Số 16 (2024)

					Xem Số 16 (2024)
Đã Xuất bản: 30-08-2024

Bài viết

  • NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA KHÔ HẠN TRONG GIAI ĐOẠN PHÂN HÓA MẦM HOA ĐẾN KHẢ NĂNG RA HOA CỦA GIỐNG BƯỞI DA XANH (Citrus maxima) TRỒNG TRÊN ĐẤT XÁM TẠI TỈNH BÌNH DƯƠNG

    Abstract : 424 PDF: 0
    Nguyễn An Đệ, Ngô Quang Vinh, Ngô Viễn Phương, Phạm Hiếu Kiên
    3-10

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định thời gian khô hạn phù hợp trong giai đoạn phân hóa mầm hoa, từ đó làm tăng khả năng ra hoa của giống bưởi Da Xanh. Thí nghiệm được thực hiện trên vườn bưởi Da Xanh 8 năm tuổi, trồng trên đất xám tại tỉnh Bình Dương, bố trí theo kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên, 4 công thức, 5 lần lặp lại, mỗi công thức 1 cây. Các công thức là 4 mức độ khô hạn trong giai đoạn phân hóa mầm hoa (tạo khô hạn 10, 15, 20 ngày và đối chứng là 25 ngày). Kết quả cho thấy, ẩm độ đất trong giai đoạn phân hóa mầm hoa và số hoa hình thành có tương quan nghịch với nhau; công thức khô hạn 20 ngày tương ứng ẩm độ đất 22,8% giúp số hoa hình thành nhiều nhất so với các công thức còn lại.

    DOI: https://doi.org/10.71254/096k7m39
  • KẾT QUẢ XÁC ĐỊNH TÊN KHOA HỌC VÀ PHÂN TÍCH HÀM LƯỢNG AXIT CLOROGENIC CỦA CÁC MẪU KIM NGÂN THU TẠI TỈNH ĐẮK LẮK

    Abstract : 588 PDF: 0
    Trần Thị Lan, Nguyễn Quang Tin, Nguyễn Quỳnh Nga, Nguyễn Thị Phương, Võ Thuận Hóa, Nguyễn Văn Tâm
    11-17

    Dược liệu kim ngân được sử dụng phổ biến ở các nước châu Á. Trong nghiên cứu này, 7 mẫu kim ngân đã được giám định và đánh giá hoạt chất. Kết quả giám định tên khoa học của 7 mẫu thu thập cho thấy, có 1 mẫu thuộc loài Lonicera japonica Thunb., 1 mẫu thuộc loài Lonicera sinomacrantha Z. H. Chen, L. X. Ye & X. F. Jin., 5 mẫu kim ngân còn lại thuộc 2 loài khác của chi Lonicera, họ Caprifoliaceae. Hàm lượng axit clorogenic của các mẫu thu thập biến động từ 0,04 - 0,44%. Trong đó, mẫu thuộc loài Lonicera japonica Thunb. có hàm lượng axit clorogenic cao nhất nên được khuyến cáo mở rộng vùng trồng. Kết quả giám định tên khoa học và phân tích hàm lượng axit clorogenic này cung cấp dữ liệu nhận diện các loài kim ngân địa phương và định hướng phát triển vùng sản xuất dược liệu kim ngân tại tỉnh Đắk Lắk.

    DOI: https://doi.org/10.71254/rp92fc84
  • KHẢO SÁT CƠ CHẾ KÍCH KHÁNG BỆNH BẠC LÁ KHI PHUN LÊN LÁ LÚA CAO CHIẾT LÁ SỐNG ĐỜI LY TRÍCH BẰNG DUNG MÔI METHANOL

    Abstract : 477 PDF: 0
    Nguyễn Trần Bảo Duy, Trương Văn Xạ, Nguyễn Đắc Khoa
    18-28

