Số 14 (2023)
Bài viết
-
NGHIÊN CỨU SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT VÀ PHẨM CHẤT CỦA MỘT SỐ DÒNG LÚA GẠO MÀU MỚI CHỌN TẠO TẠI TỈNH BÌNH ĐỊNH
Abstract : 15 PDF: 12Nghiên cứu được thực hiện tại hai địa điểm (xã Ân Tín, huyện Hoài Ân, phường Nhơn Hưng, thị xã An Nhơn), tỉnh Bình Định trong vụ đông xuân năm 2022 - 2023 nhằm xác định dòng thuần lúa gạo màu ngắn ngày, năng suất khá và chất lượng gạo tốt, giàu dinh dưỡng, phù hợp với điều kiện canh tác thâm canh tại địa phương. Thí nghiệm với 5 dòng mới chọn tạo và 1 giống gạo trắng ANS1 làm đối chứng, thiết kế thí nghiệm theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ với ba lần lặp lại. Kết quả nghiên cứu đã xác định được 2 dòng lúa gạo màu là BĐ.1 có thời gian sinh trưởng ngắn từ 112 - 114 ngày, năng suất 64,48 - 69,59 tạ/ha, gạo màu đỏ, hàm lượng amylose đạt 13,61%, hàm lượng protein đạt 7,96%, hàm lượng sắt đạt 25,14 mg/kg, hàm lượng anthocyanin đạt 25,69 mg/100 g. Dòng BĐ.4 có thời gian sinh trưởng ngắn từ 113 - 115 ngày, năng suất 66,21 - 69,68 tạ/ha, gạo màu tím than, hàm lượng amylose đạt 16,15%, hàm lượng protein đạt 7,83%, hàm lượng sắt đạt 24,05 mg/kg, hàm lượng anthocyanin đạt 34,57 mg/100 g.
-
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG DI TRUYỀN CÁC MẪU GIỐNG SEN (Nelumbo spp.) BẰNG CHỈ THỊ RAPD VÀ ISSR
Abstract : 21 PDF: 6Cây sen (Nelumbo spp.) thuộc họ Nelumbonaceae là cây có vai trò quan trọng trong văn hóa, dinh dưỡng và y học của người Việt Nam. Nghiên cứu này sử dụng 13 chỉ thị RAPD và 10 chỉ thị ISSR để nghiên cứu đa dạng di truyền của 80 mẫu giống sen được thu thập từ một số địa phương trong và ngoài nước. Các mồi đã phát hiện được 224 locus (124 locus với chỉ thị RAPD và 100 locus với chỉ thị ISSR) và nhân bản được 10.819 sản phẩm PCR. Hệ số tương đồng di truyền của các mẫu giống sen dao động từ 0,51 - 0,93. Ở hệ số tương đồng di truyền trung bình là 0,74, 80 mẫu giống sen được tách thành 7 nhóm chính, trong đó, có 2 nhóm chỉ có 1 mẫu giống (FL031 và FL042). Điều này cho thấy, mức độ đa dạng di truyền của các mẫu giống sen nghiên cứu là rất cao. Các mẫu giống sen này có thể là nguồn gen quan trọng cho bảo tồn và phát triển nguồn gen sen.
-
KHẢO SÁT ĐIỀU KIỆN MÔI TRƯỜNG TRONG NHÂN GIỐNG SA NHÂN TÍM (Amomum longiligulare) DƯỚI SỰ GIÁM SÁT VÀ ĐIỀU KHIỂN CỦA HỆ THỐNG TỰ ĐỘNG IoT
Abstract : 18 PDF: 10Nông nghiệp công nghệ cao là một trong những định hướng đang được nhiều người quan tâm. Nghiên cứu này tập trung vào xác định điều kiện môi trường phù hợp với nhân giống sa nhân tím (Amomum longiligulare) thông qua hệ thống IoT (Internet of Things). Hệ thống IoT được xây dựng có thể thu thập và lưu trữ các dữ liệu về ánh sáng, nhiệt độ không khí, độ ẩm đất trong mô hình vườn ươm. Độ ẩm đất được điều khiển thông qua hệ thống tưới nhỏ giọt, nhiệt độ không khí được điều khiển một phần thông qua hệ thống bơm phun sương. Các dữ liệu môi trường được giám sát và lưu trữ đối chiếu với số liệu so sánh sự phát triển của cây trồng (tỷ lệ sống của hom mẹ, số chồi bật từ hom mẹ, chiều cao cây con). Các thông số thích hợp nhân giống sa nhân tím trong điều kiện vườn ươm Trường Đại học Nha Trang đã được xác định. Kết quả nghiên cứu cho thấy, độ ẩm đất 70 - 75 ± 3%, trung bình ánh sáng ban ngày 381,83 Lux và nhiệt độ 25 - 33oC cho kết quả tốt về tỷ lệ sống của hom mẹ (86,67 ± 6,66%) và số chồi bật từ hom mẹ (2,58 ± 0,16). Mặt khác, điều kiện để phát triển tốt chiều cao cây con (22,28 ± 4,80 cm/6 tháng) đạt được trong điều kiện ánh sáng trung bình vào ban ngày 1.073,80 Lux, độ ẩm đất trung bình 50 - 55 ± 3% và nhiệt độ 25 - 33oC.
