Số 16 (2022)
Bài viết
-
NGHIÊN CỨU SỰ DI TRUYỀN MỘT SỐ TÍNH TRẠNG DỰA TRÊN TỔ HỢP LAI GIỮA CÁC GIỐNG LÚA NẾP CẨM VÀ IRBB21
Abstract : 0 PDF: 1Trong nghiên cứu này đã tiến hành lai giữa một số giống nếp cẩm địa phương với IRBB21, qua phân tích mức độ trội ở F1 theo công thức của Fisher (1918) và phân ly ở F2 về tính trạng chiều cao cây, chiều dài bông, số hạt/bông, màu sắc mày hạt, màu sắc vỏ trấu và màu hạt gạo lật, kết quả thu được: chiều cao cây của con lai F1 biểu hiện siêu trội dương (hp>1), chiều dài bông cho biểu hiện siêu trội (cả siêu trội dương và siêu trội âm). Con lai biểu hiện siêu trội âm hoặc trội không hoàn toàn về số hạt/bông. Về một số tính trạng màu sắc: màu mày hạt phân ly F2 theo tỷ lệ 9: 6: 1, tương tác bổ sung. Màu vỏ trấu có tỷ lệ phân ly là 9: 3: 3: 1. Màu sắc hạt gạo lật có 3 kiểu hình xuất hiện ở F2 với tỷ lệ phân ly là 1 tím sẫm : 2 tím nhạt : 1 trắng.
-
NGHIÊN CỨU BÌNH TUYỂN CÂY ĐẦU DÒNG HỒNG XIÊM NHÓT TẠI XÃ LÔ GIANG, HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
Abstract : 1 PDF: 1“Hồng xiêm nhót” là giống hồng xiêm đặc sản lâu đời của xã Lô Giang, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Giống có giá trị dinh dưỡng cao, độ Brix trung bình đạt 20,7%, vị ngọt, thịt quả mịn, dễ canh tác, đem lại thu nhập đáng kể cho người trồng nên cần được bảo tồn lâu dài và đầu tư khai thác một cách có hiệu quả. Nghiên cứu tuyển chọn cây đầu dòng là một giải pháp bền vững trong công tác bảo tồn và khai thác nguồn gen bản địa quý hiếm hiện nay. Trong vụ quả năm 2021 - 2022, từ 20 cây Hồng xiêm nhót lâu đời sau khi thông qua các vòng tuyển chọn, đánh giá và Hội đồng bình tuyển đã chọn được 8 cây ưu tú làm cây đầu dòng. Tất cả các cây tuyển chọn đều ổn định về năng suất, chất lượng và được Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Thái Bình cấp quyết định công nhận cây đầu dòng, đưa vào bảo tồn lâu dài và khai thác nguồn thực liệu nhân giống phục vụ sản xuất hàng hóa trên diện rộng.
-
NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG QUẾ (Cinamomum cassia BL.) BẰNG PHƯƠNG PHÁP GIÂM HOM
Abstract : 1 PDF: 1Quế (Cinnamomum cassia BL.) là loài cây lâm sản ngoài gỗ có giá trị đặc biệt, vỏ quế là một loại dược liệu quan trọng được dùng nhiều trong y học dân tộc cổ truyền cũng như y học hiện đại. Ngoài ra, còn được dùng làm gia vị và hương liệu trong công nghiệp thực phẩm, mỹ phẩm. Hiện nay, quế là cây trồng chính ở một số vùng sinh thái của Việt Nam, nhưng năng suất và chất lượng vỏ quế chưa cao, do chưa có giống đã được cải thiện để đáp ứng nhu cầu của sản xuất. Vì vậy, việc nhân giống bằng phương pháp giâm hom từ cây trội quế vừa có năng suất và chất lượng vỏ quế cao là rất cần thiết. Kế thừa các khu rừng trồng thuần loài đều tuổi từ 2, 4, 8, 12 năm tuổi ở huyện Bảo Yên (Lào Cai) và Văn Yên (Yên Bái) để cắt trẻ hóa và nhân giống. Kết quả nghiên cứu cho thấy, thời vụ cắt trẻ hóa tốt nhất là vào vụ xuân (tháng 3). Cây mẹ 8 tuổi cho tỷ lệ hom ra chồi cao nhất đạt đến 90,00%. Sử dụng chất điều hòa sinh trưởng IBA 0,5% để kích thích ra rễ là tốt nhất với tỷ lệ sống của cây hom là 97,33% và tỷ lệ hom ra rễ đạt đến 96,67%. Giá thể cho cây hom tốt nhất là sử dụng 69% đất mặt, 5% phân hữu cơ, 1% phân NPK (5-10-3-S), 25% xơ dừa và giâm trực tiếp vào bầu, kích thước bầu 8 x 12 cm.
