Số 17 (2024)

					Xem Số 17 (2024)
Đã Xuất bản: 15-09-2024

Bài viết

  • NGHIÊN CỨU NHÂN GIỐNG IN VITRO CÂY SÂM THẬP TỬ (Decaschistia sp.)

    Abstract : 535 PDF: 0
    Lê Thanh Hậu, Bùi Minh Trí, Trịnh Việt Nga, Đoàn Thị Hồng Điểm, Phạm Minh Duy, Nguyễn Cao Kiệt
    3-12

    Sâm thập tử (Decaschistia sp.) thuộc họ Malvaceae, là một loài dược liệu được người dân địa phương sử dụng làm thuốc do có hàm lượng dược liệu cao, khả năng bồi bổ sức khỏe, tăng cường sinh lực, chống suy nhược thần kinh. Nhằm xây dựng quy trình nhân giống in vitro cây sâm thập tử, nghiên cứu này đã tiến hành 3 thí nghiệm bao gồm: (1) Thí nghiệm ảnh hưởng của nồng độ BA và αNAA đến quá trình nhân nhanh chồi cây sâm thập tử in vitro; (2) Thí nghiệm ảnh hưởng của nồng độ αNAA và IBA đến quá trình ra rễ cây sâm thập tử in vitro; (3) Thí nghiệm ảnh hưởng của loại giá thể đến sự sinh trưởng của cây sâm thập tử giai đoạn vườn ươm. Kết quả nghiên cứu cho thấy, đốt thân cây sâm thập tử được cấy vào môi trường MS bổ sung 30 g/L sucrose, 2 mg/L BA và 0,5 mg/L αNAA cho số chồi cao nhất, đạt 6,7 chồi và số lá đạt 10,8 lá tại thời điểm 60 ngày sau cấy. Môi trường MS bổ sung 20 g/L sucrose, 0,5 mg/L IBA và 0,5 mg/L αNAA thích hợp nhất cho sự hình thành rễ cây sâm thập tử với số rễ đạt 6,1 rễ; chiều dài rễ đạt 5,4 cm và tỷ lệ ra rễ đạt 100% tại thời điểm 60 ngày sau cấy. Cây con sâm thập tử được trồng trên hỗn hợp giá thể 80% mụn dừa kết hợp 20% tro trấu giúp cây con sinh trưởng tốt với chiều cao cây đạt 12,1 cm; có 9,1 lá và tỷ lệ sống đạt 100% tại thời điểm 40 ngày sau trồng.

    DOI: https://doi.org/10.71254/973p6r50
  • NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY TRÌNH SẢN XUẤT HẠT GIỐNG NƯA CHÂN VỊT (Tacca palmata Blume)

    Abstract : 290 PDF: 0
    Nguyễn Xuân Trường, Trịnh Minh Vũ, Nguyễn Bá Hưng, Ngô Thị Minh Huyền,Nguyễn Minh Hùng, Cù Thị Hằng, Nguyễn Thị Duyên, Trần Thị Liên
    13-26

    Nưa chân vịt (Tacca palmata Blume) là một loài cây dược liệu, củ dùng làm thuốc điều hòa kinh nguyệt, chữa rắn độc cắn. Loài này đã được ghi trong sách Đỏ Việt Nam (2007) với cấp đánh giá “Hiếm” (R). Với mục tiêu xây dựng được quy trình sản xuất hạt giống Nưa chân vịt, các thí nghiệm về mật độ, lượng phân bón, thời điểm thu hoạch và đánh giá tình hình sâu, bệnh hại được thực hiện. Kết quả nghiên cứu đã đánh giá được khoảng cách 30 x 30 cm (mật độ 70.000 cây/ha) là phù hợp, cho năng suất hạt đạt 228,08 kg/ha, tỷ lệ nảy mầm đạt 87,77%. Lượng phân bón thích hợp ở mức 6 tấn phân hữu cơ vi sinh + 300 kg N + 500 kg P2O5 + 350 kg K2O/ha/năm, cho năng suất đạt 310,23 kg/ha. Tại thời điểm 70% quả chín là phù hợp để thu hoạch hạt giống Nưa chân vịt. Sâu, bệnh hại cây Nưa chân vịt chủ yếu là các loại sâu xám, sâu cuốn lá nhỏ, bệnh lở cổ rễ, bệnh phấn trắng và tuyến trùng nốt sưng với mức độ phổ biến từ rất ít đến ít. Các loài sâu, bệnh hại chỉ xuất hiện theo mùa sinh trưởng và không gây ảnh hưởng nhiều đến sinh trưởng, năng suất của cây.

