Số 6 (2022)
Bài viết
-
ẢNH HƯỞNG CỦA LIỀU LƯỢNG CHLORATE KALI (KClO3) VÀ TUỔI LÁ LÊN SỰ RA HOA VÀ NĂNG SUẤT NHÃN E-DOR (Dimocarpus longan Lour.) TẠI HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
Abstract : 1 PDF: 1Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định hiệu quả của liều lượng chlorate kali (KClO3) và tuổi lá ở thời điểm xử lý hóa chất KClO3 lên sự ra hoa và năng suất cây nhãn E-Dor 6 năm tuổi tại huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang từ tháng 11/2020 đến tháng 7/2021. Thí nghiệm thừa số hai nhân tố được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên (RCBD) với nhân tố thứ nhất là 5 liều lượng KClO3 (0 g/m đường kính tán (đkt), 50 g/m đkt, 100 g/m đkt, 150 g/m đkt, 200 g/m đkt); nhân tố thứ hai là 3 tuổi lá khi xử lý hóa chất KClO3 (35 ngày sau khi ra đọt (NSKRĐ), 45 NSKRĐ, 55 NSKRĐ), 3 lần lặp lại, mỗi đơn vị thí nghiệm là một cây. Xử lý ra hoa bằng cách tưới KClO3 vào đất xung quanh tán cây ở các tuổi lá khác nhau của cơi đọt thứ ba. Kết quả cho thấy, liều lượng KClO3 và tuổi lá ảnh hưởng đến tỷ lệ chóp rễ bị tổn thương, thời gian nhú mầm hoa, tỷ lệ ra hoa và năng suất nhưng không ảnh hưởng đến quá trình ra hoa, yếu tố cấu thành năng suất và phẩm chất quả. Tỷ lệ chóp rễ bị tổn thương ở giai đoạn 3 ngày sau khi xử lý tỷ lệ thuận với liều lượng KClO3 và đạt tỷ lệ cao nhất 47,2% ở liều lượng 200 g/m đkt. Xử lý KClO3 với liều lượng từ 50 g/m đkt đến 200 g/m đkt khi 45 NSKRĐ tỷ lệ ra hoa đạt gần 80%. Tỷ lệ ra hoa tương quan thuận với tỷ lệ chóp rễ bị tổn thương (r = 0,874**) và liều lượng KClO3 xử lý (r = 0,669**). Xử lý KClO3 với liều lượng từ 50 g/m đkt đến 200 g/m đkt ở thời điểm 45 NSKRĐ đạt năng suất 15,4 tấn/ha nhưng không có ảnh hưởng đến phẩm chất quả nhãn E-Dor.
-
HIỆN TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÂY CÓ MÚI TẠI ĐẮK LẮK
Abstract : 1 PDF: 1Kết quả điều tra hiện trạng phát triển cây có múi tại Đắk Lắk thực hiện trong 2 năm 2019 và 2020, tại 3 huyện trồng chính là Ea Kar, Buôn Đôn, Ea Súp của tỉnh Đắk Lắk cho thấy, 12 giống cây có múi bao gồm 6 giống cam chanh, 2 giống cam sành, 2 giống quýt, 1 giống bưởi, 1 giống chanh; trong đó cam sành và bưởi Da Xanh là 2 giống chiếm tỷ trọng cao và được trồng chủ yếu theo phương thức trồng xen, với 2 vụ thu hoạch trong năm: tháng 6 đến tháng 7 và tháng 10 đến tháng 11 (vụ chính). Năng suất bình quân với vườn cây 5 tuổi đạt khoảng 18,8 tấn/ha/năm với cam sành, 23,0 tấn/ha/năm với cam soàn, 22,6 tấn/ha/năm với quýt và 12,4 tấn/ha/năm đối với bưởi Da Xanh, chất lượng tương tự với các vùng trồng khác. Lợi nhuận bình quân biến động trong khoảng 113,7 triệu đồng/ha/năm đến 234,3 triệu đồng/ha/năm. Kết quả điều tra ghi nhận được 14 loại sâu và 10 loại bệnh gây hại trên cây có múi, trong đó các loại sâu hại chính là ruồi đục quả (Bactrocera sp.), nhện (Panonychus citri), bọ trĩ (Scirtothrips dorsalis), sâu vẽ bùa và bệnh hại chính là ghẻ sẹo (Elsinoe fawcetti Bil et Jenk), loét quả (Xanthomomas campestris pv. Citri), vàng lá thối rễ.