-
ĐÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT 5 DÒNG ĐẬU NÀNH BC3F4 TRÊN ĐẤT MẶN TẠI HUYỆN CHÂU THÀNH VÀ LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
Abstract : 1 PDF: 0Nghiên cứu này nhằm đánh giá sinh trưởng và năng suất của 5 dòng đậu nành BC3F4 được thực hiện tại hai huyện Châu Thành và Long Phú thuộc tỉnh Sóc Trăng. Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ với 3 lần lặp lại. Các chỉ tiêu sinh trưởng được ghi nhận ở thời điểm ra hoa và thu hoạch. Các chỉ tiêu số trái/cây, số hạt/trái, khối lượng 1000 hạt và năng suất của các dòng đậu nành được đánh giá khi thu hoạch. Độ mặn trong nước tưới ghi nhận ở Long Phú (EC = 2,27-2,56 mS/cm) cao hơn Châu Thành (EC = 1,9 mS/cm) và có một số thời điểm EC>4 mS/cm, được đánh giá là nước nhiễm mặn. Do đó, các dòng đậu nành trồng ở Long Phú có thành phần năng suất hạt thấp hơn so với Châu Thành. Năng suất hạt cá thể (g/cây) ở Châu Thành và Long Phú lần lượt trên các dòng: dòng MTĐ 878-2 (4,7 và 2,52), 1400-3 (5,52 và 2,52), dòng 1500 (5,69 và 2,97), dòng 1600-1 (7,27 và 3,01), dòng 30000 (8,44 và 2,41) và dòng 31000-2 (5,07 và 3,65), giảm tương ứng giữa 2 địa điểm là 46,3; 54,3; 47,8; 58,6; 71,4 và 28,0%. Năng suất của dòng 31000-2 bị giảm thấp nhất (28%) trong điều kiện canh tác nước tưới mặn tại Châu Thành và Long Phú.
-
PHÂN LẬP, TUYỂN CHỌN VÀ ĐỊNH DANH VI KHUẨN CỐ ĐỊNH ĐẠM NỘI SINH TỪ CÂY KHÓM TRỒNG TRÊN ĐẤT PHÈN VỊ THANH, HẬU GIANG
Abstract : 1 PDF: 1Mục tiêu nghiên cứu nhằm tìm ra dòng vi khuẩn nội sinh bản địa có khả năng cung cấp đạm từ cây khóm trồng trên đất phèn. Hai mươi mẫu rễ và thân cây khóm được thu thập tại xã Hỏa Tiến và Tân Tiến, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang. Kết quả phân lập được 42 dòng vi khuẩn nội sinh từ rễ và thân cây khóm trên môi trường LGI và NFB. Trong đó, tuyển chọn được 13 dòng vi khuẩn có khả năng cố định đạm trong điều kiện chua. Dòng vi khuẩn L - VT08c cố định đạm tốt nhất với hàm lượng đạm 0,67 mg NH4+ L-1 từ môi trường LGI, dòng vi khuẩn N - VT01 cố định lượng đạm 2,62 mg NH4+ L-1 từ môi trường NFB. Hai dòng vi khuẩn L-VT08c và N-VT01 có khả năng cung cấp IAA lần lượt là 33,1 và 11,9 mg L-1 và bị giới hạn sinh trưởng bởi độc chất Al3+ là 9,68 và 20,7%, độc chất Fe2+ là 75,4 và 10,1%, theo cùng thứ tự. Hai dòng vi khuẩn L-VT08c và N-VT01 được định danh bằng kỹ thuật 16S rDNA là Burkholderia tropica, với tỷ lệ tương đồng 100%.