    DOI: https://doi.org/10.71254/aehpk480
  • HIỆU QUẢ CỦA DỊCH CHIẾT TỪ QUẢ ỚT (Capsicum frutescens) ĐỐI VỚI NHỆN ĐỎ HẠI CÂY TRỒNG (Tetranychus urticae)

    Abstract : 530 PDF: 0
    Nguyễn Thị Hai, Nguyễn Thành Nguyên, Nguyễn Phụng, Trần Phạm Phương Thảo, Trần Ý My
    27-33

    Nghiên cứu được tiến hành trong điều kiện phòng thí nghiệm và trên đồng ruộng nhằm đánh giá khả năng kiểm soát nhện đỏ (Tetranychus urticae) của dịch chiết từ quả ớt chỉ thiên (Capsicum frutescens). Kết quả cho thấy, dịch chiết từ quả ớt nồng độ 5 - 15 g/L có khả năng xua đuổi và gây độc đối với nhện đỏ. Trong điều kiện phòng thí nghiệm, dịch chiết của quả ớt ở nồng độ 15 g/L cho hiệu lực gây chết nhện đỏ đạt 82,67% sau 7 ngày xử lý, cao hơn nồng độ 5 hoặc 10 g/L nhưng không sai khác có ý nghĩa so với nồng độ 20 và 25 g/L. Trên cây ớt chuông trồng trong nhà màng, dịch chiết ớt nồng độ 15 g/L cho hiệu lực kiểm soát nhện đỏ đạt 65,40 và 58,92%, tương ứng ở 5 và 7 ngày sau khi phun. Bổ sung dầu khoáng và nước rửa chén 0,1% làm tăng hiệu lực gây chết nhện đỏ của dịch chiết thô ở nồng độ 15 g/L. Dịch chiết ớt 15 g/L không và có bổ sung 0,1% dầu khoáng hoặc nước rửa chén đều không gây tác động xấu đến cây ớt và bọ rùa bắt mồi có trên cây ớt.

    DOI: https://doi.org/10.71254/mbaazh84
  • NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH LIỀU LƯỢNG PHÂN ĐẠM VÀ MẬT ĐỘ CẤY THÍCH HỢP CHO GIỐNG LÚA DT82

    Abstract : 501 PDF: 0
    Lê Văn Trường, Nguyễn Thị Hồng Ngát, Trần Thị Thắm, Võ Thị Minh Tuyển, Trần Thị Huệ Hương, Nguyễn Hồng Sơn
    34-43

    Nghiên cứu được tiến hành trong vụ hè thu năm 2021 và vụ xuân năm 2022 trên đất phù sa không được bồi để xác định liều lượng đạm và mật độ cấy thích hợp đến sinh trưởng, phát triển, khả năng chống chịu sâu, bệnh hại và năng suất của giống lúa DT82. Thí nghiệm được bố trí theo kiểu ô lớn, ô nhỏ với 4 mức phân đạm: 60, 80, 100, 120 kgN/ha và 3 mật độ cấy: 35, 40, 45 khóm/m2 trên nền phân bón 10 tấn phân chuồng, 70 kg P2O5, 80 kg K2O. Kết quả xác định được mức bón phân đạm 100 kgN và mật độ cấy 40 khóm/m2, cây lúa sinh trưởng, phát triển cân đối, giảm thiểu ảnh hưởng của sâu, bệnh hại, đặc biệt là bệnh bạc lá trong vụ xuân và hè thu, năng suất thực thu lớn nhất (đạt 6,88 tấn/ha trong vụ xuân và 6,22 tấn/ha trong vụ hè thu), lợi nhuận thu được cao nhất 15,03 triệu đồng/ha trong vụ xuân và 10,03 triệu đồng/ha trong vụ hè thu.

