Số 10 (2023)

					Xem Số 10 (2023)
Đã Xuất bản: 30-05-2023

Bài viết

  • KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG GIỐNG NGÔ NẾP LAI QT566 TẠI QUẢNG NGÃI

    Abstract : 18 PDF: 6
    Lê Quý Tường, Lê Thị Cúc, Trần Trung Kiên
    3-7

    Kết quả đánh giá, khảo nghiệm sinh thái diện hẹp giống ngô nếp lai QT566 (D111//N7C) tại Quảng Ngãi, đã xác định giống QT566 có thời gian từ gieo đến thu hoạch bắp tươi 76 ngày (vụ đông xuân năm 2021 - 2022) và 65 ngày (vụ hè thu năm 2022); cây cao trung bình 176,1 cm, cao đóng bắp trung bình 86,9 cm; sâu đục thân (điểm 2), sâu đục bắp (điểm 1 - 2), bệnh khô vằn (điểm 1 - 2), bệnh đốm lá lớn (điểm 1 - 2); cứng cây, chống đổ ngã tốt; năng suất bắp tươi trung bình 108,6 tạ/ha, vượt hơn giống MX6 là 27%; chất lượng bắp ăn tươi ngon, vị đậm khá hơn giống MX6. Là giống triển vọng tại Quảng Ngãi.

    DOI: https://doi.org/10.71254/kkptva44
  • KẾT QUẢ BÌNH TUYỂN CÂY ĐẦU DÒNG MÍT DAI VÀNG TẠI HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH

    Abstract : 24 PDF: 9
    Đặng Thị Trang, Nguyễn Thị Xuyến, Hoàng Thị Lan Hương, Đoàn Minh Diệp
    8-14

    Mít Dai vàng là cây trồng truyền thống của xã Hà Giang, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, có nhiều đặc điểm quý, như: Múi dài, thịt múi dày màu vàng sậm, tỷ lệ phần ăn được cao, khối lượng quả trung bình đạt 6,8 kg phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng và được người dân trồng lâu đời ở địa phương. Tuy nhiên, việc trồng mít nơi đây mang tính chất tự phát, giống được nhân chủ yếu từ hạt, chưa có biện pháp kỹ thuật nhân giống cũng như chăm sóc thích hợp nên ảnh hưởng đến giá trị dinh dưỡng quả. Nghiên cứu tuyển chọn cây đầu dòng là một giải pháp để bảo tồn và phát triển giống mít bản địa này. Trên cơ sở đánh giá quần thể mít tại địa phương, đã chọn được 20 cá thể ưu tú và lập hồ sơ đề nghị công nhận của 7 cây ưu tú. Kết quả đã được Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Thái Bình công nhận 7 cây đầu dòng tại các quyết định số 196, 197, 198, 199, 200, 201, 202/QĐ-SNNPTNT, ngày 8/8/2022.

    DOI: https://doi.org/10.71254/k9nt3q10
  • NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY TRÌNH TRỒNG CÂY LÁ KHÔI (Ardisia gigantifolia Stapf) TẠI HUYỆN SƠN TÂY, TỈNH QUẢNG NGÃI

    Abstract : 18 PDF: 8
    Nguyễn Xuân Trường, Nguyễn Bá Hưng, Trịnh Minh Vũ, Trần Thị Liên, Nguyễn Thị Thuý1
    15-20

    Cây lá khôi (Ardisia gigantifolia Stapf) loài cây ưa ẩm, chịu bóng, mọc hoang tại những khu rừng rậm, nơi râm mát, tán rừng ẩm, nhiều mùn, ven suối, trong rừng hay ven rừng nguyên sinh ở độ cao 700 - 1.300 m. Nghiên cứu tiến hành bố trí 3 thí nghiệm về mật độ, phân bón và độ tàn che theo khối ngẫu nhiên đầy đủ RCB. Mỗi công thức thí nghiệm có diện tích 100 m2, với 3 lần nhắc lại, mỗi lần nhắc lại theo dõi 10 cây. Kết quả nghiên cứu cho thấy, với mật độ trồng 7.000 cây/ha (tương đương khoảng cách 1 x 1,5 m), lượng phân bón: 6 tấn phân hữu cơ vi sinh + 90 kg N + 90 kg P2O5 + 120 kg K2O, độ tàn che 50 - 60% cho năng suất thực thu đạt cao nhất lần lượt là 21,35 tấn tươi/ha/năm, tỷ lệ tươi/khô đạt 4,82 cho năng suất khô đạt 4,43 tấn khô/ha/năm. Các loại sâu hại, bệnh hại chính xuất hiện trên cây lá khôi là: Sâu đục thân (Nadezhdiella cantori Hope), sâu ăn lá (Phyllocnistis citrella Stainton), bệnh thán thư (Colletotrichum gloeosporioides) và bệnh đốm lá (pseudocercospoella capsellae).