-
ẢNH HƯỞNG LƯỢNG NƯỚC TƯỚI MẶN ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ SINH KHỐI CỦA MỘT SỐ GIỐNG CỎ LÀM THỨC ĂN CHO GIA SÚC
Abstract : 1 PDF: 0Nghiên cứu được thực hiện nhằm lựa chọn bổ sung được những giống cỏ có thể trồng trên những vùng đất bị xâm nhập mặn. Thí nghiệm được bố trí trong điều kiện nhà lưới, được bố trí theo thể thức 2 nhân tố hoàn toàn ngẫu nhiên, với 3 lần lặp lại. Nhân tố thứ nhất gồm cỏ voi xanh Thái Lan (Pennisetum glaucum), cỏ voi xanh VA06 (Pennisetum purpureum), cỏ sả (Panicum maximum) và cỏ sữa (Setaria sphacelata), nhân tố thứ 2 là lượng nước tưới gồm 30% và 60% khả năng giữ nước của đất (tương đương với 450 và 900 mL/6 kg đất) có nồng độ muối 12 g NaCl/L. Kết quả ghi nhận lượng nước tưới 60% giảm chiều dài rễ, hàm lượng diệp lục trong lá và sinh khối tươi thân lá của cỏ voi VA06, Thái Lan và cỏ sả, nhưng làm tăng sinh khối ở cỏ sữa. Cỏ sữa ngoài việc thể hiện khả năng chịu mặn tốt hơn, còn tạo năng suất thân lá (g/cây) cao hơn 3 giống cỏ còn lại, theo thứ tự cỏ sữa (44,43-63,46) > cỏ sả (38,1-42,01) > cỏ voi Thái Lan (22,9-19,3) > cỏ voi VA06 (20,57-15,21) tương ứng ở lượng nước tưới 30 và 60%. Cỏ sữa có tiềm năng để trồng kết hợp với chăn nuôi gia súc ở vùng đất bị nhiễm mặn trong bối cảnh xâm nhập mặn, thiếu nước ngọt canh tác.
-
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG DUY TRÌ CHẤT LƯỢNG BỘT GẠO MẦM RANG KHI BỔ SUNG DỊCH CHIẾT NẤM KIM CHÂM (Flammulina Velutipes)
Abstract : 1 PDF: 1Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá khả năng duy trì chất lượng bột gạo mầm rang khi bổ sung dịch chiết nấm kim châm chứa hợp chất ergothioneine, làm cơ sở cho việc bảo quản bột gạo mầm rang. Gạo mầm được bổ sung dịch chiết nấm kim châm ở các tỷ lệ khác nhau (0, 3, 5, 7, 10% theo khối lượng) trước khi rang, sau đó được rang ở 200ºoC trong 30 phút và được nghiền thành bột mịn rồi đóng gói bằng bao bì PA hút chân không, theo dõi chất lượng trong 6 tháng. Kết quả cho thấy, khi bổ sung 10% dịch chiết nấm kim châm giàu ergothioneine (227,54 mg/kg) trong quá trình bảo quản bột gạo mầm rang, dịch chiết không tác động làm giảm γ-butyric acid (GABA). Bên cạnh đó, hàm lượng acid béo tự do chỉ tăng nhẹ từ 2,54% lên 2,77% ở tháng thứ 6. Khả năng khử gốc tự do DPPH của mẫu bổ sung 10% dịch nấm đạt 87,41%, tăng 2,14 lần so với mẫu không bổ sung 40,77% tại thời điểm ban đầu. Như vậy, sau thời gian bảo quản 4 tháng ở điều kiện thường trong bao bì PA hút chân không, bột gạo mầm rang được bổ sung 10% dịch chiết nấm kim châm mặc dù chưa cho thấy có khả năng hạn chế sự tổn thất một phần GABA nhưng vẫn có thể duy trì chất lượng tốt cho sản phẩm do hạn chế được quá trình oxy hóa chất béo trong quá trình bảo quản.
-
THÀNH PHẦN HÓA HỌC VÀ HOẠT TÍNH KHÁNG OXY HÓA IN VITRO CỦA CAO HEXANE CÂY BA KÍCH (Morinda Officinalis) Ở TỈNH ĐẮK LẮK
Abstract : 1 PDF: 1Nghiên cứu thành phần hóa học của cao chiết rễ Ba kích bằng phương pháp sắc ký khí ghép khối phổ GC-MS đã xác định được sự có mặt của 23 hợp chất trong đó có một số thành phần chính gồm n-hexadecanoic acid (10,53%), 2-methyl-9,10-anthracenedione, (1,39%), 9,12-octadecadienoic acid (Z,Z)-(12,77%), oleic acid (4,49%), octadecanoic acid (3,16%), 9,10-anthracenedione, 2-hydroxy-1-methoxy (3,17%), campesterol (4,17%), stigmasterol (5,86%) và sitosterol (14,73%). Kết quả đánh giá hoạt tính kháng oxy hóa của cao chiết hexane bằng phương pháp DPPH cho thấy, cao chiết thể hiện khả năng thu dọn gốc tự do DPPH rất mạnh, với giá trị IC50 = 1,03 µg/mL, mạnh hơn rất nhiều so với đối chứng dương acid ascorbic (IC50 = 34,99 μg/mL).