    DOI: https://doi.org/10.71254/40pyf830
  • QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG RƠM RẠ Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG THÔNG QUA CÁC BIỆN PHÁP KỸ THUẬT

    Abstract : 554 PDF: 0
    Đào Trọng Hùng, Nguyễn Quang Hải, Vũ Việt Hà, Nguyễn Toàn Thắng, Hoàng Thị Thu Hường
    44-50

    Ở Việt Nam, hằng năm có khoảng 43 triệu tấn rơm rạ được sản xuất. Rơm rạ chứa một lượng đáng kể các chất dinh dưỡng cây trồng (DDCT) và việc sử dụng hợp lý sẽ có tác động tích cực đến việc quản lý DDCT. Ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), biện pháp đốt rơm rạ sau thu hoạch lúa đang được người dân áp dụng phổ biến. Biện pháp canh tác này không chỉ gây ra phát thải khí nhà kính (KNK), mà còn dẫn đến sự thất thoát các chất DDCT có giá trị trong rơm rạ như: Đạm, lân, kali và gây ô nhiễm không khí. Hạn chế đốt rơm rạ, ứng dụng các biện pháp kỹ thuật trong quản lý rơm rạ sẽ góp phần ổn định năng suất cây trồng, giảm lượng nước tưới và DDCT đầu vào cũng như giảm rủi ro của biến đổi khí hậu. Trong nghiên cứu này đã đề xuất các phương án sử dụng hợp lý rơm rạ: (+) Vùi rơm rạ kết hợp quản lý nước theo ngập khô xen kẽ giúp giảm phát thải KNK, cải thiện chất lượng đất, tăng hiệu quả sử dụng dinh dưỡng và nâng cao năng suất lúa; (+) Trồng nấm; (+) Thức ăn cho chăn nuôi; (+) Sản xuất phân bón hữu cơ và giá thể. (+) Sản xuất than sinh học. Nếu rơm rạ được quản lý đúng cách thì có thể đảm bảo cải thiện tính chất đất và duy trì năng suất cây trồng.

    DOI: https://doi.org/10.71254/wy3kqf86
  • NGHIÊN CỨU TỐI ƯU HÓA QUÁ TRÌNH TIỀN XỬ LÝ ĐẾN CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM MÍT NON ĐÓNG HỘP (Artocarpus heterophyllus L.)

    Abstract : 532 PDF: 0
    Phan Thị Thanh Quế, Lê Duy Nghĩa, Huỳnh Thị Yến Linh, Dương Thị Phượng Liên
    51-59

    Mít non đóng hộp không chỉ có giá trị dinh dưỡng mà còn tiện lợi khi sử dụng. Chần là công đoạn tiền xử lý quan trọng ảnh hưởng đến màu sắc và chất lượng sản phẩm đóng hộp. Thiết kế Box-Behnken được bố trí để xác định các thông số tối ưu cho công đoạn chần, bao gồm nồng độ axit xitric (0 - 0,6% w/v), nồng độ kali metabisulfite (0 - 0,2% w/v) và thời gian chần (4,5 - 5,5 phút). Các chỉ tiêu độ sáng L*, chỉ số hóa nâu BI, hàm lượng polyphenol, flavonoid và khả năng quét gốc tự do DPPH được xác định; số liệu được xử lý bằng phần mềm Statgraphics Centurion XV.I. Kết quả cho thấy, mít non được chần trong dung dịch chứa axit xitric 0,24% và kali metabisulfite 0,1% trong thời gian 5 phút có màu sắc sáng đẹp (L* cao; 76,16), chỉ số 1/BI thấp (0,16). Đồng thời, hàm lượng các hợp chất có hoạt tính sinh học vẫn còn được duy trì nhiều nhất; hàm lượng polyphenol, flavonoid và khả năng quét gốc tự do DPPH có giá trị lần lượt là 1,48 mg GAE/g chất khô; 0,16 mg QE/g chất khô và 44,14%.

    DOI: https://doi.org/10.71254/9ymw8z48
  • PHÂN LẬP VI KHUẨN, THỰC KHUẨN THỂ TỪ AO TÔM VÀ KHẢO SÁT SỰ TÁC ĐỘNG CỦA THỰC KHUẨN THỂ KẾT HỢP ĐỐI VỚI VI KHUẨN Citrobacter meridianamericanus

    Abstract : 501 PDF: 0
    Trương Thị Bích Vân, Hà Thị Bảo Trân, Nguyễn Phạm Anh Thi
    60-69