    Bạc lá (cháy bìa lá) do vi khuẩn Xanthomonas oryzae pv. oryzae là một trong những bệnh gây hại trên ruộng lúa. Nghiên cứu này khảo sát cơ chế kích thích tính kháng bệnh lưu dẫn (kích kháng) trong cây lúa liên quan đến khả năng giúp giảm bệnh khi phun lên lá lúa cao chiết lá sống đời (Kalanchoe pinnata) ly trích bằng phương pháp tách chiết lỏng - lỏng với dung môi methanol. Ba nồng độ cao chiết (1; 1,5; 2%) và ba biện pháp phun gồm: (1) phun ở thời điểm 14 ngày trước chủng bệnh (NTCB), (2) phun ở thời điểm 7 NTCB và (3) phun kết hợp cả hai thời điểm này được sử dụng để khảo sát khả năng giúp giảm bệnh trong điều kiện nhà lưới. Phun cao chiết 1% lên lá lúa ở thời điểm 14 NTCB giúp giảm chiều dài vết bệnh, tương đương với đối chứng dương sử dụng thuốc hóa học Starner 20WP ở tất cả các thời điểm khảo sát. Kết quả khảo sát hoạt tính của bốn enzyme liên quan đến cơ chế kháng bệnh gồm: Peroxidase, catalase, polyphenol oxidase và phenylalanine ammonia lyase cho thấy, khả năng giúp giảm bệnh cháy bìa lá của cao chiết lá sống đời có liên quan đến cơ chế kích kháng. Hoạt tính của cả bốn enzyme tăng sớm khi cây lúa được xử lý với cao chiết và tăng cao hơn khi có sự hiện diện của cả mầm bệnh và cao chiết.

    DOI: https://doi.org/10.71254/xkyfpa82
  • NGHIÊN CỨU MỨC ĐỘ PHÁT THẢI KHÍ NHÀ KÍNH TỪ ĐỆM LÓT SINH HỌC ĐƯỢC LÀM TỪ RƠM VÀ VỎ CÂY KEO TRONG CHĂN NUÔI BÒ THỊT

    Abstract : 431 PDF: 0
    Nguyễn Thị Hiển, Nguyễn Đức Lương, Hoàng Hiệp
    29-42

    Để góp phần tìm ra hướng giảm phát thải khí nhà kính (KNK) từ chất thải chăn nuôi, nghiên cứu đã tiến hành đánh giá mức độ phát thải các KNK từ đệm lót sinh học được làm từ rơm và vỏ cây keo trong chăn nuôi bò thịt. Thí nghiệm được thực hiện trên diện tích chuồng 100 m2, nuôi 20 con bò, theo dõi thí nghiệm trong 54 ngày với 6 lần lấy mẫu. Kết quả cho thấy, sự phát thải các KNK giai đoạn đầu sử dụng đệm lót chủ yếu là quá trình phân hủy hiếu khí, lượng phát thải CO2 khá lớn và đạt cực đại trong khoảng từ 21 - 32 ngày, sau đó phát thải CO2 giảm, quá trình yếm khí trở nên chiếm ưu thế. Trong 42 ngày đầu, phát thải CH4 rất thấp, chỉ từ 0,6 g/tấn đệm lót khô/ngày đến 151 g/tấn đệm lót khô/ngày; sau đó tăng lên rất mạnh ở lần lấy mẫu 54 ngày, lên tới 2,28 kg/tấn đệm lót khô/ngày và được dự đoán còn tiếp tục tăng. Phần mềm thống kê IBM SPSS (2023) cho kết quả sự phát thải CH4 tỉ lệ thuận với mật độ vi sinh vật (VSV) và nhiệt độ, trong khi tỉ lệ nghịch với độ xốp của đệm lót. Phát thải N2O đạt cực đại ở ngày thứ 32 sau đó giảm mạnh. Phát thải CH4 tăng rất nhanh sau 42 ngày sử dụng đệm lót, trong khi phát thải CO2 và N2O đều giảm. So sánh hệ số phát thải quy đổi trung bình theo 42 ngày (F42) và 54 ngày (F42) cho thấy, F42 nhỏ hơn nhiều so với F54. Như vậy, đệm lót sinh học nên được thay thế hoặc thay thế một phần sau 42 ngày sử dụng để hạn chế phát thải methane. Bên cạnh đó, các chỉ tiêu H2S, NH3 và SO2 của mẫu không khí xung quanh chuồng nuôi ở các đợt lấy mẫu đều rất thấp so với giới hạn cho phép của QCVN 01-79:2011/BNNPTNT.

