Số 19 (2022)
Bài viết
-
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ TƯƠNG ĐỒNG DI TRUYỀN GIỮA CÁC MẪU GIỐNG CỦA HAI GIỐNG BÍ XANH (BÍ NẾP, BÍ THƠM) THU THẬP TẠI HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA
Abstract : 1 PDF: 1Nghiên cứu mức độ tương đồng di truyền của 60 mẫu giống bí xanh địa phương (30 mẫu giống bí nếp và 30 mẫu giống bí thơm) thu thập từ hai xã Chiềng Mai và Mường Bon thuộc huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La được tiến hành bằng 40 chỉ thị phân tử SSR. Kết quả cho thấy, tại mức tương đồng di truyền 0,82 thì 60 mẫu giống phân tách thành 2 nhóm chính, tương ứng với 2 giống bí nếp và bí xanh riêng biệt. Nhóm các mẫu giống bí nếp có 26 mẫu giống có độ đồng đều di truyền cao (hệ số tương đồng di truyền 0,97 đến 1). Nhóm các mẫu giống Bí thơm có 25 mẫu giống có độ đồng đều di truyền cao (hệ số tương đồng di truyền từ 0,98 đến 1). Các mẫu giống này được sử dụng để tiến hành phục tráng giống, góp phần bảo tồn và phát triển nguồn gen bí nếp và bí thơm tại Sơn La cũng như một số tỉnh miền núi phía Bắc.
-
KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ HÀM LƯỢNG ISOFLAVONE CỦA MỘT SỐ GIỐNG ĐẬU TƯƠNG TẠI HÀ NỘI
Abstract : 1 PDF: 0Nghiên cứu nhằm xác định giống đậu tương có năng suất ≥ 2,0 tấn/ha và hàm lượng isoflevone trong hạt ≥ 370 mmg/100 g chất khô cho thành phố Hà Nội. Thí nghiệm gồm 5 giống đậu tương tại xã Vân Nam, huyện Phúc Thọ; xã Hợp Tiến và xã Mỹ Thành, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội. Đã xác định được 2 giống ĐT51 và DT2010. Thời gian sinh trưởng trung bình của giống ĐT51 là 92 - 95 ngày và giống DT2010 là 87 - 90 ngày. Năng suất của giống ĐT51 đạt 2,57 tấn/ha trong vụ xuân và 2,33 tấn/ha trong vụ đông. Giống DT2010 đạt 2,35 tấn/ha trong vụ xuân và 2,27 tấn/ha trong vụ đông. Hàm lượng isoflavone trong hạt giống ĐT51 là 402,1 mg/100 g chất khô và giống DT2010 là 416,4 mg/100 g chất khô. Hàm lượng isoflavone trong hạt mầm của giống ĐT51 đạt 471,8 mg/100 g chất khô và giống DT2010 là 475,4 mg/100 g chất khô.
-
NGHIÊN CỨU LAI TẠO VÀ CHỌN LỌC GIỐNG DÂU TÂY CHO NĂNG SUẤT CAO, CHẤT LƯỢNG TỐT CHO VÙNG CAO NGUYÊN VIỆT NAM
Abstract : 1 PDF: 1Các dòng dâu tây có triển vọng do Trung tâm Nghiên cứu Khoai tây, Rau và Hoa chọn tạo từ năm 2018 đến năm 2021. Nghiên cứu sử dụng nguồn vật liệu là các giống dâu tây được nhập nội từ Hàn Quốc, Nhật Bản và một số giống tại địa phương. Kết quả nghiên cứu đã chọn lọc được 6 dòng dâu tây có triển vọng gồm PS1.07, PS7.01, PS8.07, PS8.10, PS8.14, PS17.04 phù hợp với điều kiện canh tác ứng dụng công nghệ cao trong nhà màng: tiềm năng năng suất cao (27,8 - 32,6 tấn/ha/năm tại Đà Lạt, Lâm Đồng và 12,7-13,2 tấn/ha/năm tại Bắc Hà, Lào Cai), tỉ lệ quả quả loại 1 đạt 73,6 - 82,1%, độ Brix đạt 10,3 - 12,6%, khẩu vị ngon, quả có mùi thơm và cứng quả; ít mẫn cảm với một số bệnh hại chính như bệnh phấn trắng (Sphaerotheca macularis), bệnh thán thư (Colletotrichum fragariae) và bệnh đốm lá vi khuẩn (Xanthomonas fragariae). Trong đó, dòng PS8.10 là dòng có nhiều triển vọng nhất, năng suất đạt 32,6 tấn/ha/năm tại Đà Lạt, Lâm Đồng và 13,2 tấn/ha/năm tại Bắc Hà, Lào Cai, độ Brix đạt 12,3 - 12,6% và được người nông dân chấp nhận đưa vào sản xuất tại Lâm Đồng và Lào Cai.