    DOI: https://doi.org/10.71254/dxetbw05
  • ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ VÀ LƯỢNG BÓN NPK (13:13:13+TE) ĐẾN SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG DƯA VÀNG KIM HOÀNG HẬU (Cucumis melo L.) TRỒNG TRONG NHÀ CÓ MÁI CHE TẠI THANH HÓA

    Abstract : 23 PDF: 8
    Tống Văn Giang, Đàm Hương Giang, Vũ Ngọc Lan
    21-33

    Nghiên cứu nhằm mục tiêu xác định được mật độ trồng và lượng phân bón NPK (13:13:13+TE) phù hợp cho cây dưa vàng Kim Hoàng Hậu trồng trong nhà có mái che tại Thanh Hóa. Thí nghiệm được bố trí theo kiểu chia ô lớn ô nhỏ (Split - plot), gồm 12 công thức, 3 lần nhắc; trong đó yếu tố mật độ là ô lớn và yếu tố lượng phân bón (13:13:13:TE) là ô nhỏ với kí hiệu tương ứng là: M1: 19.000 cây/ha, M2: 22.000 cây/ha, M3: 25.000 cây/ha và P1: 1.200 kg NPK (13:13:13+TE)/ha), P2: 1.400 kg NPK (13:13:13+TE)/ha), P3: 1.600 kg NPK (13:13:13+TE)/ha, P4: 1.800 kg NPK/ha. Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong cùng mật độ thì chế độ dinh dưỡng đã ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của cây dưa; thời gian sinh trưởng sinh thực đến sớm hơn khi chế độ dinh dưỡng thấp, thời gian từ trồng đến quả chín ở các công thức dao động 70 - 76 ngày trong vụ xuân hè và 68 - 74 ngày trong vụ hè thu. Công thức có chỉ tiêu sinh trưởng ổn định, cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất tại mật độ trồng 22.000 cây/ha và lượng bón 1.600 kg NPK (13:13:13+TE)/ha với thời gian từ trồng đến quả chín 74 ngày trong vụ xuân hè và 72 ngày trong vụ hè thu, năng suất lý thuyết đạt 36,30 tấn/ha trong vụ xuân hè và 35,57 tấn/ha trong vụ hè thu. Năng suất thực thu đạt 29,36 tấn/ha trong vụ xuân hè và 28,78 tấn/ha trong vụ hè thu. Độ Brix đạt 12,9% trong vụ xuân hè và 13,5% trong vụ hè thu. Lợi nhuận đạt 678.900.000 đồng/vụ/ha trong vụ xuân hè và 660.000.000 đồng/vụ/ha trong vụ hè thu.

    DOI: https://doi.org/10.71254/zbndkq34
  • NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CỦA Bacillus amyloliquefaciens VL4.6 TÁC NHÂN KIỂM SOÁT SINH HỌC ĐỐI KHÁNG VỚI Colletotrichum lagenarium GÂY BỆNH THÁN THƯ TRÊN DƯA LEO

    Abstract : 19 PDF: 7
    Nguyễn Thị Liên, Nguyễn Thị Phi Oanh, Nguyễn Đắc Khoa
    34-41