    DOI: https://doi.org/10.71254/k4p8jj93
  • NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA TỈ LỆ DỊCH KHOAI LANG TÍM BỔ SUNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG SỮA CHUA DẺO

    Abstract : 761 PDF: 0
    Nguyễn Thị Ngọc Dễ, Châu Minh Tân, Nguyễn Bảo Lộc
    43-50

    Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá ảnh hưởng của tỉ lệ dịch khoai lang tím (KLT) bổ sung vào quy trình sản xuất sữa chua dẻo. Nghiên cứu đã tiến hành khảo sát tỉ lệ dịch KLT bổ sung so với hỗn hợp sữa (0, 25, 50, 75, 100% v/v) thông qua đánh giá các chỉ tiêu bao gồm tính chất cơ lý (độ cứng, độ nhớt, pH, giá trị màu sắc về độ sáng L* và thành phần hóa học (hàm lượng axit lactic và hàm lượng anthocyanin) theo thời gian lên men (0, 2, 4, 6, 8 giờ). Kết quả cho thấy, so với mẫu đối chứng thì tỉ lệ bổ sung 75% (v/v) dịch KLT vào quy trình sản xuất sữa chua dẻo sẽ làm giảm độ cứng, độ nhớt và độ chua, lần lượt là 1,97; 1,3; 1,03 lần. Tuy nhiên, hàm lượng anthocyanin tăng xấp xỉ 80 lần.

    DOI: https://doi.org/10.71254/c6ttd856
  • TỐI ƯU HOÁ MỘT SỐ YẾU TỐ CÔNG NGHỆ TRONG QUÁ TRÌNH LÊN MEN HÀNH ĐEN BẰNG PHƯƠNG PHÁP NHIỆT ẨM

    Abstract : 515 PDF: 0
    Trần Phương Chi, Hoàng Thị Lệ Hằng, Trần Đình Thắng
    51-60

    Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu khảo sát và tối ưu hoá một số yếu tố ảnh hưởng đến công đoạn xử lý nhiệt ẩm trong quá trình chế biến hành đen từ củ hành tím. Các thí nghiệm được bố trí theo phương án quy hoạch thực nghiệm Box - Behnken (BBD), với 3 yếu tố thực nghiệm tương ứng miền khảo sát gồm: Nhiệt độ xử lý 65 - 75oC, thời gian xử lý 12 - 18 ngày và độ ẩm tương đối của không khí 70 - 90%. Mục tiêu thực nghiệm đa yếu tố gồm hàm lượng phenolic tổng số (mgGAE/g ck), hàm lượng flavonoid tổng số (mgQE/g ck), chất lượng cảm quan (điểm). Tối ưu hóa sử dụng thuật toán hàm mong đợi với hàm lượng phenolic tổng số, hàm lượng flavonoid tổng số, chất lượng cảm quan tương ứng hệ số quan trọng 5/5, 4/5, 4/5. Kết quả đã xác định được chế độ xử lý nhiệt ẩm tối ưu nhằm thu được sản phẩm hành đen có chất lượng tốt, tăng cường hàm lượng các hoạt chất sinh học như sau: Nhiệt độ xử lý 71oC với độ ẩm tương đối 82% trong thời gian 14,9 ngày. Ở điều kiện này, hành đen thu được có hàm lượng phenolic tổng số, flavonoid tổng số và điểm đánh giá chất lượng cảm quan lần lượt là 24,12 ± 0,08 mg GAE/g ck, 6,65 ± 0,03 mgQE/g ck và 18,95 ± 0,09 điểm.

    DOI: https://doi.org/10.71254/95x85f98
  • NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG AXIT ASCORBIC TRONG BẢO QUẢN PUREE BÍ ĐỎ (Cucurbita moschata D.) TIỆT TRÙNG ĐÓNG HỘP

    Abstract : 323 PDF: 0
    Nguyễn Nhật Minh Phương, Trần Như Ảnh, Trần Kim Bảo, Lê Minh Đô, Trần Chí Nhân, Tống Thị Ánh Ngọc
    61-70