-
ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC CỦA CÁC MẪU GIỐNG SÙNG THẢO (Stachys sieboldii Miq.) TẠI SA PA, LÀO CAI
Abstract : 1 PDF: 1Sùng thảo (Stachys sieboldii Miq.) thuộc họ Hoa môi (Lamiaceae) là cây được dùng làm dược liệu và làm thực phẩm với bộ phận sử dụng là thân rễ (củ). Nghiên cứu nhằm đánh giá đặc điểm nông sinh học của 3 mẫu giống Sùng thảo được thu thập tại các tỉnh miền núi phía Bắc phục vụ công tác bảo tồn, nhân giống và phát triển nguồn gen có giá trị này. Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCBD) với 3 lần nhắc lại. Kết quả đánh giá cho thấy, các mẫu giống có tổng thời gian sinh trưởng từ 255 - 273 ngày; cây ra hoa trong khoảng thời gian từ tháng 6 đến tháng 8. Chiều cao cây từ 50,5 - 62,7 cm, đường kính tán từ 45,7 - 67,4 cm. Mẫu giống ST2 có hoa màu hồng nhạt, hai mẫu giống ST1 và ST3 có hoa màu hồng đậm. Cả 3 mẫu giống Sùng thảo đều hình thành thân rễ dạng củ mập, dạng chuỗi, màu trắng ngà; với năng suất thực thu từ 8,97 - 12,15 tạ/ha; hàm lượng polyphenol tổng số trong củ khô từ 0,95 - 1,06%. Các mẫu giống Sùng thảo đều có giá trị làm thực phẩm, trong đó mẫu giống ST1 và ST3 có tiềm năng phát triển làm dược liệu.
-
HIỆU QUẢ CỦA CHẤT MANG NHÂN NUÔI XẠ KHUẨN Streptomyces sp. LV-DT PHÒNG TRỊ BỆNH CHÁY LÁ KHOAI MÔN DO NẤM Phytophthora sp.
Abstract : 1 PDF: 0Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá được khả năng đối kháng của chủng xạ khuẩn Streptomyces sp. (LV-DT) với nấm Phytophthora sp. gây bệnh cháy lá trên cây khoai môn trong chất mang nhân nuôi (môi trường) tốt nhất. Kết quả ở điều kiện phòng thí nghiệm chủng xạ khuẩn Streptomyces sp. (LV-DT) có khả năng đối kháng với nấm Phytophthora sp. sau 7 ngày tồn trữ tốt nhất ở môi trường MS 2% có mật số xạ khuẩn 1,2 x 106 cfu/ml, bán kính vòng vô khuẩn 14,5 - 21 mm và hiệu suất đối kháng 40,84 - 61,04% từ 2 - 6 ngày sau chủng bệnh (NSCB). Kết quả thí nghiệm ở điều kiện nhà lưới cho thấy khả năng phòng trị bệnh cháy lá trên khoai môn của thuốc Niko 72WP tốt nhất và cao hơn so với môi trường MS 2%, cám bắp 2% và thấp nhất ở môi trường cám gạo lúa xay 2% trong suốt 4 - 13 NSCB thông qua tỉ lệ bệnh, chỉ số bệnh, hiệu quả giảm bệnh và chỉ số diện tích dưới đường cong tiến triển bệnh.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA QUẦN THỂ NẤM RỄ NỘI CỘNG SINH (Arbuscular mycorrhizal fungi) VÀ LOẠI PHÂN BÓN LÊN SỰ SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA HÀNH LÁ (Allium fistulosum L.) TRONG ĐIỀU KIỆN THÍ NGHIỆM NHÀ LƯỚI
Abstract : 1 PDF: 0Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của quần thể nấm rễ nội cộng sinh (AMF) và loại phân bón đến sinh trưởng và năng suất của hành lá trong điều kiện thí nghiệm nhà lưới. Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với hai nhân tố, bao gồm: (i) quần thể nấm rễ, (ii) loại phân bón và hai nghiệm thức đối chứng không chủng nấm rễ. Thí nghiệm có tổng cộng 6 nghiệm thức được thực hiện trong thời gian 75 ngày. Kết quả thí nghiệm cho thấy, ở các nghiệm thức được chủng nấm rễ có tỉ lệ xâm nhiễm của quần thể nấm rễ vào rễ cây hành dao động trong khoảng 52,3 - 62,5% và chưa có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỉ lệ xâm nhiễm của hai quần thể nấm AMF. Cây hành lá được bổ sung nấm rễ AMF kết hợp với phân vô cơ hoặc phân hữu cơ đã giúp gia tăng chiều cao hành lá, số chồi, số lá cũng như chiều dài rễ (cm), sinh khối khô (g) và tăng năng suất thương phẩm của hành lá giai đoạn thu hoạch. Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc kết hợp chủng nấm rễ nội cộng sinh với phân hữu cơ hoặc phân vô cơ giúp gia tăng các đặc tính nông học của hành lá, từ đó làm gia tăng năng suất thương phẩm của hành lá so với nghiệm thức chỉ bổ sung phân hóa học.
