòn đều, có màu sắc tươi sáng, vị chua mặn hài hòa với lượng axit lactic là 8,52 g/L.

    DOI: https://doi.org/10.71254/1j09q964
  • NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA NHIỆT ĐỘ CHẦN VÀ TỶ LỆ NƯỚC MẮM/NƯỚC ĐẾN CHẤT LƯỢNG TRÁM ĐEN NGÂM MẮM

    Abstract : 1 PDF: 1
    Tạ Thu Hằng, Lê Tất Khang, Đoàn Thị Bắc, Nguyễn Phương Tùng
    74-80

    Nghiên cứu này nhằm xác định ảnh hưởng của nhiệt độ chần, tỷ lệ nước mắm/nước trong thành phần dịch rót đến chất lượng, giá trị cảm quan của sản phẩm trám đen ngâm mắm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Thí nghiệm 1 nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ chần (600C, 650C, 700C, 750C với lượng nước/trám là 3: 1) và thí nghiệm 2 nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ nước mắm/nước là 20%, 30%, 40%, 50% đến chất lượng sản phẩm trám đen ngâm mắm. Kết quả chỉ ra rằng, nguyên liệu trám đen có cấu trúc, hương vị và màu sắc ngon và đẹp nhất và chất lượng tốt nhất khi chần trong nước ở nhiệt độ 650C. Sản phẩm trám đen thơm ngon, có vị mùi, màu sắc đẹp, chất lượng tốt nhất khi pha dịch rót với tỷ lệ nước mắm/nước là 30%.

    DOI: https://doi.org/10.71254/xzhqm903
  • BƯỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG BIOCHAR BIẾN TÍNH CHITOSAN TRONG XỬ LÝ NƯỚC THẢI CHỨA SAFRANIN-O

    Abstract : 1 PDF: 1
    Đỗ Thị Mỹ Phượng, Nguyễn Thị Thanh Thảo, Nguyễn Xuân Lộc
    81-88

    Chitosan (CS) chiết xuất từ vỏ tôm và biochar (BC) nhiệt phân từ trấu đã được sử dụng để tổng hợp vật liệu hấp phụ chitosan-biochar (CS@BC). Khả năng hấp phụ Safranin-O (SO) trong nước thải của hai loại vật liệu biochar và chitosan-biochar được thực hiện trong các thí nghiệm theo mẻ. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng hấp phụ như pH, khối lượng vật liệu, thời gian và nồng độ ban đầu của SO đã được khảo sát. Kết quả nghiên cứu cho thấy, khả năng hấp phụ ion SO trong nước của biochar biến tính chitosan tăng lên rõ rệt so với biochar ban đầu, trong cùng một điều kiện thí nghiệm. Ở nồng độ ban đầu của ion SO là 50 mg/L, hiệu suất hấp phụ sau khi biến tính của biochar (90,94%) cao hơn biochar (83,41%). Hiệu quả hấp phụ SO cao nhất ở giá trị pH 6-7. Thời gian đạt cân bằng hấp phụ sau 240 phút. Kết quả nghiên cứu cho thấy, triển vọng ứng dụng biochar biến tính chitosan trong xử lý nước thải chứa thuốc nhuộm Safranin-O.

    DOI: https://doi.org/10.71254/mejnvh34
  • ĐÁNH GIÁ SƠ BỘ VỀ NGUỒN LỢI HẢI SẢN Ở VÙNG BIỂN ĐẢO LÝ SƠN VÀ LÂN CẬN DỰA TRÊN KẾT QUẢ ĐIỀU TRA BẰNG LƯỚI KÉO