-
BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ MẶN VÀ ĐỘ ẨM ĐẾN SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT CỦ DỀN BOHAN F1 (Beta vulgaris L.)
Abstract : 1 PDF: 1Biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu đối với các vùng ven biển đồng bằng sông Cửu Long. Nông dân bị thiệt hại trong bối cảnh nước biển xâm nhập vào vùng đồng bằng ngày càng cao. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục tiêu đánh giá ảnh hưởng của hạn và mặn (độ ẩm và độ mặn) đến sinh trưởng và năng suất cây củ dền (Beta vulgaris L.) Bohan F1 trồng trong điều kiện nhà lưới. Thí nghiệm trồng chậu được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên 2 nhân tố (nhân tố 1: Độ mặn (S) gồm 4 nghiệm thức 0‰, 2‰, 4‰, 6‰; nhân tố 2: Độ ẩm (M) gồm 5 nghiệm thức 50%, 60%, 70%, 80%, 90% thủy dung đồng ruộng) với 4 lần lặp lại. Các chỉ tiêu sinh trưởng như chiều dài lá, chiều rộng lá và các chỉ tiêu năng suất như: Chiều cao củ, đường kính củ, khối lượng củ/chậu được đánh giá. Kết quả cho thấy, độ mặn càng cao, các chỉ tiêu năng suất (đường kính củ, chiều cao củ, khối lượng củ/chậu) của củ dền càng thấp. Độ ẩm càng cao các chỉ tiêu sinh trưởng và năng suất củ dền càng cao. Củ dền cho năng suất đạt trên 50% trong điều kiện đất được xử lý mặn đến 6‰ và độ ẩm đạt từ 70% thủy dung đồng ruộng trở lên so với đất không mặn và được tưới đầy đủ.
-
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CHỌN CÂY TRỘI VÀ KHẢO NGHIỆM GIỐNG TRONG CHỌN GIỐNG CÂY RỪNG
Abstract : 1 PDF: 0Chọn cây trội và khảo nghiệm giống là những khâu quan trọng nhất trong các chương trình chọn giống cây rừng. Cây trội (Plus tree) hay cây ưu trội (Superior tree) là cây vượt trội so với các cây còn lại trong quần thể về các chỉ tiêu chọn giống. Chọn cây lấy gỗ hay cây lâm sản ngoài gỗ (LSNG), hoặc cây trồng rừng phòng hộ, đều cần tuân thủ những nguyên tắc cơ bản của chọn lọc cây trội; trong đó quan trọng nhất là chỉ tiêu chọn lọc chính được xác định theo mục tiêu của chương trình chọn giống, giá trị kiểu hình của cây trội phải có độ vượt so với trị số trung bình của quần thể ít nhất 1,5 lần độ lệch chuẩn. Khảo nghiệm giống thông qua khảo nghiệm hậu thế hoặc khảo nghiệm dòng vô tính để đánh giá chất lượng di truyền của cây trội đã chọn theo kiểu hình. Chọn cây trội, khảo nghiệm giống kết hợp với các phương thức nhân giống phù hợp với đặc điểm của từng loài cây và từng mục tiêu chọn giống, có thể tạo ra các rừng trồng có năng suất và chất lượng cao. Lâm nghiệp gia đình - nhân vô tính (Family forestry via vegetative multiplication) là phương thức trồng rừng bằng cây hom nhân từ cây hạt ở giai đoạn vườn ươm là hậu thế cây trội đã di truyền được các đặc tính mong muốn. Lâm nghiệp - dòng vô tính (Clonal forestry) là phương thức trồng rừng bằng cây vô tính (Cây ghép, cây mô hặc cây hom) nhân từ cây ưu việt được xác định qua khảo nghiệm dòng vô tính.