    Vi khuẩn CM1 phân lập từ bùn đáy ao tôm và kết quả định danh là Citrobacter meridianamericanus. Khảo sát phổ ký chủ của 8 dòng thực khuẩn thể (bacteriophage-phage-f-TKT) phân lập từ bùn đáy ao tôm và 8 dòng TKT kết hợp đối với vi khuẩn ký chủ là các dòng vi khuẩn: Salmonella enteritidis ATCC 49223, Salmonella typhimurium ATCC 14028 và E. coli ATCC 25922, Citrobacter meridianamericanus. Kết quả, TKT fBT3 cho vết tan trong trên ký chủ E. coli ATCC 25922. Sáu dòng TKT gồm: fBT1, fBT6, fBT7, fBT8, fBT9 và thực khuẩn thể kết hợp fBT7 + fBT9 cho vết tan trong rõ ràng trên ký chủ Citrobacter spp.. Dựa trên kết quả đó, 5 dòng TKT: fBT1, fBT5, fBT6, fBT7 và fBT9 được chọn để đánh giá sự ảnh hưởng của TKT lên mật số khuẩn lạc của vi khuẩn Citrobacter meridianamericanus bằng phương pháp trải đếm. Kết quả đánh giá cho thấy, 5 dòng thực khuẩn thể đều làm giảm mật số vi khuẩn có ý nghĩa thống kê và có những tác động đặc trưng lên hình thái khuẩn lạc. Trong đó, TKT fBT9 làm giảm mật số khuẩn lạc nhiều nhất, giảm đến 1,45 log CFU/mL và TKT fBT8 có mật độ vi khuẩn giảm thấp nhất, 1,16 log CFU/mL. Kết quả cho thấy, dòng TKT fBT9 có hiệu quả kiểm soát vi khuẩn tốt nhất. Bên cạnh đó, sự kết hợp của 2 dòng TKT làm tăng khả năng ức chế vi khuẩn và hạn chế khả năng đối kháng của vi khuẩn đối với TKT.

    DOI: https://doi.org/10.71254/4ncf1n34
  • XÁC ĐỊNH DIỆN TÍCH CỎ BIỂN Ở VÙNG ĐẦM PHÁ -TỈNH THỪA THIÊN HUẾ TỪ NGUỒN ẢNH LANDSAT 8

    Abstract : 413 PDF: 0
    Hà Quang Anh, Trần Thị Trang, Nguyễn Thị Bích Ngọc, Phạm Văn Duẩn, Vương Văn Quỳnh
    70-78

    Mục tiêu là xây dựng được bộ chỉ số phân loại trên ảnh Landsat 8 để lập bản đồ phân bố cỏ biển ở khu vực đầm phá tỉnh Thừa Thiên Huế. Phương pháp phân tích biểu đồ và thống kê thực nghiệm được sử dụng để xây dựng bộ chỉ số phân loại ảnh hưởng đối tượng, nhằm phân tích diện tích cỏ biển trên ảnh vệ tinh. Chỉ số Kappa được áp dụng để đánh giá độ chính xác của bản đồ phân bố cỏ biển. Nghiên cứu cho thấy, có thể sử dụng ngưỡng kênh 5 ở mức 10.000 làm chỉ số để phân loại giữa các diện tích trên cạn và diện tích ở mặt nước. Đồng thời, tổng giá trị của kênh 3 và kênh 4 lớn hơn 17.300 có thể được sử dụng làm chỉ số phân chia diện tích mặt nước có cỏ biển và diện tích mặt nước không cỏ biển. Kết quả giải đoán cho thấy, diện tích cỏ biển được xác định ở vùng đầm phá Tam Giang - Cầu Hai là 840 ha và vùng đầm Lập An là 65 ha. Về mặt khoa học, điểm đột phá của nghiên cứu này là đã phát triển được bộ chỉ số phân loại diện tích cỏ biển trên ảnh vệ tinh Landsat 8 và ứng dụng hiệu quả kỹ thuật phân loại ảnh hưởng đối tượng để lập bản đồ phân bố diện tích cỏ biển. Về thực tế, nghiên cứu đã xây dựng thành công bản đồ phân bố cỏ biển ở khu vực đầm phá tỉnh Thừa Thiên Huế với hệ số Kappa đạt 0,7, phục vụ đánh giá biến động diện tích cỏ biển.