    Abstract : 1 PDF: 1
    Vũ Việt Hà, Võ Văn Quang
    89-98

    Dẫn liệu về nguồn lợi hải sản ở vùng biển đảo Lý Sơn và lân cận được phân tích tổng hợp từ dữ liệu điều tra nguồn lợi hải sản ở biển Việt Nam bằng lưới kéo tầng đáy và lưới kéo trung tầng do Viện Nghiên cứu Hải sản thực hiện trong giai đoạn 2012 - 2018. Từ dữ liệu hiện có, tiến hành truy xuất dữ liệu ở vùng biển đảo Lý Sơn, giới hạn trong phạm vi vĩ độ 15°00N - 16°00N và từ kinh độ 109°30E trở vào bờ để phân tích. Kết quả phân tích đã thống kê ghi nhận được ở khu vực nghiên cứu có 364 loài hải sản thuộc 106 họ nằm trong 27 bộ, 5 lớp động vật biển; số lượng loài chiếm 39,9% so với vùng biển Việt Nam và 79,6% vùng biển Trung bộ. Trong đó, chỉ có một loài nằm trong Danh lục Đỏ IUCN ở cấp độ sắp bị đe doạ (NT). Những loài thường gặp trong sản lượng khai thác gồm mực ống trung hoa, cá hố, cá nục sồ, cá chim hai vây, cá trác ngắn, cá phèn khoai, cá mối vạch, cá mối thường và cá sòng nhật. Nhóm loài chiếm ưu thế về sản lượng gồm cá rô trân châu, cá sạo xám, cá mú vây đen, cá hố, cá chim ấn độ, cá sòng nhật, cá sơn biển sâu, mực ống trung hoa và cá bánh đường đối với lưới kéo đáy và nhóm loài cá nục sồ, cá hố, cá sòng nhật đối với lưới kéo trung tầng. Năng suất khai thác bằng lưới kéo trong khu vực nghiên cứu tương đương với năng suất khai thác trung bình ở vùng biển Trung bộ. Năng suất khai thác nguồn lợi hải sản ở vùng biển sâu thường cao và có sự biến động lớn so với vùng biển nông gần bờ. Năng suất khai thác trong mùa gió Tây Nam thấp nhưng ổn định hơn so với ở mùa gió Đông Bắc. Kết quả nghiên cứu này góp phần cung cấp thông tin khoa học cho công tác bảo vệ đa dạng sinh học và nguồn lợi hải sản ở vùng biển đảo Lý Sơn và lân cận.

    DOI: https://doi.org/10.71254/n9ep8x85
  • ĐỘNG THÁI QUẦN THỂ LOÀI CÂY KIỀN KIỀN TRONG RỪNG TỰ NHIÊN Ở VƯỜN QUỐC GIA PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG

    Abstract : 1 PDF: 1
    Nguyễn Hồng Hải, Nguyễn Văn Quý, Phạm Thanh Hà, Nguyễn Thanh Tuấn
    99-106

    Mục đích của nghiên cứu là xác định động thái quần thể loài Kiền kiền trong kiểu rừng lá rộng thường xanh thông qua đánh giá mô hình không gian của loài trong quần xã tại Vườn Quốc gia Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. Nghiên cứu động thái quần thể và mối quan hệ sinh thái của loài Kiền kiền với các loài cây cùng chung sống sẽ cung cấp các thông tin hữu ích trong việc bảo tồn và mở rộng vùng phân bố cho loài Kiền kiền. Đường kính ngang ngực (dbh) và tọa độ của 1.671 cây gỗ có dbh ≥ 2,5 cm trong ô nghiên cứu 1 ha đã được ghi nhận. Quần thể Kiền kiền với 297 cá thể có phân bố đường kính giống với 50 loài cây khác trong lâm phần. Phân bố cỡ đường kính của quần thể Kiền kiền có dạng hình chữ J ngược, số lượng cây Kiền kiền tập trung nhiều ở cấp cây nhỏ và cây nhỡ. Quần thể Kiền kiền có biểu hiện phân bố cụm ở cỡ đường kính nhỏ và phạm vi không gian < 10 m và chuyển sang phân bố ngẫu nhiên khi kích thước cây và quy mô không gian tăng lên. Hướng gió, kiểu phát tán hạt, tương tác loài và sự phụ thuộc vào quy mô không gian là các cơ chế đã điều chỉnh mô hình phân bố và quan hệ không gian của loài Kiền kiền.

    DOI: https://doi.org/10.71254/4mxe9n73
  • XÂY DỰNG HỆ THỐNG THÔNG TIN NÔNG NGHIỆP TỈNH PHÚ YÊN

    Abstract : 2 PDF: 0
    Đỗ Thành Long, Đặng Thị Kim Nhung, Trần Thái Bình
    107-112

    Phú Yên một trong những tỉnh có lợi thế đa dạng về địa hình, là tỉnh có tiềm năng phát triển nông – lâm – thủy sản khi có 80% là diện tích đất nông nghiệp, 90% dân số canh tác nông nghiệp trong những năm qua. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, những ảnh hưởng tiêu cực từ biến đổi khí hậu, vấn đề ô nhiễm môi trường do hoạt động sản xuất, du lịch, công nghiệp hóa là những thách thức lớn đối với nền nông nghiệp tỉnh Phú Yên. Việc xây dựng một hệ thống thông tin cho ngành nông nghiệp dựa trên nền tảng GIS là một hướng đi phù hợp. Hệ thống ứng dụng công nghệ WebGIS, cung cấp các chức năng quản lý và cập nhật dữ liệu trực tuyến, chức năng thể hiện thông tin dựa trên công nghệ “biểu đồ - bản đồ tương tác đa thời gian”. Bên cạnh đó, việc phát triển ứng dụng trên thiết bị di động giúp theo dõi tình hình dịch bệnh, sản xuất tại hiện trường. Các ứng dụng được liên kết thành một cổng thông tin hoàn chỉnh, giúp chia sẻ các thông tin hữu ích đến cán bộ quản lý, doanh nghiệp và người dân.

    DOI: https://doi.org/10.71254/ny79cz75