    Bacillus amyloliquefaciens được xác định là tác nhân kiểm soát sinh học (BCA) hiệu quả và thân thiện với môi trường trong canh tác nhiều loại cây trồng khác nhau. Nghiên cứu này nhằm mục đích xác định các đặc tính của chủng vi khuẩn Bacillus amyloquefaciens VL4.6 trong điều kiện in vitro và đánh giá hiệu quả giảm bệnh thán thư trên dưa leo do Colletotrichum lagenarium gây ra của chủng B. amyloliquefaciens VL4.6 (VL4.6) được phân lập từ đất vùng rễ cây dưa leo. Chủng VL4.6 thể hiện hoạt tính đối kháng với nhiều mầm bệnh gây hại trên cây dưa leo. Chủng VL4.6 cho thấy, khả năng sản sinh nhiều enzyme ngoại bào (β-1,3-glucanase, cellulase, chitinase, và protease), siderophore, các hợp chất hữu cơ không bay hơi và các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi kháng nấm. Kết quả khảo sát ghi nhận, khi xử lý chủng VL4.6 cho thấy, hiệu quả phòng trừ bệnh thán thư trên dưa leo ở điều kiện nhà lưới. Các biện pháp xử lý huyền phù VL4.6 vào đất (ngâm hạt, tưới đất) và phun lên lá đều làm giảm diện tích vết bệnh trên lá. Mật số vi khuẩn 108 tế bào/mL cho hiệu quả giảm bệnh cao nhất. Nhìn chung, B. amyloliquefaciens VL4.6 có thể sử dụng như BCA trong canh tác dưa leo, đặc biệt trong phòng trừ bệnh thán thư do C. lagenarium.

    DOI: https://doi.org/10.71254/hxd5zj32
  • KHẢ NĂNG PHÒNG TRỊ CỦA CÁC CHỦNG XẠ KHUẨN ĐỐI VỚI NẤM Colletotrichum sp. GÂY BỆNH THÁN THƯ HẠI CÂY HOA HUỆ

    Abstract : 19 PDF: 9
    Lê Minh Tường, Trần Như Huỳnh, Lê Minh Quân
    42-50

    Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 6 đến tháng 12 năm 2022 trong điều kiện phòng thí nghiệm và nhà lưới thuộc Trường Nông nghiệp, Trường Đại học Cần Thơ. Mục tiêu của nghiên cứu là nhằm tìm ra chủng xạ khuẩn có khả năng phòng trị bệnh thán thư hại cây hoa huệ do nấm Colletotrichum sp. gây ra. Khả năng phân giải chitin của 5 chủng xạ khuẩn (CL1-TG, CL2-TG, BM2-VL, VL1-ĐT và HB2-BL) được thực hiện trong điều kiện phòng thí nghiệm. Kết quả cho thấy, 2 chủng CL1-TG và HB2-BL cho khả năng phân giải chitin cao với bán kính vòng phân giải lần lượt là 24,30 mm và 23,20 mm ở thời điểm 7 ngày sau khi bố trí thí nghiệm. Khả năng phân giải β-glucan của 5 chủng xạ khuẩn trong điều kiện phòng thí nghiệm cho thấy, 2 chủng CL1-TG và HB2-BL có khả năng phân giải β-glucan cao với bán kính vòng phân giải lần lượt là 14,10 mm và 14,68 mm ở thời điểm 14 ngày sau khi bố trí thí nghiệm. Bên cạnh đó, khả năng phòng trị bệnh thán thư hại cây hoa huệ do nấm Colletotrichum sp. gây ra của 2 chủng xạ khuẩn CL1-TG và HB2-BL cũng được thực hiện trong điều kiện nhà lưới; kết quả cho thấy, chủng HB2-BL khi được xử lý 2 lần vào 2 ngày trước khi lây bệnh nhân tạo và 2 ngày sau khi lây bệnh nhân tạo cho hiệu quả phòng trị bệnh cao thông qua phần trăm diện tích vết bệnh thấp (22,92%) và hiệu quả giảm bệnh cao (70,90%) tương đương với nghiệm thức sử dụng thuốc hóa học ở thời điểm 16 ngày sau khi lây bệnh nhân tạo.

    DOI: https://doi.org/10.71254/za729h19
  • NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH NHIỄM VÀ KHẢ NĂNG MẪN CẢM ĐỐI VỚI KHÁNG SINH CỦA NẤM Candida spp. TRÊN GÀ ÁC SINH SẢN

    Abstract : 18 PDF: 7
    Trần Thị Bảo Trân
    51-58

    Mục tiêu của nghiên cứu này là phân lập vi nấm men Candida spp. gây bệnh nấm diều trên gà Ác sinh sản và đánh giá tính mẫn cảm của các loài vi nấm Candida spp. phân lập được đối với các kháng sinh phổ thông bằng phương pháp khuếch tán trên thạch. Có 23 mẫu dương tính với Candida spp. đã được phân lập từ 30 mẫu bệnh phẩm gà Ác sinh sản nghi mắc bệnh, chiếm tỷ lệ 76,67%, mật độ nhiễm trung bình 5,30.105CFU/g với log=5,35 ± 0,62. Một số loài Candida spp. phân lập được là C. lbicans, C. rusei loài Candida khác. Gà Ác sinh sản từ 4 tháng tuổi đến loại thải đều có khả năng nhiễm nấm Candida spp., không chỉ nhiễm 1 loài mà còn nhiễm ghép ít nhất 2 loài. Nấm men Candida spp. rất mẫn cảm với kháng sinh Nystatin, mẫn cảm yếu với kháng sinh Itraconazole. 