-
XÂY DỰNG HỆ THỐNG ĐẾM SÂU KEO MÙA THU (Spodoptera frugiperda J. E. Smith) TRONG KIỂM SOÁT CANH TÁC NGÔ (Zea mays L.) TẠI VIỆT NAM
Abstract : 1 PDF: 1Sâu keo mùa thu (Spodoptera frugiperda J. E. Smith) là một trong những loài gây hại nghiêm trọng cho cây ngô (Zea mays L.). Tại Việt Nam, sự thiếu hụt về mặt cơ sở hạ tầng đã gây hạn chế cho việc tổng hợp số liệu về sự xuất hiện của quần thể sâu keo mùa thu trên đồng ruộng. Bài báo này giới thiệu về thiết bị đếm sâu keo mùa thu trưởng thành tự động và đưa ra cổng thông tin cung cấp số liệu cập nhật theo thời gian thực về diễn biến của sâu keo mùa thu tại Việt Nam. Cụ thể, thiết bị được thiết kế dựa trên bẫy sâu trưởng thành sử dụng pheromone. Các cảm biến được tích hợp vào thiết bị nhằm đếm số lượng sâu trưởng thành bị bẫy và thu thập thông số môi trường, bao gồm nhiệt độ và độ ẩm không khí. Trong điều kiện nhà lưới, thiết bị đếm sâu đã thể hiện tính hiệu quả trong việc bẫy sâu trưởng thành dựa vào pheronome và sự chính xác trong việc đếm sâu bị bẫy. Toàn bộ dữ liệu tại các vị trí đặt bẫy, bao gồm số lượng sâu bẫy theo thời gian thực và thông số môi trường được phân tích bằng công cụ học máy, từ đó cung cấp thông qua trình duyệt web và ứng dụng điện thoại. Kết quả của nghiên cứu này đề xuất một giải pháp hữu hiệu trong việc bẫy và đếm sâu, từ đó đưa ra cảnh báo về sự xuất hiện của sâu keo mùa thu tại Việt Nam.
-
SO SÁNH HIỆU QUẢ CỦA DỊCH CHIẾT LÁ KÈO NÈO VÀ LÁ SẦU ĐÂU LÊN ĐỘ BỀN HOA CẮT CÀNH Ở HOA HỒNG (Rosa hybrida L.) VÀ HOA CÚC (Chrysanthemum morifolium Ramat)
Abstract : 1 PDF: 1Độ bền hoa cắt cành là một trong các đặc điểm quan trọng của hoa và cũng là yếu tố thách thức chính của ngành công nghiệp hoa tươi. Các loài hoa cắt cành khác nhau sẽ có độ bền hoa khác nhau. Trong nghiên cứu này, độ bền của hoa cắt cành ở hoa Hồng vàng và hoa Cúc vàng được điều tra thông qua việc sử dụng hai loại dịch chiết lá Kèo nèo (Limnocharis flava) và lá Sầu đâu (Azadirachta indica). Các nhánh hoa được ngâm trong dung dịch có 200 mL chứa 1% dịch chiết lá Kèo nèo hoặc 1% dịch chiết lá Sầu đâu hoặc đối chứng (nước) và được đặt ở nhiệt độ phòng. Các đặc điểm như độ bền hoa cắt cành, khối lượng tươi tương đối, hàm lượng anthocyanin và mật số vi khuẩn được ghi nhận lại. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, dịch chiết lá Kèo nèo và lá Sầu đâu giúp cho độ bền hoa cắt cành tăng lên 1 ngày đến 2 ngày. Mật số vi khuẩn ở nghiệm thức đối chứng (1,6*103 CFU/mL đối với hoa Cúc vàng và 0,8*103 CFU/mL ở hoa Hồng vàng) cao nhất so với nghiệm thức có chứa 1% lá Kèo nèo (0,4*103 CFU/mL ở hoa Hồng vàng và 0,8*103 CFU/mL ở hoa Cúc vàng) và nghiệm thức có chứa 1% lá Sầu đâu (0,1*103 CFU/mL ở hoa Hồng vàng và 0,4*103 CFU/mL ở hoa Cúc vàng). Ngược lại, hàm lượng anthocyanin ở nghiệm thức 1% dịch chiết lá Kèo nèo (0,019 g.FW ở hoa Cúc vàng và 0,02 g.FW ở hoa Hồng vàng) cao nhất so với nghiệm thức đối chứng (0,012 g.FW ở hoa Cúc vàng và 0,016 g.FW ở hoa Hồng vàng) và nghiệm thức chứa 1% dịch chiết lá Sầu đâu (0,033 g.FW ở hoa Hồng vàng và 0,025 g.FW ở hoa Cúc vàng).
