Số 16 (2023)
Bài viết
-
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ GIỐNG DƯA CHUỘT TẠI TỈNH SƠN LA
Abstract : 30 PDF: 9Nghiên cứu được thực hiện nhằm so sánh khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của ba giống dưa chuột trong vụ hè thu năm 2021 tại huyện Mộc Châu và thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. Kết quả cho thấy, các giống dưa chuột đều sinh trưởng tốt, thời gian sinh trưởng từ 70 - 79 ngày. Tại 2 địa điểm thí nghiệm, giống dưa chuột Rose 03 có chiều dài thân và số lá trên thân chính lớn nhất, chiều dài thân đạt từ 283,0 - 285,6 cm, số lá trên thân chính đạt từ 39,4 - 40,1 lá. Năng suất thực thu của các giống dưa chuột đạt từ 44,5 - 54,6 tấn/ha tại thành phố Sơn La và đạt từ 45,1 - 57,3 tấn/ha tại huyện Mộc Châu. Giống Rose 03 đạt năng suất cá thể và năng suất thực thu cao nhất, năng suất cá thể đạt từ 3,13 - 3,24 kg/cây, năng suất thực thu đạt từ 54,6 - 57,3 tấn/ha. Các giống dưa chuột đều nhiễm nhẹ hoặc trung bình một số nấm bệnh như: Giả sương mai, phấn trắng và rệp xanh ở giai đoạn 60 ngày sau trồng. Các kết quả chỉ ra tính khả thi của việc phổ biến trồng giống dưa chuột Rose 03 tại tỉnh Sơn La.
-
KẾT QUẢ CHỌN TẠO VÀ KHẢO NGHIỆM GIỐNG DÂU TÂY PS8.10 CHO VÙNG TÂY NGUYÊN VÀ TRUNG DU MIỀN NÚI PHÍA BẮC
Abstract : 17 PDF: 9Giống dâu tây PS8.10 được chọn lọc từ tổ hợp lai Kiraku x Goha. Sau khi chọn lọc, giống được làm sạch bệnh và nhân nhanh bằng phương pháp nuôi cấy mô. Giống được khảo nghiệm diện hẹp từ năm 2019 - 2022 và diện rộng từ năm 2020 - 2022 tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng và huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai. Kết quả khảo nghiệm cho thấy, giống PS8.10 sinh trưởng, phát triển tốt ở cả hai vùng sinh thái trong điều kiện nhà màng: Tiềm năng năng suất cao, trung bình khảo nghiệm diện hẹp đạt 32,1 tấn/ha/năm tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng và 13,4 tấn/ha/năm tại huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai; trung bình khảo nghiệm diện rộng đạt 30,3 tấn/ha/năm tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng và 13,2 tấn/ha/năm tại huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai. Giống có tổng chất rắn hòa tan (TSS) đạt 12,0 - 12,80Brix, khẩu vị ngon, quả có mùi thơm và cứng quả; ít mẫn cảm với một số bệnh hại chính như: Bệnh phấn trắng (Sphaerotheca macularis), bệnh thán thư (Colletotrichum fragariae).