    Nghiên cứu nhằm đánh giá sự thay đổi một số chỉ tiêu hóa lý và sự an toàn đối với sức khỏe cộng đồng của puree bí đỏ đóng hộp tiệt trùng. Thí nghiệm khảo sát ảnh hưởng của nồng độ axit ascorbic (0,025, 0,05, 0,10%) bổ sung đến chất lượng của puree bí đỏ trong quá trình bảo quản. Quá trình bảo quản sử dụng phương pháp gia tốc nhiệt (nhiệt độ 60oC, Q10 = 3) trong 28 ngày. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hàm lượng axit ascorbic bổ sung có ảnh hưởng đến giá trị pH, màu sắc và hàm lượng carotenoid. Hàm lượng carotenoid giảm 22% (mẫu bổ sung 0,10% axit ascorbic) sau 756 ngày (thời gian tương đương tại 30oC). Tổng số nấm mốc - nấm men, tổng số vi khuẩn kỵ khí, vi sinh vật mục tiêu Clostridium botulinum không phát hiện, bảo đảm thực phẩm an toàn trong 567 ngày ở nhiệt độ thường (30oC). Sản phẩm puree bí đỏ đóng hộp tiệt trùng (121oC, 5 phút) bổ sung 0,10% axit ascorbic duy trì được chất lượng tốt và an toàn sức khỏe cộng đồng trong 567 ngày bảo quản ở nhiệt độ thường.

    DOI: https://doi.org/10.71254/x6jqfh90
  • ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG DIỆT VI KHUẨN Vibrio parahaemolyticus CỦA CÁC CHẾ PHẨM THIÊN NHIÊN VÀ HIỆU QUẢ CỦA CÁC CHẾ PHẨM TRONG PHÒNGBỆNH TRÊN TÔM CHÂN TRẮNG (Litopenaeus vannamei)

    Abstract : 527 PDF: 0
    Lê Nguyễn Thiên Phúc, Nguyễn Minh Thành
    71-81

    Nghiên cứu này được tiến hành để đánh giá và so sánh khả năng diệt vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus của 4 chế phẩm vi sinh thương mại (VS01, VS02, VS03 và VS04), 3 chế phẩm thảo dược (trầu không, rau má, húng quế) và 3 loại kháng sinh (amoxicillin, tetracycline, doxycycline) dựa vào các chỉ tiêu đường kính vòng vô khuẩn, nồng độ ức chế tối thiểu và nồng độ diệt khuẩn tối thiểu, khả năng diệt vi khuẩn V. parahaemolyticus đang tăng sinh và hiệu quả phòng bệnh của các chế phẩm trên ấu trùng tôm chân trắng Litopenaeus vannamei được gây cảm nhiễm bằng vi khuẩn V. parahaemolyticus. Kết quả đánh giá đã phân loại các chế phẩm và kháng sinh thành 4 nhóm: i) nhóm có hiệu quả diệt khuẩn rất cao bao gồm 3 chế phẩm thảo dược và kháng sinh doxycycline; ii) nhóm có hiệu quả cao bao gồm: 3 chế phẩm vi sinh (VS01, VS02, VS03) và tetracycline; iii) nhóm có hiệu quả trung bình: Amoxicillin; iv) nhóm không có hiệu quả diệt khuẩn: Chế phẩm VS04. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hầu hết các chế phẩm thiên nhiên đều có hiệu quả cải thiện đáng kể tỷ lệ sống của tôm sau khi gây cảm nhiễm, trong đó 3 chế phẩm thảo dược có tỷ lệ sống cao nhất. Nghiên cứu này cung cấp các thông tin về tác dụng diệt khuẩn V. parahaemolyticus của các loại chế phẩm thiên nhiên và ứng dụng các chế phẩm thiên trong phòng bệnh trên tôm chân trắng.

    DOI: https://doi.org/10.71254/xdte1630
  • ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU LÁ VÀ SINH LÝ LOÀI VẸT HAINESII (Bruguiera hainesii C. G. Rogers) TẠI VƯỜN QUỐC GIA CÔN ĐẢO, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

    Abstract : 525 PDF: 0
    Hoàng Thị Thu Trang, Phạm Văn Điển, Trần Việt Hà, Lương Kim Chi, Doãn Cao Cường, Đoàn Thị Thu Hương, Đặng Ngọc Huyền, Phạm Mai Phương, Vũ Đình Duy,
    82-90