-
TỐI ƯU HÓA TỶ LỆ ENZYME PECTINASE VÀ THỜI GIAN TRÍCH LY QUẢ DÂU TẰM (Morus alba L. Morus acidosa)
Abstract : 1 PDF: 0Trong nghiên cứu này, phương pháp bề mặt đáp ứng được sử dụng để tối ưu hóa các điều kiện trích ly quả dâu tằm. Nghiên cứu được thiết kế tối ưu hóa tỷ lệ enzyme pectinase bổ sung 0,03% - 0,05% (w/v) và thời gian trích ly là 30 phút đến 90 phút ở nhiệt độ 45oC để thu được dịch trích có hiệu suất thu hồi (HSTH) cao và chứa nhiều nhất các hoạt chất sinh học polyphenol (TPC), flavonoid (TFC) và anthocyanin (AC). Các thông số tối ưu được chọn gồm: 0,041% enzyme pectinase bổ sung và 62,9 phút sẽ thu được dịch trích với HSTH là 90,1%, các hợp chất TPC, TFC và AC lần lượt là 354,7 mg/L, 313,6 mg/L và 143,7 mg/L.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA HỖN HỢP DUNG DỊCH KEO NHỰA THÔNG - ĐỒNG SUNPHAT ĐẾN CHẤT LƯỢNG BỀ MẶT VÀ ĐỘ BÁM DÍNH MÀNG SƠN TRÊN BỀ MẶT GỖ BỒ ĐỀ
Abstract : 1 PDF: 1Nhựa thông là một sản phẩm có đặc tính kỵ nước rất tốt và thân thiện với con người. Trong nghiên cứu này, gỗ Bồ đề (Styrax tonkinensis Pierre) trước khi sơn phủ polyurethane (PU), đã được xử lý ngâm tẩm bởi hỗn hợp của 1%, 2% và 4% dung dịch keo nhựa thông với 3% đồng sunphat, đồng thời ảnh hưởng của việc xử lý bởi keo nhựa thông - đồng sunphat đến một số đặc tính bề mặt như độ biến màu, độ bóng bề mặt và độ bám dính của màng sơn trên bề mặt gỗ đã xử lý cũng được nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Sử dụng kết hợp keo nhựa thông - đồng sunphat để xử lý ngâm tẩm cho gỗ Bồ đề không ảnh hưởng đến khả năng thẩm thấu của hợp chất bảo quản vào trong gỗ. Tuy nhiên, bề mặt của gỗ được xử lý bởi hỗn hợp keo nhựa thông - đồng sunphat đã trở nên hơi sẫm màu hơn, nhưng không tác động tiêu cực đến màu sắc và độ bóng của màng sơn trên bề mặt gỗ đã ngâm tẩm. Hơn nữa, gỗ sau khi được xử lý bảo quản bởi hỗn hợp keo nhựa thông - đồng sunphat có thể cải thiện độ bám dính của màng sơn trên bề mặt gỗ. Khi nồng độ dung dịch keo nhựa thông tăng lên thì độ bám dính của màng sơn có xu hướng giảm nhẹ nhưng không ảnh hưởng rõ ràng đến độ biến màu cũng như độ bóng của màng sơn trên bề mặt gỗ.