-
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG MỘT SỐ LOẠI PHÂN BÓN HỮU CƠ VÀ THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT SINH HỌC TRONG SẢN XUẤT BƠ HỮU CƠ TẠI MỘC CHÂU, SƠN LA
Abstract : 1 PDF: 1Nghiên cứu sử dụng một số loại phân bón hữu cơ và thuốc bảo vệ thực vật sinh học trong sản xuất bơ hữu cơ nhằm xây dựng quy trình kỹ thuật sản xuất hữu cơ cho cây bơ tại Sơn La. Thí nghiệm phân bón hữu cơ gồm 4 công thức: CT1 - Phân bón hữu cơ Bình Điền; CT2 - Phân bón hữu cơ Komix; CT3 - Phân bón hữu cơ Quế Lâm; CT4 - Nền thí nghiệm. Thí nghiệm chế phẩm hữu cơ và thuốc bảo vệ thực vật sinh học gồm 4 công thức: CT1- Ningnamycin 8% (Ditacin 8SL); CT2 - Chitosan (Chitosan super); CT3 - Citra Klean; CT4 - Đối chứng (Phun nước lã). Các thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn, mỗi công thức 5 cây, nhắc lại 3 lần trên giống bơ sáp, cây 8 năm tuổi trồng tại Mộc Châu - Sơn La. Nghiên cứu được thực hiện trong 2 năm 2020 - 2021. Kết quả nghiên cứu cho thấy, một số loại phân bón hữu cơ đã làm tăng khả năng sinh trưởng và năng suất của giống bơ sáp trồng tại Mộc Châu. Sử dụng 40 kg phân chuồng + 2 kg bột đậu tương + 3 kg bột ngô + 2 kg tro đốt + 0,002 kg nấm Trichoderma để xử lý phân chuồng/1 cây + phân bón hữu cơ Komix hoặc phân bón hữu cơ Bình Điền tương ứng cho cây sinh trưởng hoặc năng suất đạt được cao nhất. Sử dụng phân bón hữu cơ Bình Điền cho năng suất ở 2 năm nghiên cứu tương ứng đạt 76,78 kg/cây và 69,79 kg/cây. Sử dụng chế phẩm Chitosan và thuốc bảo vệ thực vật sinh học Ningnamycin 8% cho hiệu quả phòng trừ bệnh thán thư cao và hiệu quả kinh tế cao với tỷ suất lợi nhuận VCR đạt 3,03 - 7,27.
-
YẾU TỐ HẠN CHẾ VỀ ĐỘ PHÌ NHIÊU ĐẤT VÙNG TRỒNG LÚA TỈNH BẮC NINH
Abstract : 1 PDF: 1Nhằm xác định được yếu tố hạn chế (YTHC) độ phì nhiêu đất trồng lúa, nghiên cứu này đã tiến hành điều tra, thu thập 1.495 mẫu đất tầng mặt và phân tích các chỉ tiêu pHKCl; OC, N, P, K tổng số; P, K dễ tiêu; CEC; tổng cation; S, Si tổng số; S, Si dễ tiêu, B, Mo, Mn tổng số. Các kết quả phân tích được so sánh, đánh giá với các số liệu phân tích đất trước đây và với yêu cầu sử dụng đất của cây lúa để xác định YTHC, cũng như mức độ suy giảm độ phì. Kết quả nghiên cứu cho thấy đất trồng lúa ở Bắc Ninh có độ phì ở mức trung bình, thích hợp cho canh tác lúa nước. Các YTHC về độ phì nhiêu đất đối với canh tác lúa tại Bắc Ninh là hàm lượng hữu cơ, hàm lượng đạm tổng số, một số nguyên tố trung vi lượng cũng là các YTHC tiềm năng đối với canh tác lúa như Mg, S, B và Mo. Để hạn chế ảnh hưởng của các YTHC và nâng cao hiệu quả sản xuất lúa, cần tăng cường sử dụng phân bón hữu cơ, điều chỉnh liệu lượng phân bón đa lượng, tăng N giảm P, cũng như bón bổ sung một số nguyên tố trung và vi lượng, như Mg, S, B và Mo tại các vùng thiếu hụt.