-
THỦY PHÂN PROTEIN BỘT PHỤ PHẨM CÁ TRA (Pangasius hypophthalmus) VÀ ỨNG DỤNG ĐỂ SẢN XUẤT BỘT NÊM
Abstract : 1 PDF: 1Nghiên cứu này tập trung vào khảo sát mức độ thủy phân trong quá trình thủy phân protein của bột phụ phẩm cá tra bằng enzyme Alcalase 2.4L ở các điều kiện thủy phân khác nhau và tối ưu hóa bằng phương pháp bề mặt đáp ứng nhằm thu được FPH (Fish Protein Hydrosate) có mức độ thủy phân (DH, %) cao nhất. Sản phẩm dịch thủy phân thu được sau quá trình thủy phân được phối trộn với các thành phần phụ gia, gia vị theo quy trình sản xuất bột nêm. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mức độ thủy phân đạt cao nhất là 20,48% với các điều kiện thủy phân bao gồm: hàm lượng enzyme/cơ chất là 0,40%, thời gian thủy phân 120 phút, nhiệt độ thủy phân 60oC, pH 6,5, tỷ lệ nước thêm vào so với khối lượng nguyên liệu là 185%. Dịch đạm thủy phân thu được có thành phần nitơ axit amin là 10 g/l và hiệu suất thu hồi protein của quá trình thủy phân là 63,44%. Dịch đạm thủy phân được phối trộn vào các thành phần phụ gia và gia vị trong quy trình sản xuất bột nêm với tỷ lệ phối trộn thích hợp là 75%.
-
NGHIÊN CỨU CÔNG NGHỆ ĐÁNH NHẴN CHI TIẾT GỖ NHỎ TRONG THIẾT BỊ THÙNG QUAY DÙNG SẢN XUẤT ĐỒ CHƠI GỖ
Abstract : 1 PDF: 0Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu xác định một số thông số công nghệ đánh nhẵn chi tiết gỗ nhỏ trong thiết bị thùng quay dùng sản xuất đồ chơi gỗ. Xác định được ảnh hưởng của độ ẩm chi tiết gỗ ở các khoảng độ ẩm 10-12%, 13-15%, 16-18% trước khi đánh nhẵn đến độ nhẵn (độ nhám bề mặt) của chi tiết gỗ sau khi đánh nhẵn. Giá trị độ nhám Rz trung bình sau khi đánh nhẵn các lần thử nghiệm đối với 4 loại gỗ quế, thông, keo, sa mộc ở độ ẩm đầu vào (13-15%) lần lượt là: 4,88, 5,53, 6,03, 6,55 µm. Kết quả xác định được khoảng độ ẩm chi tiết gỗ trước khi đánh nhẵn từ 13 - 15% cho giá trị bề mặt chi tiết gỗ đồ chơi sau khi đánh nhẵn là tốt nhất. Xác định được ảnh hưởng của vận tốc thùng quay đến độ nhẵn của chi tiết gỗ sau khi đánh nhẵn. Giá trị độ nhấp nhô Rz trung bình các lần thử nghiệm đối với các loại gỗ quế, thông, keo, sa mộc khi vận tốc vòng quay 15 vòng/phút lần lượt là 5,65, 6,06, 6,71, 7,32 µm. Xây dựng được quy trình công nghệ đánh nhẵn chi tiết gỗ nhỏ trong thiết bị thùng quay dùng sản xuất đồ chơi gỗ trên thiết bị được chế tạo.
-
ĐA DẠNG TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC TẠI NÚI CHỨA CHAN - HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI
Abstract : 1 PDF: 1Núi Chứa Chan - huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai có nguồn tài nguyên thực vật rừng tương đối đa dạng và phong phú. Thảm thực vật đồi núi nơi đây đã tạo nên nhiều cảnh quan thiên nhiên rất đặc sắc và là nơi sinh sống của các loài động vật và thực vật tương đối đa dạng và quý hiếm. Trong thời gian từ tháng 10 năm 2021 đến tháng 6 năm 2022 nhóm nghiên cứu dược liệu của Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng và Viện Dược liệu đã thiết lập 10 tuyến điều tra đa dạng thành phần loài. Kết quả đã xác định được 323 loài có giá trị làm thuốc thuộc 241 chi, 90 họ, 2 ngành thực vật bậc cao có mạch là ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) và ngành Ngọc lan (Magnoliophyta). Có 3 loài có tên trong Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam (2019), Sách Đỏ Việt Nam (2007) và 3 loài cây thuốc nằm trong Nghị định số 84/2021/NĐ-CP nhằm hạn chế khai thác, buôn bán vì mục đích thương mại cho khu hệ thực vật rừng.