-
HIỆU LỰC CỦA TINH DẦU SẢ CHANH, LÁ QUẾ VÀ HỖN HỢP CỦA CHÚNG ĐỐI VỚI BỆNH THÁN THƯ TRÊN XOÀI CÁT CHU SAU THU HOẠCH
Abstract : 20 PDF: 10Colletotrichum gloeosporioides là tác nhân gây bệnh thán thư trên xoài sau thu hoạch, làm ảnh hưởng năng suất và chất lượng trái. Nhiều biện pháp phòng bệnh được áp dụng, trong đó, sử dụng tinh dầu là biện pháp tiềm năng với hiệu quả và độ an toàn cao. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá tác động của tinh dầu sả chanh, lá quế và hỗn hợp tinh dầu sả chanh/lá quế trong việc hạn chế bệnh thán thư và chất lượng trái xoài cát Chu sau thu hoạch. Tinh dầu sả chanh (2 µL/mL), lá quế (0,4 µL/mL) và hỗn hợp tinh dầu sả chanh/lá quế ở các nồng độ (0,4/0,2; 0,8/0,05; 1,2/0,025 µL/mL) được dùng trong nghiên cứu. Ở công thức xử lý bằng tinh dầu sả chanh (2 µL/mL), lá quế (0,4 µL/mL) có tỷ lệ bệnh tương ứng là 60 và 53,3% so với công thức không xử lý (66,7%) và xử lý huyền phù nấm C. gloeosporioides nhưng không phun tinh dầu (93,3%). Khi được xử lý bằng hỗn hợp tinh dầu sả chanh/lá quế (theo tỷ lệ: 0,4/0,2; 0,8/0,05 và 1,2/0,025 µL/mL), có tỷ bệnh lần lượt là 63,3, 56,7 và 46,7%. Hiệu quả phòng trừ bệnh thán thư của tinh dầu đơn lẻ và hỗn hợp tinh dầu sả chanh/lá quế tương đương với nghiệm thức sử dụng thuốc Antracol 70 WP (50%). Ngoài khả năng ức chế bệnh thán thư, hỗn hợp tinh dầu nêu trên còn có khả năng giữ được độ cứng trái tốt hơn so với công thức không xử lý và xử lý bằng từng loại tinh dầu đơn lẻ nhưng không ảnh hưởng đến pH, TSS, TA, vitamin C, chất lượng màu sắc vỏ, thịt trái cũng như độ hao hụt khối lượng.
-
DINH DƯỠNG KHOÁNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG N, P, K CỦA CÂY VIỆT QUẤT TRỒNG TRÊN ĐẤT SÉT PHÙ SA HẬU GIANG
Abstract : 25 PDF: 6Việt quất được trồng làm cây cảnh ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) vì thích hợp với khí hậu và điều kiện đất có độ pH 4,5 - 5. Tuy nhiên, phần lớn đất ở ĐBSCL thuộc sa cấu sét và có hàm lượng chất hữu cơ (CHC) thấp, điều này làm đất kém thoáng khí và độ phì kém. Mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá sử dụng 45-20-20 kg N, P, K cho thí nghiệm trong chậu với đất sét phù sa được phối trộn 10 t CHC/ha. Thí nghiệm được thực hiện tại nhà lưới Trường Đại học Cần Thơ, bố trí theo kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên, gồm 4 nghiệm thức: (i) N, P, K; (ii) P, K; (iii) N, K; (iv) N, P với 4 lần lặp lại. Hàm lượng (g/kg) N, P và K trong lá việt quất được xác định theo thứ tự là 15,5; 0,87; 4,34. Hàm lượng này được đánh giá đạt ở mức đủ theo thang của Hart và cs (2006). Không bón N hoặc P gây ra các hàm lượng này (g/kg) bị giảm dưới ngưỡng, tương ứng với N trong lá là 12,5 và P là 0,57 g/kg. Hơn nữa, đối với nghiệm thức P, K, việc không bón N cũng dẫn đến sự giảm đồng thời hàm lượng (g/kg) của N, P và K trong lá ở mức dưới ngưỡng hàm lượng chuẩn. So với bón đầy đủ NPK, các nghiệm thức khuyết N (nền PK), P (nền NK) và K (nền NP) có lượng hút thu N, P và K trong lá chỉ đạt ở mức theo thứ tự là 37%, 63% và 67%. Việc bón phân N có vai trò điều phối hàm lượng P và K trong cây việt quất. Theo dõi nồng độ N, P và K trong các mô lá là rất quan trọng cho việc chẩn đoán tình trạng cung cấp dưỡng chất từ đất.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA GIÁ THỂ TRỒNG VÀ PHÂN BÓN LÁ ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HOA HỒNG CỔ HẢI PHÒNG
Abstract : 17 PDF: 8Nghiên cứu về ảnh hưởng của giá thể và các loại phân bón lá đến sinh trưởng và khả năng ra hoa của hồng cổ Hải Phòng cho thấy, hỗn hợp giá thể đất phù sa + tro trấu + xơ dừa + phân trùn quế; tỷ lệ (1: 1: 1: 2) cho cây sinh trưởng và ra hoa tốt hơn các hỗn hợp giá thể khác, chiều cao cây 69,8 cm, đường kính tán 58,3 cm, 10,7 chồi/cây, tỷ lệ ra hoa 93,9% và đường kính hoa 63,0 mm. Bên cạnh đó, phân bón lá Đầu Trâu 501 giúp cây sinh trưởng và phát triển tốt nhất, cây cao 85,0 cm, đường kính tán 55,0 cm, đạt 7,0 chồi/cây, tỷ lệ ra hoa 93,3%, đường kính hoa 74,0 mm và độ bền hoa hơn 7 ngày sau khi hoa nở trong điều kiện khí hậu tại Long Xuyên, An Giang.