-
THỰC TRẠNG THOÁI HOÁ ĐẤT NÔNG NGHIỆP DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI TỈNH ĐẮK LẮK
Abstract : 1 PDF: 1Đắk Lắk là địa phương có diện tích tự nhiên lớn (13.125,37 km2), gồm 15 đơn vị hành chính cấp huyện, trải dài từ 107028’57” đến 108059’37” độ kinh Đông và từ 1209’45” đến 13025’06” độ vĩ Bắc. Nằm trong khu vực bán khô hạn, Đắk Lắk chịu nhiều tác động của yếu tố biến đổi khí hậu. Để sử dụng đất nông nghiệp theo hướng bền vững, có hiệu quả cao nghiên cứu đã sử dụng công nghệ GIS kết hợp với khảo sát thực địa để xác định mức độ thoái hóa đất nông nghiệp tại tỉnh Đắk Lắk từ 4 loại hình là trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng thoái hóa đất nông nghiệp, đó là: khô hạn, xói mòn do mưa, suy giảm độ phì của đất đất bị kết von. Kết quả đã xác định được mức độ thoái hóa đất nông nghiệp là 492.265/655.818 ha (trong đó thoái hóa nhẹ là 256.115 ha; thoái hóa trung bình là 181.399 ha; thoái hóa mạnh 54.751 ha), chiếm 75,06% diện tích đất sản xuất nông nghiệp; diện tích đất lâm nghiệp bị thoái hóa là 394.499/528.306 ha (trong đó thoái hóa nhẹ là 255.479 ha; thoái hóa trung bình là 111.302 ha; thoái hóa mạnh 27.718 ha), chiếm 74,67% diện tích đất lâm nghiệp.
-
NGHIÊN CỨU HOẠT TÍNH KHÁNG KHUẨN CỦA DỊCH CHIẾT TỪ QUẢ VÀ LÁ CỦA CÂY MƯỚP ĐẮNG (Momordica charantia)
Abstract : 1 PDF: 0Nghiên cứu này được thực hiện để đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của dịch chiết từ quả và lá của cây mướp đắng (Momordica charantia) trên các chủng vi sinh vật chuẩn. Các cao chiết methanol và ether dầu hỏa từ quả và lá của cây mướp đắng được đánh giá hoạt tính kháng khuẩn trên 5 chủng vi sinh vật chuẩn (Pseudomonas aeruginosa, Escherichia coli, Candida albicans, Streptococcus D (Streptococcus nhóm D) và Staphylococcus aureus) bằng phương pháp khuếch tán trên đĩa thạch. Kết quả cho thấy, các dịch chiết thô đều thể hiện hoạt tính kháng khuẩn lên tất cả các vi sinh vật được thử nghiệm, trong đó cao chiết methanol thể hiện hoạt tính kháng khuẩn tương đối rộng hơn so với cao chiết ether dầu hỏa. Cao chiết methanol từ quả cho phổ kháng khuẩn rộng nhất với khả năng ức chế tất cả các vi sinh vật chuẩn được thử nghiệm. Đặc biệt, hỗn hợp cao chiết (từ dung môi methanol hoặc ether dầu hỏa) của lá và quả có nồng độ bằng nhau không thể hiện hoạt tính kháng khuẩn tốt hơn so với từng cao chiết riêng lẻ. Các kết quả chứng tỏ cao chiết methanol và ether dầu hỏa của M. charantia có hoạt tính kháng khuẩn trên các vi sinh vật được thử nghiệm.