-
ĐÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ CÁC MÔ HÌNH TRỒNG THANH MAI (Myrica esculenta Buch. -Ham.ex D.Don) LẤY QUẢ TẠI HUYỆN VÂN ĐỒN, TỈNH QUẢNG NINH
Abstract : 18 PDF: 7Trong nghiên cứu này, đã lựa chọn và đánh giá 20 mô hình trồng Thanh mai (Myrica esculenta Buch. -Ham.ex D.Don) ở các độ tuổi từ 4 - 28 tuổi tại huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh. Kết quả cho thấy, các chỉ tiêu về đường kính, chiều cao, đường kính tán, số cành cấp 1/cây và năng suất quả có xu hướng tăng khi độ tuổi tăng, nhưng các chỉ tiêu này lại được ghi nhận thấp hơn ở mô hình trên 20 tuổi. Lượng tăng bình quân từ 7,0 - 35,4% về đường kính, từ 12,5 - 22,2% về đường kính tán và từ 31,8 - 65,0% về năng suất quả của mô hình ở nhóm tuổi sau so với nhóm tuổi trước đó, nhưng ở mô hình từ 25 - 30 tuổi lại thấp hơn -18,1% về đường kính, -16,2% về chiều cao cây, -15,9% về đường kính tán cây và thấp hơn -34,5% về năng suất quả so với mô hình từ 15 - 20 tuổi. Thông qua các chỉ tiêu dễ điều tra có thể dự báo năng suất quả bình quân qua phương trình đa biến: Năng suất (kg/cây) = - 2,08848 + 1,90440*Tuổi + 0,50646*Cành cấp 1. Hiệu quả kinh tế đạt cao nhất ở mô hình có chu kỳ kinh doanh 15 - 20 năm, với NPV = 1.769,602 triệu đồng/ha, tương ứng đạt 88,480 triệu đồng/ha/năm, cao hơn 17,665 triệu đồng/ha/năm (cao hơn 1,2 lần) so với chu kỳ 25 - 30 năm, cao hơn 11,183 triệu đồng/ha/năm (cao hơn 1,1 lần) so với chu kỳ 10 - 15 năm.
-
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY TRÌNH TRỒNG CÂY LUÂN THUỲ (Spirolobium cambodianum Baill.) TẠI THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG
Abstract : 25 PDF: 7Cây Luân thuỳ (Spirolobium cambodianum Baill.) thuộc họ Trúc đào (Apocynaceae), trong dân gian được sử dụng làm thuốc chữa sốt. Nghiên cứu này đã xác định được thời vụ trồng tốt nhất 15/8, khoảng cách trồng thích hợp nhất là 30 x 30 cm (Mật độ: 111.111 cây/ha), lượng phân bón bao gồm 6 tấn hữu cơ vi sinh + 300 kg N + 600 kg P2O5 + 300 kg K2O; năng suất dược liệu trung bình từ 1,46 - 1,59 tấn dược liệu khô/ha/năm. Các loại sâu ăn lá như sâu xám, sâu cuốn lá nhỏ và loài chích hút như: rệp xơ trắng, rệp muội và rệp sáp, mức độ gây hại không phổ biến < 10% trong giai đoạn phát tán và phổ biến từ 20 - 40% ở giai đoạn cây khép tán. Thời gian xuất hiện nhiều nhất tập trung vào giai đoạn mùa mưa, từ tháng 5 đến tháng 8 gồm bệnh héo vàng do nấm Fusarium sp.; thối nhũn gốc thân do nấm Pythium sp. và bệnh héo rũ gốc mốc trắng do nấm Sclerotium rolfsii gây ra với mức độ ít phổ biến (<20% số lần bắt gặp).