-
ĐẶC TÍNH ĐẤT PHÈN NHIỄM MẶN VÀ CÁC GIẢI PHÁP CẢI TẠO TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Abstract : 45 PDF: 23Hiện nay, hai vấn đề mang tính toàn cầu đang được quan tâm hàng đầu là biến đổi khí hậu và an ninh lương thực. Biến đổi khí hậu làm tăng quá trình xâm nhập mặn từ đó làm mặn hóa đất sản xuất nông nghiệp, làm giảm năng suất cây trồng và ảnh hưởng đến tình hình an ninh lương thực toàn cầu. Đất phèn nhiễm mặn là một nhóm đất có diện tích khá lớn trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Do ảnh hưởng của quá trình phèn hóa và mặn hóa, nhóm đất này có nhiều đặc tính làm hạn chế sinh trưởng và phát triển của thực vật, do đó cần phải được nghiên cứu và cải thiện. Mục tiêu của nghiên cứu này là tổng quan các kết quả nghiên cứu mới nhất về các tính chất vật lý và hóa học cũng như hiệu quả của các giải pháp cải tạo đất phèn nhiễm mặn trên thế giới và ở Việt Nam. Kết quả cho thấy, đây là loại đất phèn bị nhiễm mặn do sự xâm nhập của nước biển. Do đó đất có chứa hàm lượng axit cao (tính phèn) và hàm lượng muối lớn (tính mặn). Điều này dẫn đến các đặc tính thứ cấp là đất có độ dẫn điện (EC) cao, nồng độ Na+ và Cl- cao (tính mặn) và nồng độ H+ lớn, hàm lượng các độc chất Al, Fe cao và thiếu phốt pho dễ tiêu (tính phèn). Có nhiều giải pháp cải tạo đất phèn nhiễm mặn và than sinh học là một trong số các vật liệu hữu cơ thân thiện môi trường có tiềm năng cải tạo tốt. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và nhằm nâng cao sức sản xuất của đất phèn nhiễm mặn, việc ứng dụng các loại vật liệu thân thiện môi trường như than sinh học, vôi, phân hữu cơ và một số giải pháp cải tạo khác là cần thiết để khắc phục được những hạn chế trên của đất phèn nhiễm mặn.
-
KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG TINH VÀ HIỆU QUẢ THỤ TINH NHÂN TẠO Ở VỊT CỎ NUÔI TẠI ỨNG HÒA, HÀ NỘI
Abstract : 18 PDF: 8Nghiên cứu này nhằm đánh giá chất lượng tinh của vịt cỏ nuôi tại Ứng Hòa, Hà Nội theo phương thức nuôi lồng và thử nghiệm hiệu quả thụ tinh nhân tạo bằng tinh pha trong môi trường bảo quản. Ba thí nghiệm được thực hiện gồm: Thí nghiệm 1: Khai thác và đánh giá chất lượng tinh vịt cỏ nuôi tại Ứng Hòa theo phương thức nuôi lồng. Thí nghiệm 2: Đánh giá chất lượng tinh vịt cỏ nuôi tại Ứng Hòa theo phương thức nuôi lồng pha loãng trong môi trường BPSE và bảo quản ở 15oC. Thí nghiệm 3: Đánh giá hiệu quả phối tinh nhân tạo vịt cỏ nuôi tại Ứng Hòa theo phương thức nuôi lồng sử dụng tinh pha loãng trong môi trường BPSE. 10 vịt đực (10 đến 16 tháng tuổi) nuôi lồng được