-
ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NƯỚC SÔNG NGHÈN ĐOẠN CHẢY QUA TỈNH HÀ TĨNH NĂM 2021
Abstract : 1 PDF: 0Nhằm đánh giá chất lượng nước sông Nghèn, nghiên cứu được thực hiện tại 18 vị trí trên sông Nghèn đoạn chảy qua tỉnh Hà Tĩnh vào tháng 11 năm 2021. Kết quả cho thấy, đa số các thông số chất lượng nước sông Nghèn đều nằm trong giới hạn cho phép của QCVN 08 - MT: 2015/BTNMT, một số thông số TSS, COD, BOD5, Fe vượt giới hạn cho phép của QCVN 08 - MT: 2015/BTNMT từ 1,1 lần đến 3,4 lần. Nhìn chung, chất lượng nước sông ở các đoạn nghiên cứu có sự biến động ở mức xấu - trung bình - khá; chỉ số chất lượng nước (WQI) của nước sông Nghèn dao động từ 40 - 87. Sông Nghèn đoạn chảy qua thị xã Hồng Lĩnh có chất lượng xấu - trung bình do chịu ảnh hưởng của nguồn nước thải từ hoạt động sản xuất công nghiệp. Điều này cho thấy cần có các biện pháp quản lý và bảo vệ tốt hơn chất lượng nước sông Nghèn đoạn chảy qua tỉnh Hà Tĩnh.
-
NGHIÊN CỨU TẠO VẮC XIN VÔ HOẠT PHÒNG BỆNH HOẠI TỬ THẦN KINH TRÊN CÁ MÚ (Epinephelus sp.) QUY MÔ PHÒNG THÍ NGHIỆM
Abstract : 1 PDF: 0Bệnh hoại tử thần kinh là bệnh cấp tính, gây chết hàng loạt cá mú ở giai đoạn ấu trùng và cá bột. Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu tạo vắc xin bất hoạt phòng bệnh hoại tử thần kinh cho cá mú nuôi ở quy mô phòng thí nghiệm. Chủng vi rút gây bệnh hoại tử thần kinh TB05 được phân lập từ tỉnh Thái Bình có độc lực là TCID50 = 106,8 và LD50 = 107,5 được lựa chọn làm chủng nghiên cứu chế tạo vắc xin. Vi rút được bất hoạt bằng beta - propiolactone 0,1% và phối hợp với hydroxit nhôm để tạo vắc xin. Bằng phương pháp ngâm, vắc xin an toàn đối với cá mú từ giai đoạn ấu trùng đến cá bột, tỷ lệ bảo hộ với các liều công cường độc 0,2 x TCID50, 0,5 x TCID50 và 1 x TCID50 đạt trên 75%. Kết quả của nghiên cứu làm tiền đề cho việc sản xuất vắc xin phòng ngừa bệnh hoại tử thần kinh cho cá mú, giúp phát triển bền vững nghề nuôi cá mú tại Việt Nam.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA CHU KỲ BỔ SUNG ĐƯỜNG CÁT TRONG ƯƠNG ẤU TRÙNG TÔM CÀNG XANH (Macrobrachium rosenbergii) BẰNG CÔNG NGHỆ BIOFLOC
Abstract : 2 PDF: 1Nghiên cứu nhằm xác định chu kỳ bổ sung đường cát thích hợp cho tăng trưởng, tỷ lệ sống, năng suất của ấu trùng và hậu ấu trùng tôm càng xanh ương bằng công nghệ biofloc. Nghiên cứu gồm 5 nghiệm thức chu kỳ bổ sung đường cát là: (i) 1 lần/ngày; (ii) 1 lần/2 ngày; (iii) 1 lần/3 ngày; (iv) 1 lần/4 ngày; (v) 1 lần/5 ngày, mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần, bể ương tôm bằng composite có thể tích 0,5 m3, bổ sung đường cát từ giai đoạn 4, tỷ lệ C/N = 17,5/1, độ mặn 12‰. Kết quả nghiên cứu cho thấy, ở nghiệm thức chu kỳ bổ sung đường cát 1 lần/ngày cho kết quả tăng trưởng chiều dài postlarvae15 (PL15) cao nhất (10,35 ± 0,03 mm) khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) so với các nghiệm thức còn lại. Tỷ lệ sống (48,2 ± 0,81%) và năng suất (28.888 ± 485 con/m3) của PL15 cao nhất ở nghiệm thức bổ sung đường cát 1 lần/ngày khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) so với nghiệm thức chu kỳ bổ sung đường cát 1 lần/2 ngày, nhưng khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) so với các nghiệm thức còn lại. Vì vậy có thể kết luận rằng, ương ấu trùng tôm càng xanh theo công nghệ biofloc bổ sung đường cát 1 lần/ngày là tốt nhất.