-
HIỆU QUẢ CỦA CHẤT KÍCH KHÁNG CALCIUM CHLORIDE VÀ SALICYLIC ACID GIÚP HẠN CHẾ THÁN THƯ VÀ MỘT SỐ BỆNH HẠI KHÁC TRÊN CÂY HÀNH LÁ Ở ĐIỀU KIỆN ĐỒNG RUỘNG
Abstract : 22 PDF: 9Nghiên cứu nhằm khảo sát hiệu quả của CaCl2 và salicylic acid (SA) trong phòng trừ bệnh thán thư, bệnh cháy lá và bệnh chết bụi trên cây hành lá ở điều kiện đồng ruộng. Thí nghiệm gồm 4 nghiệm thức (phun tán lá với CaCl2 200 mM; phun tán lá với SA 2 mM; đối chứng dương là Bronopol + Metalaxyl + Hexaconazole; đối chứng âm), 4 lần nhắc lại, bố trí thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên, mỗi lô thí nghiệm có diện tích 120 m2 tại huyện Bình Tân và Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Kết quả cho thấy, phun CaCl2 200 mM hoặc SA 2 mM định kỳ 10 ngày/lần, bắt đầu từ 15 ngày sau trồng có hiệu quả khá tốt trong việc hạn chế bệnh thán thư, cháy bìa lá và chết bụi hành lá. Đối với bệnh thán thư, phun các loại hóa chất này làm giảm tỷ lệ bệnh và chỉ số bệnh sau lần phun đầu tiên. Hiệu quả giảm tỷ lệ bệnh và chỉ số bệnh trung bình đạt từ 42,2 - 44,2% và 53,7 - 57,1% tại huyện Bình Tân; 48,7 - 66,1% và 45,7 - 65,2% ở huyện Long Hồ. Bên cạnh đó, tỷ lệ bệnh cháy lá, chết bụi cũng thấp hơn đối chứng sau 1 đến 2 lần phun.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC KẾT HỢP MANNAN OLIGOSACCHARIDE VÀ β-GLUCAN BỔ SUNG VÀO THỨC ĂN LÊN SINH TRƯỞNG, TỶ LỆ SỐNG, HỆ SỐ PHÂN ĐÀN VÀ CHỈ SỐ TẾ BÀO MÁU CỦA CÁ CHIM VÂY NGẮN (Trachinotus ovatus) GIAI ĐOẠN CON GIỐNG
Abstract : 22 PDF: 13Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của mannan oligosaccharide (MOS) kết hợp với β-glucan bổ sung vào thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá chim vây ngắn, (T. ovatus) ở giai đoạn con giống. Thí nghiệm được tiến hành với 4 nghiệm thức bổ sung các hàm lượng mannan oligosaccharide (MOS) và β-glucan (BG) khác nhau như sau: D1: Đối chứng (ĐC), D2: 0,20% MOS, D3: 0,1% BG, D4: 0,20% MOS + 0,1% BG. Kết quả sau 8 tuần thí nghiệm cho thấy, tốc độ sinh trưởng của cá nhanh nhất ở nghiệm thức cho ăn bổ sung kết hợp MOS và BG (D4) (DWG = 0,87 g/ngày, SGR = 3,58%/ngày), kế tiếp là tốc độ sinh trưởng cá cho ăn BG và MOS có tốc độ sinh trưởng (DWG) lần lượt là 0,75 g/ngày và 0,71 g/ngày. Cá ở nghiệm thức đối chứng có tốc độ sinh trưởng chậm nhất (0,61 g/ngày). Tỷ lệ sống của cá chim vây ngắn ở các nghiệm thức dao động từ 93,4 - 96,5%, không khác nhau giữa các nghiệm thức thí nghiệm (P = 0,371). Tỷ lệ phân đàn cá chim vây ngắn dao động từ 23,1 - 30,0%. Tỷ lệ phân đàn thấp nhất ở nghiệm thức cho ăn kết hợp 2 loại MOS và BG (CV = 23,1%) và cao nhất ở nghiệm thức không cho ăn bổ sung (ĐC) (CV = 30,0%). Các nghiệm thức cho ăn bổ sung MOS, BG hoặc MOS+BG đều có tỷ lệ phân đàn thấp hơn so với tỷ lệ phân đàn của cá ở nghiệm thức đối chứng (P ≤ 0,042). Số lượng hồng cầu (RBC) và bạch cầu (WBC) cao nhất ở nghiệm thức cho ăn bổ sung kết hợp cả 2 loại MOS và BG. RBC và WBC ở cả 3 nghiệm thức cho ăn bổ sung đều tăng cao so với cá ở nghiệm thức đối chứng (P ≤ 0,031). Kết quả bước đầu cho thấy, khi bổ sung kết hợp 2 loại MOS và BG vào thức ăn cá chim vây ngắn đem lại hiệu quả tích cực như nâng cao sinh trưởng và sức khỏe của cá nuôi. Tuy nhiên, cần nghiên cứu đánh giá hiệu quả của việc bổ sung kết hợp các loại chế phẩm sinh học khác nhau lên đáp ứng miễn dịch, khả năng chống chịu bệnh tật và môi trường của cá chim vây ngắn.