khai thác tinh 3 ngày 1 lần, lặp lại 10 lần để đánh giá các chỉ tiêu chất lượng tinh nguyên và tinh được pha trong môi trường BPSE theo tỷ lệ 1: 1 và bảo quản ở 15oC sau 24 và 48 giờ. 80 vịt cái (10 - 16 tháng tuổi) được phối tinh nhân tạo bằng tinh pha trong môi trường BPSE theo tỷ lệ 1: 1, thể tích liều tinh 0,05 ml, phối tinh với tần suất 2 ngày 1 lần và 3 ngày 1 lần vào thời gian 6-8 giờ sáng, 8-10 giờ sáng, 2-4 giờ chiều, 4-6 giờ chiều. Kết quả cho thấy, các chỉ tiêu chất lượng tinh nguyên của vịt cỏ nuôi tại Ứng Hòa nuôi lồng gồm thể tích, hoạt lực tinh trùng, nồng độ tinh trùng, tỷ lệ tinh trùng kỳ hình đạt trung bình lần lượt là 0,28 ml, 0,85 điểm, 3,02 tỷ tinh trùng/ml, 7,19%; hoạt lực tinh trùng trung bình sau 24 và 48 giờ bảo quản tương ứng 0,72 và 0,44 điểm so với 0,92 điểm của tinh nguyên, tỷ lệ tinh trùng kỳ hình trung bình tương ứng 7,15 và 10,34% so với 6,06% của tinh nguyên và hiệu quả thụ tinh nhân tạo bằng tinh pha trong môi trường BPSE đạt tỷ lệ trứng có phôi 87,88%, tỷ lệ trứng nở/trứng có phôi đạt cao nhất là 89,26% với tần suất phối 2 ngày 1 lần vào 8-10 giờ sáng.
-
NGHIÊN CỨU SINH SẢN HẢI SÂM VÚ (Holothuria nobilis Selenka, 1867) TẠI TỈNH KHÁNH HOÀ
Abstract : 22 PDF: 6Hải sâm vú (Holothuria nobilis Selenka, 1867) là loài động vật da gai quý hiếm và có giá trị kinh tế cao. Hiện nay, hải sâm vú bị khai thác nhiều để làm thức ăn, thuốc chữa bệnh cho con người dẫn đến nguồn lợi bị cạn kiệt. Nghiên cứu này thử nghiệm kích thích sinh sản hải sâm vú bằng hormone tái tổ hợp Neurohormone relaxin-like gonad-stimulating peptide (RGP) và thử nghiệm ương nuôi ấu trùng hải sâm vú bằng các loại thức ăn và mật độ khác nhau. 4 nồng độ hormone RGP: NT1 (đối chứng chỉ tiêm 1 µl AFSW, tương ứng 0 µg/kg), NT2: (25 µg/kg), NT3: (50 µg/kg) và NT4: (75 µg/kg) được sử dụng để kích thích sinh sản và theo dõi hoạt động đẻ trứng sau khi tiêm, xác nhận thời gian hiệu ứng hormone, tỷ lệ đẻ, tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở và thời gian biến thái phát triển phôi. Ấu trùng sinh ra được thử nghiệm nuôi bằng các loại thức ăn, mật độ và giá thể bám khác nhau. Kết quả cho thấy, hải sâm vú được kích thích sinh sản tối ưu ở nồng độ hormone sử dụng 75 µg/kg, đạt tỷ lệ đẻ 66,7%, tỷ lệ thụ tinh 81,5%, tỷ lệ nở 82,5%. Thức ăn thích hợp cho ấu trùng giai đoạn trôi nổi là tổ hợp vi tảo đơn bào (1,5 x 104tb/ml), ở mật độ ương ấu trùng tốt nhất là 600 con/l đạt tỷ lệ sống 27,5% và giai đoạn xuống đáy là vi tảo đáy đơn bào Navicula sp. quét trên giá bám tôn nhựa đạt tỷ lệ sống 16% .