-
NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH PHƯƠNG PHÁP SẤY PHÙ HỢP CHO CƠM DỪA NẠO
Abstract : 1 PDF: 1Dầu dừa chiếm vị trí quan trọng trên thị trường thế giới. Cơm dừa ngoài việc sử dụng trong công nghiệp ép dầu còn là nguồn thực phẩm quý giá cung cấp chất béo cho con người. Tuy nhiên, hiện nay phương pháp làm khô chủ yếu là phơi nắng, sấy bằng thủ công, sấy không khí nóng… nên chất lượng cơm dừa sau khi phơi, sấy chưa cạnh tranh được với cơm dừa ngoại nhập. Nghiên cứu đã tiến hành sấy cơm dừa với 6 phương pháp: sấy không khí nóng, sấy không khí nóng kết hợp hồng ngoại, sấy bơm nhiệt, sấy bơm nhiệt kết hợp hồng ngoại, sấy tầng sôi và sấy tầng sôi kết hợp hồng ngoại nhằm xác định phương pháp sấy phù hợp trên cơ sở đánh giá về tốc độ giảm ẩm, màu sắc, hàm lượng dinh dưỡng cơm dừa sau khi sấy. Kết quả đã xác định được phương pháp sấy tầng sôi kết hợp hồng ngoại là phù hợp với nhiệt độ sấy 40oC, thời gian sấy 1 giờ, tốc độ giảm ẩm trung bình trong quá trình sấy là 40,3%/giờ, cơm dừa nạo sau khi sấy có màu trắng sáng với chỉ số màu DL* là 5,7, độ lệch màu chung DE*là 6,34, hàm lượng chất béo 58,72%, mùi vị đặc trưng, đáp ứng được yêu cầu xuất khẩu theo tiêu chuẩn Việt Nam.
-
TỐI ƯU HÓA NỒNG ĐỘ ENZYME VÀ THỜI ĐIỂM BỔ SUNG FLAVOURZYME TRONG SẢN XUẤT DỊCH ĐẠM TỪ ĐẦU CÁ LÓC (Channa striata) BẰNG ENZYME ALCALASE VÀ FLAVOURZYME
Abstract : 2 PDF: 2Nghiên cứu được thực hiện nhằm tối ưu hóa nồng độ enzyme và thời điểm bổ sung flavourzyme trong sản xuất dịch đạm từ đầu cá lóc (Channa striata) theo phương pháp bổ sung alcalase trước và flavourzyme sau. Quá trình thủy phân được tối ưu hóa theo phương pháp bề mặt đáp ứng với 4 nhân tố gồm nồng độ alcalase (23,18 - 56,81 U/g protein), nồng độ flavourzyme (69,54 - 170,45 U/g protein), thời điểm bổ sung flavourzyme (6,95 - 17,04 giờ) và thời gian thủy phân (19,91 - 40,09 giờ) với 19 nghiệm thức và 3 lần lặp lại. Kết quả cho thấy, điều kiện thủy phân tối ưu với nồng độ alcalase (53,1 U/g protein), nồng độ flavourzyme (104,1 U/g protein), thời điểm bổ sung flavourzyme (7,93 giờ) và thời gian thủy phân (31,1 giờ). Với điều kiện thủy phân tối ưu, dịch đạm thủy phân đạt hiệu suất thủy phân 53,3%, hiệu suất thu hồi protein 66,0% và hàm lượng đạm axit amin 14,3 g/L.
-
HIỆN TRẠNG RẠN SAN HÔ TẠI MỘT SỐ ĐẢO THUỘC QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA, TỈNH KHÁNH HÒA, VIỆT NAM
Abstract : 1 PDF: 0Đa dạng sinh học khu vực biển quần đảo Trường Sa là mối quan tâm liên tục và xuyên suốt của các nhà sinh học, sinh thái biển. Kết quả nghiên cứu khảo sát các rạn san hô năm 2021 của Trung tâm Nhiệt đới Việt – Nga tại 6 đảo gồm: Song Tử Tây, Đá Nam, Thuyền Chài, Nam Yết, Đá Lớn, Tốc Tan đã thành lập được danh lục gồm 185 loài san hô cứng, trong đó, 162 loài điều tra được tại đảo Nam Yết, 121 loài điều tra được tại đảo Tốc Tan, 81 loài tại đảo Song Tử Tây, 63 loài tại Đá Nam, 63 loài tại Đá Lớn và 28 loài tại đảo Thuyền Chài. Đây là cơ sở góp phần đánh giá biến động san hô theo thời gian tại các vị trí, các điểm đảo thuộc quần đảo Trường Sa.