    DOI: https://doi.org/10.71254/p8pbbk28
  • XÂY DỰNG BẢN ĐỒ SINH KHỐI VÀ TRỮ LƯỢNG CARBON RỪNG TRÀM (Melaleuca cajuputi Powell) Ở VƯỜN QUỐC GIA U MINH THƯỢNG, TỈNH KIÊN GIANG

    Abstract : 537 PDF: 0
    Lư Ngọc Trâm Anh, Nguyễn Thị Hồng Điệp, Nguyễn Văn Chinh, Nguyễn Trọng Nguyễn
    79-86

    Rừng tràm trên đất than bùn ở Vườn Quốc gia (VQG) U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang là hệ sinh thái đất ngập nước đặc thù có ý nghĩa quan trọng trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học và ứng phó với biến đổi khí hậu. Nghiên cứu được tiến hành ở khu vực này với mục tiêu xác định sinh khối rừng tràm ở VQG U Minh Thượng thực tế, xây dựng bản đồ sinh khối và trữ lượng carbon trên cơ sở ảnh viễn thám. Phương pháp nghiên cứu gồm: Phương pháp xác định sinh khối thực tế thông qua điều tra thực địa và phương pháp phân tích, tính toán các chỉ số trên ảnh viễn thám. Kết quả nghiên cứu đã ước tính sinh khối rừng tràm trung bình là 176,89 ± 55,45 tấn/ha và xây dựng bản đồ sinh khối, bản đồ trữ lượng carbon rừng tràm, với độ chính xác sinh khối trên ảnh viễn thám là 72,19% tại VQG U Minh Thượng. Nghiên cứu này góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho công tác đánh giá khả năng tích tụ carbon của hệ sinh thái rừng tràm, phục vụ cho công tác quản lý, bảo tồn và phát triển rừng tràm ở khu vực.

    DOI: https://doi.org/10.71254/e8kjz895
  • ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG, CHẤT LƯỢNG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP SỬ DỤNG BỀN VỮNG TÀI NGUYÊN ĐẤT NÔNG NGHIỆP HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA

    Abstract : 575 PDF: 0
    Lê Sỹ Chung, Nguyễn Minh Phương, Trần Minh Tiến, Phạm Hùng Sơn, Trần Thị Minh Hằng, Nguyễn Quốc Việt,Lê Sỹ Chính, Phạm Anh Hùng
    87-100

    Hậu Lộc là huyện đồng bằng ven biển của tỉnh Thanh Hoá, huyện có vị trí thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội. Trước yêu cầu nâng cao hiệu quả và sử dụng bền vững tài nguyên đất nông nghiệp của huyện, nghiên cứu này được thực hiện với mục đích đánh giá được thực trạng sử dụng, chất lượng đất để làm cơ sở đề xuất giải pháp sử dụng hợp lý. Sử dụng công nghệ GIS để chồng xếp bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2022 với bản đồ đất năm 2012 và kết hợp với lấy mẫu đất bổ sung để đánh giá hiện trạng sử dụng, chất lượng đất nông nghiệp. Kết quả nghiên cứu cho thấy, đất nông nghiệp chiếm 65,99% diện tích tự nhiên. Trong đó, đất trồng lúa có diện tích lớn nhất chiếm 34,18% diện tích tự nhiên, các loại đất khác chiếm tỷ lệ nhỏ từ 4 - 5%, đất làm muối chỉ chiếm 0,77%. Nhóm đất phù sa chiếm diện tích lớn nhất với 43,71% diện tích tự nhiên và 64,41% diện tích đất có khả năng sử dụng cho nông nghiệp, tiếp đến là nhóm đất mặn chiếm tương ứng 11,56% và 17,03%, đất xám chiếm 6,72% và 9,89%, đất cát chiếm 5,88% và 8,66%. Nhóm đất cát và đất xám có độ phì nhiêu thấp, khả năng giữ nước và giữ màu kém cần bón phân đầy đủ, cải tạo tính chất vật lý, canh tác theo mô hình nông lâm kết hợp và trồng rừng. Nhóm đất mặn cần duy trì và phát triển trồng cói, lúa đặc sản đối với các vùng hiện có, các vùng trũng thì bố trí nuôi trồng thủy sản mặn, lợ, cần lưu ý giải pháp thủy lợi để dẫn nước ngọt, rửa mặn, ngăn mặn. Đối với nhóm đất phù sa, cần đầu tư hạ tầng giao thông nội đồng, thủy lợi, bón phân cân đối và bố trí cơ cấu cây trồng phù hợp để tăng hiệu quả sử dụng và bảo vệ đất.

    DOI: https://doi.org/10.71254/sq44xr38