    Rừng ngập mặn bao gồm nhiều loại cây nhiệt đới hoặc cây bụi thân gỗ mọc ở vùng tiếp giáp giữa vùng biển và đất liền tạo thành một hệ sinh thái quan trọng về mặt sinh thái. Vẹt hainesii (Bruguiera hainesii  C. G. Rogers), thuộc họ Đước (Rhizophoraceae), là một cây ngập mặn thực thụ. Loài này được ghi nhận phân bố ở khu vực Đầm Quốc (hòn Bà) thuộc quần đảo Côn Sơn, Vườn Quốc gia Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Mục đích của nghiên cứu hiện tại là xác định các đặc điểm sinh lý và cấu tạo giải phẫu từ lá của loài Vẹt haiensii hoang dã được thu thập từ Vườn Quốc gia Côn Đảo. Nghiên cứu cho thấy, các mẫu Vẹt hanessii có nhu cầu ánh sáng cao. Tỷ lệ giữa mô dậu/mô khuyết là 2,46. Hàm lượng diệp lục a là 2,006 mg/l; tỷ lệ diệp lục a/b là 6,22 và cường độ quang hợp là 2,03 mg/dm2. Lá Vẹt hainesii là tầng cutin và lớp biểu bì dày, mật độ khí khổng 235,13/mm2, cường độ thoát hơi nước thấp; sức hút nước của tế bào bằng 21,26 atm. Kết quả cho thấy, Vẹt hainesii có khả năng thích nghi cao với tình trạng khô của mô, cũng như chịu hạn tốt. Lá Vẹt hainesii bị tổn thương nặng ở nhiệt độ 55°C và có thể chết hoàn toàn ở nhiệt độ 60°C. Khả năng chịu nhiệt của Vẹt hainesii là cao, so với nhiệt độ cao nhất ở Vườn Quốc gia Côn Đảo là 34°C thì loài này vẫn phát triển được. Từ kết quả nghiên cứu, sự thích nghi về hình thái và giải phẫu với điều kiện địa phương có thể cho phép cây phát huy tối đa hiệu quả quang hợp.

    DOI: https://doi.org/10.71254/watygr66
  • ẢNH HƯỞNG CỦA CHU KỲ KINH DOANH RỪNG TRỒNG KEO THUẦN LOÀI ĐẾN KHẢ NĂNG THẤM VÀ GIỮ NƯỚC CỦA ĐẤT Ở MỘT SỐ VÙNG ĐẦU NGUỒN VIỆT NAM

    Abstract : 399 PDF: 0
    Kiều Thị Dương, Nguyễn Hưng Thịnh, Bùi Xuân Dũng, Phùng Văn Khoa, Nông Linh Khánh Hạ, Trương Hải Yến
    91-100

    Để đánh giá ảnh hưởng của chu kỳ kinh doanh rừng trồng keo thuần loài đến khả năng thấm, giữ nước của đất ở một số vùng đầu nguồn Việt Nam, nghiên cứu đã tiến hành đo tốc độ thấm nước của đất bằng ống vòng khuyên kép 74 lần. Cụ thể, 20 lần đo đã được thực hiện tại rừng trồng keo lai và 6 lần đo cho đối chứng là rừng tự nhiên và rừng trồng cây bản địa tại tỉnh Phú Thọ ở 5 chu kỳ kinh doanh; 18 lần đo tại rừng trồng keo lai và 6 lần đo đối chứng là rừng tự nhiên cho mỗi tỉnh Nghệ An và Bình Định ở 3 chu kỳ kinh doanh khác nhau. Thời gian cho mỗi lần đo được kéo dài cho đến khi đạt giá trị thấm ổn định dao động từ 120 - 125 phút. Kết quả nghiên cứu cho thấy, sau mỗi chu kỳ kinh doanh, thấm nước của đất dưới rừng trồng keo ở tỉnh Phú Thọ, Nghệ An và Bình Định đều suy giảm và giảm dần theo thời gian đo. Tốc độ thấm ban đầu, tốc độ thấm ổn định, lượng nước thấm tích luỹ sau 2 giờ đều giảm đi trung bình từ 16 - 58% sau mỗi chu kỳ kinh doanh. Thấm nước của đất tại tỉnh Phú Thọ cao hơn ở tỉnh Nghệ An và Bình Định; lượng nước thấm của rừng trồng keo sau mỗi chu kỳ kinh doanh đều nhỏ hơn từ 20 - 57% khi so sánh với rừng trồng cây bản địa và từ 32 - 82% so với rừng tự nhiên đối chứng. Điều này thể hiện rõ năng lực giữ và điều tiết nước của rừng trồng keo thuần loài có xu hướng thấp hơn nhiều so với rừng tự nhiên và rừng trồng cây bản địa. Chức năng này của rừng trồng keo cũng suy giảm dần sau mỗi chu kỳ kinh doanh.

    DOI: https://doi.org/10.71254/yd61vj82