-
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG THỰC VẬT TẠI CÁC KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN VÀ KHU BẢO VỆ CẢNH QUAN CỦA THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Abstract : 1 PDF: 0Thành phố Đà Nẵng được đánh giá là một trong những trung tâm đa dạng sinh học (ĐDSH) cao của cả nước. Tuy nhiên, các vấn đề xã hội đặt ra hiện nay về môi trường, kinh tế và xã hội đang gây nhiều áp lực lên hệ sinh thái tự nhiên. Nghiên cứu này đã thực hiện phân tích, đánh giá dữ liệu đa dạng hệ thực vật tại các Khu Bảo tồn Thiên nhiên (BTTN) và Khu Bảo vệ Cảnh quan (BVCQ) ở thành phố Đà Nẵng, đã được ghi nhận trong 50 công trình nghiên cứu và tài liệu của trong và ngoài nước, đồng thời điều tra bổ sung tại thực địa. Kết quả phân tích dữ liệu đã chỉ ra có 2.404 loài thuộc 199 họ, 9 lớp, trong 4 ngành thực vật (ngành Hạt kín, ngành Dương xỉ, ngành Hạt trần và ngành Thông đất). Kết quả của 1 đợt sơ thám, 5 đợt điều tra trên 32 tuyến và 42 OTC (1.000 m2) tại Khu BTTN Bà Nà–Núi Chúa; Khu BTTN Sơn Trà, Khu Danh thắng núi vôi Ngũ Hành Sơn và Khu BVCQ Nam Hải Vân đã bổ sung thêm 536 loài thuộc 134 họ, trong 6 nhóm ngành thực vật: Quyết lá thông, Thông đất, Dương xỉ, Thông, Hạt kín và Hạt Trần, trong đó có 413 loài chưa được đề cập trong danh sách tài liệu đã phân tích. Nghiên cứu còn chỉ ra đặc điểm đa dạng các sinh cảnh, dạng sống và giá trị sử dụng của hệ thực vật tự nhiên tại thành phố Đà Nẵng.
-
ĐA DẠNG NGUỒN TÀI NGUYÊN THỰC VẬT CHO TINH DẦU VÀ GIÁ TRỊ BẢO TỒN TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN PÙ HOẠT, TỈNH NGHỆ AN
Abstract : 1 PDF: 1Nghiên cứu về các loài thực vật cho tinh dầu ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên (BTTN) Pù Hoạt, tỉnh Nghệ An, đã xác định được 496 loài và thứ thuộc 177 chi, 52 họ, trong 02 ngành thực vật có mạch: Ngọc lan (Magnoliophyta) và Thông (Pinophyta). Ngoài giá trị cho tinh dầu thì các loài còn có các giá trị sử dụng khác, được chia làm 6 nhóm: làm thuốc với 279 loài, lấy gỗ với 115 loài, ăn được với 71 loài, làm cảnh với 23 loài, cho dầu béo với 14 loài và cây cho độc, nhuộm, tannin với 6 loài. Trong 496 loài, có 35 loài có giá trị bảo tồn cao tại Khu BTTN Pù Hoạt. Các loài thực vật cho tinh dầu thuộc 5 dạng thân chính: cây thân gỗ lớn với 140 loài, cây gỗ nhỏ với 134 loài, cây bụi với 79 loài, cây leo trườn với 15 loài và cây thân thảo với 128 loài.
-
HIỆU QUẢ KINH TẾ TRONG SẢN XUẤT LÁC CỦA NÔNG HỘ Ở HUYỆN VŨNG LIÊM, TỈNH VĨNH LONG
Abstract : 0 PDF: 1Mục tiêu của nghiên cứu này là ước lượng hiệu quả kinh tế và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của các nông hộ sản xuất lác tại huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long. Hiệu quả kinh tế được ước lượng từ hàm lợi nhuận biên ngẫu nhiên Cobb-Douglas. Dữ liệu trong nghiên cứu dựa trên số liệu thu thập từ 150 nông hộ trên địa bàn nghiên cứu. Kết quả ước lượng cho thấy hiệu quả kinh tế trong sản xuất lác của các nông hộ trên địa bàn nghiên cứu đạt mức trung bình chung cả hai vụ trong năm là 81,72%. Trong đó, vụ 1 có mức hiệu quả kinh tế trung bình đạt được 83,68% và vụ 2 đạt trung bình 79,77%. Mức độ hiệu quả kinh tế có sự chênh lệch giữa các nông hộ do khoảng về khả năng lựa chọn đầu vào tối ưu của mỗi nông hộ. Các yếu tố có ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế là học vấn của chủ hộ, hộ có tham gia tập huấn, số lao động trong hộ, số ngày công lao động gia đình tham gia sản xuất, diện tích và mùa vụ sản xuất.