    DOI: https://doi.org/10.71254/zb0rdh40
  • NGHIÊN CỨU CÁC THÔNG SỐ KỸ THUẬT CHÍNH CỦA BỘ PHẬN BỨT QUẢ LẠC TƯƠI TRONG LIÊN HỢP MÁY THU HOẠCH LẠC

    Abstract : 27 PDF: 8
    Lê Quyết Tiến, Đỗ Hữu Quyết, Lê Sỹ Hùng, Nguyễn Xuân Biên
    59-68

    Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật của bộ phận bứt quả lạc tươi trong liên hợp máy thu hoạch lạc. Phương pháp nghiên cứu là thực nghiệm đơn yếu tố. Thiết bị thí nghiệm là bộ phận bứt quả kiểu trống xoắn dọc trục. Các thông số ảnh hưởng bao gồm: Vận tốc quay của trống đập n (Vòng/phút - v/ph); lượng cung cấp q (kg/s); chỉ số độ nghiêng gân nắp trống h (mm); chiều dài trống L (mm). Các chỉ tiêu nghiên cứu bao gồm: Độ sót η (%); độ vỡ ψ (‰); chi phí công suất N (kW). Kết quả nghiên cứu đã xác định được: Ứng với các thông số đầu vào n = 420 - 660 (v/ph); q = 0,5 - 0,7 (kg/s); h = 200 - 300 (mm); L = 1.200 -1.800 (mm) các chỉ  tiêu đầu ra đạt giá trị mong muốn (độ sót η£ 3%, độ vỡ ψ£ 10‰, chi phí công suất N£ 3 kW).

    DOI: https://doi.org/10.71254/a6g80103
  • NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG CÂY XANH NHẰM GIẢM THIỂU KHÍ CO2 VÀ CÁC HỢP CHẤT HỮU CƠ DỄ BAY HƠI (VOCS) TRONG KHÔNG KHÍ TRONG NHÀ

    Abstract : 19 PDF: 9
    Nguyễn Thị Ngọc Ánh, Phạm Châu Thùy
    69-77

    Suy giảm chất lượng không khí do tác động của các ngành công nghiệp, giao thông, đô thị hóa là một vấn đề đáng báo động ở Việt Nam cũng như trên thế giới. Ô nhiễm không khí trong nhà làm ảnh hưởng sức khỏe, giảm tuổi thọ, gây ra bệnh tật và tăng các triệu chứng của các bệnh tiềm ẩn cho con người đang được quan tâm hiện nay. Để đóng góp một phần cho những nghiên cứu giảm thiểu ô nhiễm không khí trong nhà, nghiên cứu này thực hiện đánh giá khả năng hấp thụ các chất ô nhiễm không khí phổ biến trong nhà bao gồm CO2, các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi (VOCs) của một số cây xanh trong nhà và tìm hiểu mối liên hệ giữa một số đặc điểm sinh lý thực vật của cây đến khả năng hấp thụ các khí ô nhiễm này. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, cả 3 cây thí nghiệm gồm cây lô hội, cau tiểu trâm và lan ý đều có khả năng hấp thụ các chất ô nhiễm, trong đó hiệu quả xử lý tổng các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi (TVOC) cao hơn CO2. Cây lô hội giúp làm giảm tới 91% khí TVOC và 72% khí CO2. Cây cau tiểu trâm giúp làm giảm 86% TVOC và 58% CO2. Cây lan ý giúp làm giảm tới 72% TVOC và 55% CO2  sau 21 giờ thí nghiệm. Kết quả xử lý thống kê cho thấy, các cây nghiên cứu đều có khả năng xử lý chất ô nhiễm, hiệu quả xử lý của các cây này khá tương đồng nhau và có sự khác biệt đáng kể so với thí nghiệm đối chứng. Đặc điểm về khí khổng, cụ thể là tổng diện tích khí khổng của cây bước đầu thể hiện sự ảnh hưởng tới hiệu quả xử lý khí ô nhiễm. Kết quả này làm cơ sở khoa học cho những nghiên cứu tiếp theo giúp lựa chọn những loài cây có hiệu quả trong xử lý ô nhiễm không khí trong nhà.