-
QUẢN LÝ DỮ LIỆU ĐA DẠNG SINH HỌC NẤM LỚN TẠI VƯỜN QUỐC GIA XUÂN SƠN PHỤC VỤ CHO MỤC ĐÍCH BẢO TỒN
Abstract : 1 PDF: 0Bài báo này trình bày kết quả xây dựng cơ sở dữ liệu nấm lớn tại Vườn Quốc gia (VQG) Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ. Kết quả tổng hợp 127 mẫu tại VQG Xuân Sơn phát hiện được 57 loài nấm lớn, 44 loài đã xác định và 13 mẫu chưa xác định được thành phần loài. Cơ sở dữ liệu nấm lớn tại VQG Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ gồm 3 bộ, 8 họ, 19 chi và 57 loài nấm. Nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp như: Phát triển và ứng dụng cơ sở dữ liệu trong công tác bảo tồn loài nấm; tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường; kỹ thuật, nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế. Kết quả nghiên cứu này cung cấp một số thông tin về nguồn dữ liệu đa dạng sinh học nấm lớn tại VQG Xuân Sơn phục vụ công tác quản lý nguồn dữ liệu và bảo tồn nấm lớn.
-
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC TÀI CHÍNH BỀN VỮNG VƯỜN QUỐC GIA CÁT TIÊN GIAI ĐOẠN 2021 - 2030
Abstract : 1 PDF: 0Nghiên cứu xây dựng chiến lược tài chính bền vững Vườn Quốc gia (VQG) Cát Tiên giai đoạn 2021 - 2030 là một nội dung trong dự án “Bảo tồn, sử dụng bền vững đa dạng sinh học và các dịch vụ hệ sinh thái rừng tại Việt Nam” (dự án GIZ - Bio) do tổ chức Hợp tác phát triển Đức (GIZ) và Bộ Nông nghiệp và PTNT phối hợp thực hiện. Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá hiện trạng, ước lượng nhu cầu và xác định các khoảng trống về tài chính. Từ đó đề xuất các giải pháp huy động tài chính nhằm hỗ trợ VQG Cát Tiên trong việc thực hiện phương án quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững VQG Cát Tiên giai đoạn 2021 - 2030 (Phương án QLRBV). Kết quả nghiên cứu cho thấy, các nguồn tài chính của VQG Cát Tiên khá đa dạng nhưng hầu hết không ổn định. Trong giai đoạn 2021 - 2030, VQG Cát Tiên cần từ 1.060 tỷ đồng đến 1.154 tỷ đồng để thực hiện các hạng mục đầu tư trong phương án QLRBV. Tuy nhiên, với các nguồn lực hiện có, VQG Cát Tiên sẽ bị thiếu khoảng 169,7 tỷ đồng đến 236,6 tỷ đồng. Vì vậy, VQG Cát Tiên cần áp dụng đồng thời một số giải pháp nhằm huy động thêm nguồn lực tài chính và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực huy động được. Việc áp dụng các giải pháp này không chỉ giúp VQG Cát Tiên có đủ nguồn lực thực hiện phương án QLRBV mà còn giúp VQG đẩy nhanh quá trình tự chủ tài chính.