-
ỨNG DỤNG BIOCHAR-OXÍT SẮT TỪ TRONG XỬ LÝ NƯỚC THẢI CHỨA SAFRANIN-O
Abstract : 1 PDF: 1Vật liệu biochar biến tính với oxít sắt từ (Fe3O4-biochar) được tổng hợp bằng phương pháp nung rác thải sinh hoạt (RTSH) dễ phân huỷ ở 500oC trong môi trường nitơ, sau đó cố định các oxít sắt lên bề mặt biochar sử dụng phương pháp đồng kết tủa hỗn hợp Fe(OH)2 và Fe(OH)3 được tạo ra từ tiền chất Fe2+ và Fe3+ trong môi trường kiềm. Khả năng hấp phụ Safranin-O (SO) trong nước thải của Fe3O4-biochar được thực hiện trong các thí nghiệm theo mẻ. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hấp phụ như pH, khối lượng vật liệu, thời gian và nồng độ ban đầu của ion SO đã được khảo sát. Kết quả nghiên cứu cho thấy, với nồng độ SO ban đầu 50 mg/L, pH 7, khối lượng Fe3O4-biochar và thời gian hấp phụ 120 phút thì hiệu suất hấp phụ SO đạt 81,6% và lượng SO bị hấp phụ đạt 9,33 mg/g. Do đó, Fe3O4-biochar có thể được tổng hợp từ RTSH dễ phân hủy theo phương pháp đơn giản và chi phí thấp và có thể ứng dụng vật liệu Fe3O4-biochar cho việc loại bỏ cation màu Safrarin O khỏi môi trường nước.
-
ĐA DẠNG DI TRUYỀN MỘT SỐ RỪNG GIỐNG THÔNG CARIBE Ở VIỆT NAM
Abstract : 1 PDF: 1Thông caribe là loài cây trồng rừng có giá trị kinh tế cao, có biên độ thích nghi rộng đặc biệt là ở các khu vực đất trống, đồi núi trọc. Cho đến nay, nguồn cung cấp hạt giống phục vụ cho trồng rừng Thông caribe ở Việt Nam chủ yếu là thu từ các rừng giống được chuyển hóa từ rừng trồng ở giai đoạn trước, đặc biệt một số rừng giống không được ghi nhận nguồn gốc, xuất xứ một cách rõ ràng. Vì vậy, việc đánh giá mức độ đa dạng di truyền của các nguồn giống này là rất cần thiết nhằm đưa ra các biện pháp quản lý thích hợp để nâng cao chất lượng nguồn cung cấp giống cho loài cây trồng rừng quan trọng này. Nghiên cứu này sử dụng 5 chị thị phân tử ISSR để đánh đa dạng di truyền của một số rừng giống Thông caribe (được gọi là nguồn giống trong nghiên cứu này) ở Việt Nam. Kết quả phân tích đã chỉ ra có tổng số 58 phân đoạn ADN được nhân bản với 49 phân đoạn đa hình (chiếm 83,82%). Tính đa dạng di truyền của các rừng giống Thông caribe ở mức trung bình, trong đó cao nhất ở rừng giống SPA Ba Vì 1996 (h = 0,374; I = 0,555, PPB = 100%) và thấp nhất ở rừng giống thị trấn Tứ Hạ (h = 0,221; I = 0,324 và PPB = 55,88%). Chỉ số giao phấn cận noãn trung bình Fis = - 0,028 < 0, chứng tỏ hiện tượng tự thụ phấn có xảy ra ở các nguồn giống, nếu hiện tượng này diễn ra với tỷ lệ cao sẽ có ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng hạt giống. Kết quả phân tích cấu trúc nguồn giống (POPGENE) cũng cho thấy, Thông caribe có tính đa dạng ở mức trung bình với chỉ số HT = 0,3592 và HS = 0,3024; chỉ số trao đổi gen nhỏ (Nm = 2,6633), nhưng vẫn có sự trao đổi gen giữa các nguồn giống Thông caribe. Chỉ số sai khác di truyền GST đạt 0,1581 có nghĩa là có tới 15,81% sai khác di truyền giữa các rừng giống có nguồn gốc từ hiện tượng thụ phấn chéo. Tổng mức độ thay đổi phân tử (AMOVA) giữa các rừng giống Thông caribe ở mức thấp (12%) và phần lớn sự biến đổi về phân tử được xác định giữa các cá thể trong cùng một rừng giống (88%). Cây quan hệ di truyền chia làm 2 nhánh chính và có hệ số tương đồng di truyền dao động từ 0,815 đến 0,957.