    DOI: https://doi.org/10.71254/nkphaj18
  • MÔ HÌNH PHÂN BỐ TẦN SUẤT ĐƯỜNG KÍNH, CHIỀU CAO CÁC LÂM PHẦN KEO TAI TƯỢNG (Acacia mangium) Ở TUYÊN QUANG

    Abstract : 23 PDF: 9
    Lê Đức Thắng, Đào Thị Thu Hà, Huỳnh Văn Chung
    78-90

    Phân bố tần suất đường kính, chiều cao lâm phần cung cấp các thông tin quan trọng nhằm xây dựng các phương án quản lý rừng có hiệu quả. Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm đánh giá mức độ phù hợp của 5 hàm phân phối (Normal, Lognormal, Gamma, Exponential và Weibull) cho phân bố số cây theo đường kính và chiều cao lâm phần Keo tai tượng ở giai đoạn 4 - 8 tuổi trồng tại Tuyên Quang. Kết quả cho thấy, số cá thể Keo tai tượng tập trung lớn nhất ở các cỡ đường kính D4 (10 – 12 cm), D5 (12 – 14 cm) và D6 (14 – 16 cm), chiếm 67,2%; tương ứng ở các cỡ chiều cao H4 (12 – 14 m), H5 (14 – 16 m) và H6 (16 – 18 m), chiếm 66,3% tổng số cây trong lâm phần và giảm dần khi cỡ đường kính (và cỡ chiều cao) tăng lên hoặc cỡ đường kính (và cỡ chiều cao) giảm đi. Hai hàm phân phối: Normal và Weibull đều có mức độ phù hợp và hiệu quả tốt nhất để mô tả phân bố số cây theo đường kính và chiều cao các lâm phần Keo tai tượng trồng ở Tuyên Quang. Kết quả nghiên cứu là cơ sở để các nhà quản lý, các chủ rừng lập kế hoạch cho các biện pháp kỹ thuật lâm sinh trong nuôi dưỡng rừng cũng như chuyển hóa rừng trồng gỗ nhỏ sang rừng trồng gỗ lớn cho các lâm phần Keo tai tượng nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế.

    DOI: https://doi.org/10.71254/84azdm07
  • NGHIÊN CỨU TỐI ƯU HÓA QUY TRÌNH THỦY PHÂN TRỨNG CẦU GAI ĐEN (Diadema savignyi) BẰNG ENZYME ALCALASE

    Abstract : 17 PDF: 9
    Đoàn Lan Phương, Đinh Thị Kim Hoa, Lưu Hồng Sơn, Nguyễn Lan Nhi
    91-100

    Cầu gai (Diadema savignyi) là loài động vật biển không xương sống ngành Echinodermata, ở Việt Nam thường được gọi bằng tên cầu gai đen. Trứng cầu gai đen được coi là một loại thực phẩm giàu dinh dưỡng bởi chứa hàm lượng lipit và protein cao, đặc biệt là có chứa đầy đủ các axit béo và axit amin thiết yếu. Sử dụng enzyme để thủy phân protein là một phương pháp chế biến hiệu quả trong ngành công nghiệp thực phẩm nhằm nâng cao chất lượng dinh dưỡng của sản phẩm. Thuỷ phân phá vỡ các liên kết peptide, chuyển protein mạch dài thành oligopeptide, peptide mạch ngắn và axit amin tự do giúp nâng cao hiệu quả hấp thụ dinh dưỡng. Bài viết này đề cập tới nghiên cứu tối ưu hóa các thông số của quá trình thủy phân trứng cầu gai đen. Nghiên cứu đã lựa chọn 3 thông số ảnh hưởng tới quá trình thủy phân trứng cầu gai đen bằng enzyme Alcalase là tỉ lệ nước/nguyên liệu; tỉ lệ enzyme bổ sung và thời gian thủy phân để tiến hành tối ưu hóa và đã tìm ra được điều kiện tối ưu: tỉ lệ nước/nguyên liệu 0,88 (mL/g); tỉ lệ enzyme bổ sung là 1,32%; thời gian thủy phân là 6,13 giờ và hàm lượng protein hòa tan tổng số thu được là 212,63 mg/g tăng gấp 2,58 lần so với hàm lượng protein hòa tan ban đầu của nguyên liệu.

    DOI: https://doi.org/10.71254/cnermb42