-
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI KIẾN THỨC VỀ DỊCH TẢ LỢN CHÂU PHI CỦA NÔNG HỘ TẠI TỈNH ĐỒNG NAI
Abstract : 1 PDF: 1Nghiên cứu này nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới kiến thức về dịch tả lợn châu Phi tại tỉnh Đồng Nai thông qua khung phân tích KAP (Knowledge - Attitude - Practice). Số liệu sơ cấp được thu thập từ 140 hộ chăn nuôi lợn. Kết quả khảo sát cho thấy, các hộ nắm được kiến thức căn bản về các triệu chứng và cách phòng ngừa dịch tả lợn châu Phi. Kết xuất từ mô hình Ordered Probit chỉ ra các yếu tố bao gồm quy mô hộ, thu nhập, quy mô đàn lợn và khoảng cách các trang trại gần nhất có ảnh hưởng tới kiến thức của hộ chăn nuôi về triệu chứng của dịch bệnh. Trong đó, quy mô hộ có tác động lớn nhất (Exp(β) = 0,894) với tương quan ngược chiều (β = - 0,112). Như vậy, nông hộ có càng nhiều nhân khẩu thì lại có xu hướng quan tâm ít hơn tới dịch bệnh, khiến mức độ hiểu biết về dịch bệnh giảm đi, điều này sẽ dẫn đến các rủi ro về lây nhiễm khi dịch bệnh truyền nhiễm xuất hiện. Vì vậy, cần tăng cường đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục, khuyến nông trên các phương tiện thông tin đại chúng; đảm bảo thông tin chính xác, kịp thời để người nông dân nắm vững và hiểu rõ hơn các đặc điểm và triệu chứng về dịch tả lợn châu Phi, qua đó có các biện pháp phòng ngừa hiệu quả hơn.
-
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ XÂY DỰNG LÀNG THÔNG MINH TRONG CHƯƠNG TRÌNH NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM
Abstract : 1 PDF: 0Làng thông minh đã được nhiều quốc gia đề cập, như là một trụ cột trong phát triển xây dựng các vùng nông thôn song hành với phát triển đô thị. Lý luận về làng thông minh dựa vào mục tiêu phát triển bền vững là xu hướng để xây dựng một cuộc sống tốt hơn cho khu vực nông thôn. Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu về cơ sở lý luận xây dựng chức năng các trụ cột của mô hình làng thông minh trong mối quan hệ với phát triển nông thôn mới ở Việt Nam. Kết quả cho thấy, kinh nghiệm quốc tế bao gồm ở các nước châu Á và đặc biệt ở châu Âu cũng như cở sở pháp lý và các kinh nghiệm bước đầu ở Việt Nam đã được trình bày và thảo luận. Các gợi ý về đề xuất chính sách cho Việt Nam cũng đã được đề cập trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và kỹ thuật số. Khung pháp lý, thể chế chính sách làng thông minh đang từng bước hoàn thiện và lồng ghép vào các chiến lược phát triển nông thôn bền vững. Phát triển làng thông minh cần có một lộ trình bài bản, bao gồm xây dựng tiêu chí, thí điểm mô hình phát triển làng thông minh, kết nối và nhân rộng làng thông minh trong bối cảnh thực hiện khung chính sách về phát triển nông thôn bền vững nói chung ở Việt Nam và Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 - 2030 nói riêng.
-
ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, NÔNG HỌC VÀ ĐA DẠNG DI TRUYỀN CỦA MẪU GIỐNG MƯỚP ĐẮNG RỪNG (Momordica charantia L. Var. abbreviata Ser.)
Abstract : 1 PDF: 0Mướp đắng rừng (Momordica charantia L. Var. abbreviata Ser.) được sử dụng rộng rãi như là một loại thực phẩm và thảo dược truyền thống. Tổng số 12 mẫu giống mướp đắng rừng thu thập ở các vùng sinh thái được đánh giá kiểu hình, đa dạng di truyền và mối tương quan các tính trạng tại Tam Đảo, Vĩnh Phúc. Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khảo sát tập đoàn. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các mẫu giống mướp đắng rừng được chia làm 3 nhóm ở mức tương đồng 15%. Năng suất thực thu các mẫu mướp đắng rừng dao động trong khoảng 0,36 tấn/ha đến 2,45 tấn/ha và có tương quan thuận ở mức trung bình với chiều rộng lá (0,40) và tỷ lệ đậu quả (0,55). Kết quả này là bước đánh giá quan trọng, làm tiền đề cho công tác chọn tạo giống sau này.








