SO SÁNH HIỆU QUẢ CỦA DỊCH CHIẾT LÁ KÈO NÈO VÀ LÁ SẦU ĐÂU LÊN ĐỘ BỀN HOA CẮT CÀNH Ở HOA HỒNG (Rosa hybrida L.) VÀ HOA CÚC (Chrysanthemum morifolium Ramat)

Các tác giả

  • Trịnh Ngọc Ái, Nguyễn Hoàng Lâm, Lê Văn Thức, Nguyễn Minh Hiệp, Trần Thị Thúy Liểu, Trần Thị Kim Như

DOI:

https://doi.org/10.71254/7a01ag51

Abstract

The longevity of cut flowers is considered as one of most important the characteristics and also the main challenged factors of floricultural industry. The vase life depends on different cultivars. In this study, the longevity and quality of chrysanthemum (Chrysanthemum morifolium Ramat) and rose (Rosa hybrida L.) cut - flowers were investigated by two kind of leaf extracts (Neem and Keo neo). The flowers were held into 200 mL solution, containing 1% leaf extracts from Neem extract or Keo neo extract or water (control) at room temperature. Traits such as vase life, relative fresh weight, anthocyanin content, and stem bacteria counting were measured. The results indicated that Keo neo and Neem extracts increased vase life duration upto 1 days - 2 days. For control, the number of bacteria was 1.6*103 CFU/mL in chrysanthemum and 0.8*103 CFU/mL in rose, comparing to 1% Keo neo extraction (0.4*103 CFU/mL in rose and 0.8*103 CFU/mL in chrysanthemum) and 1% Neem extraction (0.1*103 CFU/mL in rose and 0.4*103 CFU/mL in chrysanthemum). In the constract, anthocyanin content was 0.019 g.FW in chrysanthemim and 0.02 g.FW in rose) for 1% Keo neo extracts, comparing to control (0.012 g.FW in chrysanthemum and 0.016 g.FW in rose) and 1% Neem extract (0.033 g.FW in rose and 0.025 g.FW in chrysanthemum).

Keywords:

Chrysanthemum morifolium, cut flowers, Keo neo extract, Neem extract, Rose hybrid, vase life.

Tóm tắt

Độ bền hoa cắt cành là một trong các đặc điểm quan trọng của hoa và cũng là yếu tố thách thức chính của ngành công nghiệp hoa tươi. Các loài hoa cắt cành khác nhau sẽ có độ bền hoa khác nhau. Trong nghiên cứu này, độ bền của hoa cắt cành ở hoa Hồng vàng và hoa Cúc vàng được điều tra thông qua việc sử dụng hai loại dịch chiết lá Kèo nèo (Limnocharis flava) và lá Sầu đâu (Azadirachta indica). Các nhánh hoa được ngâm trong dung dịch có 200 mL chứa 1% dịch chiết lá Kèo nèo hoặc 1% dịch chiết lá Sầu đâu hoặc đối chứng (nước) và được đặt ở nhiệt độ phòng. Các đặc điểm như độ bền hoa cắt cành, khối lượng tươi tương đối, hàm lượng anthocyanin và mật số vi khuẩn được ghi nhận lại. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, dịch chiết lá Kèo nèo và lá Sầu đâu giúp cho độ bền hoa cắt cành tăng lên 1 ngày đến 2 ngày. Mật số vi khuẩn ở nghiệm thức đối chứng (1,6*103 CFU/mL đối với hoa Cúc vàng và 0,8*103 CFU/mL ở hoa Hồng vàng) cao nhất so với nghiệm thức có chứa 1% lá Kèo nèo (0,4*103 CFU/mL ở hoa Hồng vàng và 0,8*103 CFU/mL ở hoa Cúc vàng) và nghiệm thức có chứa 1% lá Sầu đâu (0,1*103 CFU/mL ở hoa Hồng vàng và 0,4*103 CFU/mL ở hoa Cúc vàng). Ngược lại, hàm lượng anthocyanin ở nghiệm thức 1% dịch chiết lá Kèo nèo (0,019 g.FW ở hoa Cúc vàng và 0,02 g.FW ở hoa Hồng vàng) cao nhất so với nghiệm thức đối chứng (0,012 g.FW ở hoa Cúc vàng và 0,016 g.FW ở hoa Hồng vàng) và nghiệm thức chứa 1% dịch chiết lá Sầu đâu (0,033 g.FW ở hoa Hồng vàng và 0,025 g.FW ở hoa Cúc vàng).

Từ khóa:

Dịch chiết lá Kèo nèo, dịch chiết lá Sầu đâu, độ bền hoa cắt cành, hoa cắt cành, hoa cúc, hoa hồng.

Tải xuống

Ngày nhận bài:

13-07-2026

Ngày nhận bài sửa:

26-08-2026

Ngày duyệt đăng:

26-08-2026

Ngày xuất bản:

30-03-2022

Title:

COMPARISION EFFECTIVENESS OF KEO NEO AND NEEM EXTRACT ON VASE LIFE OF ROSE (Rosa hybrida L.) AND CHRYSANTHEMUM (Chrysanthemum morifolium Ramat) CUT FLOWERS
Cách trích dẫn
SO SÁNH HIỆU QUẢ CỦA DỊCH CHIẾT LÁ KÈO NÈO VÀ LÁ SẦU ĐÂU LÊN ĐỘ BỀN HOA CẮT CÀNH Ở HOA HỒNG (Rosa hybrida L.) VÀ HOA CÚC (Chrysanthemum morifolium Ramat). (2022). Tạp Chí Nông nghiệp Và Môi trường, 6, 36-42. https://doi.org/10.71254/7a01ag51
Bài viết

Các trích dẫn

SO SÁNH HIỆU QUẢ CỦA DỊCH CHIẾT LÁ KÈO NÈO VÀ LÁ SẦU ĐÂU LÊN ĐỘ BỀN HOA CẮT CÀNH Ở HOA HỒNG (Rosa hybrida L.) VÀ HOA CÚC (Chrysanthemum morifolium Ramat). (2022). Tạp Chí Nông nghiệp Và Môi trường, 6, 36-42. https://doi.org/10.71254/7a01ag51
Lượt xem
1
Lượt tải
1