-
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG MÔ HÌNH THÍ ĐIỂM HỆ THỐNG CẢNH BÁO CHÁY RỪNG TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Abstract : 24 PDF: 7Mô hình thí điểm hệ thống cảnh báo cháy rừng (CBCR) tại thành phố Hà Nội có các thiết bị thu thập thông tin (trạm khí tượng tự động, trạm quan trắc cháy rừng bằng camera quang học), thiết bị lưu trữ và xử lý thông tin (máy chủ và phần mềm quản trị dữ liệu), thiết bị hiển thị thông tin (biển báo cháy rừng điện tử, máy tính và điện thoại thông minh). Những thông số kỹ thuật chủ yếu của hệ thống CBCR tại thành phố Hà Nội trong mô hình thí điểm gồm: (1) Độ chính xác của dự báo cấp nguy cơ cháy rừng (NCCR) là 100%, (2) Phát hiện sớm được các đám cháy rừng có đường kính đám cháy 10 m, trong tầm nhìn đến 5 km, (3) Thời điểm gửi tin cảnh báo NCCR hàng ngày là 14 giờ, thời điểm gửi tin cảnh báo sớm cháy rừng và phương án chữa cháy (PACC) không quá 10 phút sau khi phát hiện được đám cháy. Hoạt động của hệ thống CBCR từ cập nhật thông tin, xử lý thông tin đến truyền tin là tự động hóa. Các thông số kỹ thuật của hệ thống CBCR trong thời gian hoạt động thử nghiệm luôn ổn định.
-
PHÂN VÙNG SINH THÁI RỪNG VỚI CÁC CHỨC NĂNG DỊCH VỤ HỆ SINH THÁI CHO VÙNG BẢY NÚI, TỈNH AN GIANG
Abstract : 26 PDF: 9Nghiên cứu được thực hiện nhằm phân chia các vùng sinh thái rừng dựa vào điều kiện sinh thái và dịch vụ sinh thái liên quan đến các mô hình nông lâm kết hợp (NLKH). Nghiên cứu sử dụng phương pháp chuyên gia và kế thừa số liệu từ các tài liệu, phương pháp phân vùng sinh thái dựa theo tiêu chí hiện trạng rừng với chức năng hệ sinh thái và các mô hình NLKH hiện hữu. Kết quả nghiên cứu cho thấy, khu vực nghiên cứu gồm 3 khu vực nhỏ: (i) Khu vực Núi Cấm, huyện Tịnh Biên; (ii) Khu vực núi Cô Tô, huyện Tri Tôn; (iii) Khu vực núi Dài, huyện Tri Tôn và Tịnh Biên. Căn cứ vào kiểu rừng để phân chia dạng sinh thái, gồm: (i) Hệ sinh thái rừng tự nhiên; (ii) Hệ sinh thái rừng trồng. Tổng hợp cho 2 nhóm yếu tố cơ sở, đã phân thành 6 khu vực đồng thời là 6 dạng sinh thái. Mỗi dạng sinh thái đều có thành phần rừng tự nhiên hay rừng trồng, nhưng khác biệt nhau về vị trí địa lý và độ cao địa hình, trong đó dạng sinh thái rừng trồng trên đồi núi thấp và sườn núi ở độ cao dưới 300 m có diện tích lớn nhất trong các dạng sinh thái và đóng vai trò quan trọng cho phát triển mô hình NLKH tại khu vực.
-
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHIẾN LƯỢC SINH KẾ CỦA HỘ GIA ĐÌNH VÙNG XÂM NHẬP MẶN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Abstract : 21 PDF: 11Nghiên cứu xác định các yếu tố ảnh hưởng đến chiến lược sinh kế của các hộ gia đình nông thôn vùng xâm nhập mặn ở ĐBSCL bằng mô hình mvprobit và mô hình mvtobit. Kết quả từ cả hai mô hình này cho thấy, các đặc điểm nhân khẩu học, kinh tế - xã hội có tác động đáng kể đến quyết định lựa chọn chiến lược sinh kế của hộ gia đình nông thôn, qua đó phản ánh cường độ tác động của từng yếu tố lên nguồn thu của các chiến lược. Nghiên cứu còn cho thấy xâm nhập mặn không chỉ tác động đến quyết định lựa chọn chiến lược sinh kế của hộ gia đình nông thôn ĐBSCL, mà còn ảnh hưởng đến nguồn thu từ các hoạt động sinh kế của họ. Ngoài ra, nghiên cứu đã chỉ ra việc quyết định tham gia sinh kế phi nông nghiệp làm giảm xác suất áp dụng các chiến lược sinh kế khác, tuy nhiên khi kết hợp cùng sinh kế phi nông nghiệp sẽ giúp tăng nguồn thu cho cả sinh kế trồng trọt và việc làm có trả lương. Những phát hiện này hỗ trợ cho việc định hình chính sách phát triển kinh tế - xã hội, chính sách về việc làm phù hợp với đặc điểm tự nhiên, khí hậu và các đặc điểm khác của từng địa phương.