-
ỨNG DỤNG MÔ HÌNH MIKE 11 TRONG VẬN HÀNH HỆ THỐNG THỦY LỢI: TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU Ở TIỂU VÙNG X - NAM CÀ MAU
Abstract : 20 PDF: 8Quy trình vận hành và quản lý hệ thống công trình thủy lợi là rất cần thiết để khai thác hết các giá trị mà công trình đó mang lại. Trong bài báo này, mô hình toán thủy động lực học một chiều MIKE 11 đã được ứng dụng để số hóa hệ thống thủy lợi thuộc tiểu vùng X – Nam Cà Mau. Để tính toán dòng chảy trong kênh, mô hình MIKE 11 sử dụng hệ phương trình vi phân Saint Venant và được giải theo phương pháp sai phân hữu hạn 6 điểm ẩn (Abbott-Ionescu 6-point). Do quá trình thu thập số liệu thực đo tại các cống của vùng nghiên cứu còn nhiều hạn chế nên mô hình đã hiệu chỉnh và kiểm định bằng bộ số liệu mực nước thực đo trong hai năm 2021 – 2022 và được hiệu chỉnh, kiểm định mô hình với hệ số Manning’s n = 0,033 ở đa số các kênh, sông và một số hệ thống kênh trong khoảng n = 0,024 – 0,048 tùy vào điều kiện địa mạo dòng sông, cho thấy mực nước mô phỏng tương đồng với thực tế (hệ số NSE > 0,9 khi hiệu chỉnh và NSE > 0,82 khi kiểm định). Từ kết quả mô phỏng diễn biến mực nước thực tế, nghiên cứu tính toán kiểm tra lại quy trình vận hành cho hệ thống cụ thể cho 2 năm 2021 và 2022.
-
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN BIẾN ĐỘNG SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
Abstract : 27 PDF: 9Chuyển đổi sử dụng đất nông nghiệp là yêu cầu tất yếu để mở rộng, phát triển kinh tế xã hội, góp phần tạo nên sức sản xuất mới, nâng cao hiệu quả sử dụng đất trong điều kiện biến đổi khí hậu. Nghiên cứu đã góp phần xác định một số yếu tố tác động đến biến động sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An thông qua việc khảo sát 150 hộ gia đình, cá nhân có biến động trong sử dụng đất nông nghiệp giai đoạn 2012 - 2022. Kết quả đã xác định được mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến biến động sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Diễn Châu theo thứ tự: Yếu tố thu nhập (X1) ảnh hưởng lớn nhất, chiếm 21,34%; tiếp theo là yếu tố cơ sở vật chất (X2) chiếm 20,00%; thứ ba, là yếu tố việc làm (X3) chiếm 19,81%; thứ tư là yếu tố cơ chế, chính sách (X4) chiếm 19,52%; thứ năm là yếu tố khí hậu (X5) chiếm 19,33%.
-
HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC CỘNG ĐỒNG TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BẮC HÀ, TỈNH LÀO CAI
Abstract : 21 PDF: 12Huy động nguồn lực cộng đồng có vai trò quan trọng quyết định đến sự thành công của Chương trình mục tiêu quốc gia trong xây dựng nông thôn mới (XDNTM). Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá khái quát kết quả huy động nguồn lực cộng đồng và chỉ ra được yếu tố ảnh hưởng, sự cần thiết của huy động nguồn lực cộng đồng trong XDNTM tại huyện Bắc Hà giai đoạn 2010-2022. Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp thống kê mô tả và phương pháp thống kê so sánh để đánh giá thực trạng huy động nguồn lực cộng đồng trong XDNTM thời gian qua của huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai. Các số liệu, quan điểm trình bày trong nghiên cứu dựa trên các báo cáo thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia XDNTM ở điểm nghiên cứu và thông qua phỏng vấn trực tiếp 2 nhóm đối tượng cán bộ và người dân. Kết quả nghiên cứu cho thấy huyện Bắc Hà có 7 xã đạt chuẩn nông thôn mới, huy động từ nguồn lực cộng đồng đạt được 422.685 triệu đồng. Từ yếu tố ảnh hưởng đến kết quả huy động nguồn lực cộng đồng trong XDNTM, nghiên cứu đã đề xuất được 5 nhóm giải pháp nhằm huy động tốt hơn nguồn lực cộng đồng dân cư trong XDNTM tại huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai.








