Số 22 (2024)
Bài viết
-
Nghiên cứu đánh giá tiềm năng về năng suất và chất lượng của nguồn gen sắn địa phương ở Việt Nam
Abstract : 364 PDF: 0Ở Việt Nam, sắn là cây lương thực giữ vai trò trọng yếu trong phát triển nông nghiệp, đứng thứ ba sau lúa và ngô. Hiện nay, công tác bảo tồn nguồn gen cây sắn đang ngày càng được quan tâm nhằm đảm bảo sự đa dạng, tạo nguồn vật liệu cho công tác chọn tạo giống ổn định năng suất và hàm lượng dinh dưỡng nhằm thích ứng với sự biển đổi khí hậu. Đặc biệt, các nghiên cứu về đánh giá năng suất, chất lượng của nguồn gen cây sắn địa phương ở Việt Nam vẫn còn rất hạn chế và đang là một khoảng trống trong bảo tồn nguồn gen sắn địa phương hướng đến sự phát triển bền vững trong tương lai. Nghiên cứu tập trung đánh giá năng suất, chất lượng của tập đoàn 200 mẫu giống sắn tại xã An Khánh, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. Kết quả cho thấy, các mẫu giống sắn nghiên cứu có năng suất đạt trung bình 17,2 tấn/ha, dao động từ 1,5 - 41,0 tấn/ha, với 72,5% mẫu giống nghiên cứu có hàm lượng tinh bột trên 25 g/100 g, hàm lượng chất khô dao động từ 22,9 - 48,6 g/100 g, hàm lượng đường tổng số của các mẫu giống dao động từ 0,27 - 3,7 g/100 g, hàm lượng HCN dao động từ 0,45 - 248 mg/kg, trung bình đạt 17,57 mg/kg.
-
Đánh giá khả năng kết hợp tính trạng năng suất và giá trị ưu thế lai của một số tổ hợp lai cà rốt tại tỉnh Lâm Đồng và Hải Dương
Abstract : 357 PDF: 0Nghiên cứu đánh giá 55 tổ hợp lai (THL) cà rốt được lai tạo từ 11 giống cà rốt theo phương pháp lai luân giao (diallel) theo sơ đồ Griffing 4. Thí nghiệm được thực hiện trong vụ hè thu tại tỉnh Lâm Đồng và vụ thu đông tại tỉnh Hải Dương vào năm 2023. Kết quả khảo nghiệm cho thấy, các THL sinh trưởng, phát triển tốt ở cả hai vùng sinh thái. Đánh giá khả năng kết hợp xác định được 4 giống D1, D2, D10 và D11 vừa có giá trị KNKHC cao và vừa có giá trị phương sai KNKHR cao. Kết quả đánh giá UTL cho thấy, tại tỉnh Lâm Đồng, UTL chuẩn so với giống đối chứng Supper VL 444 có 22 THL đạt giá trị dương từ +0,0 đến +21,6%, trong đó có 3 THL đạt giá trị cao nhất là CR23.19, CR23.39 và CR23.49 (+19,3 đến +21,6%), 33 THL đạt giá trị âm từ -17,9 đến -0,3%; tại tỉnh Hải Dương, có 14 THL đạt giá trị dương từ +0,0 đến +20,4% và 41 THL còn lại đạt giá trị âm từ -25,5 đến -2,2%. Xác định được 14 THL đạt năng suất cao từ 45,0 - 52,6 tấn/ha tại tỉnh Lâm Đồng và Hải Dương.
-
Hoàn thiện quy trình công nghệ nhân giống hoa lan hoàng thảo bằng công nghệ nuôi cấy mô tế bào.
Abstract : 685 PDF: 0Nghiên cứu nhằm hoàn thiện quy trình nhân giống in vitro lan hoàng thảo Den 08.5.2. đã được thực hiện. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Vật liệu khởi đầu là chồi non in vivo được khử trùng bằng dung dịch nano bạc ở nồng độ 150 ppm trong 45 phút cho hiệu quả khử trùng tốt nhất và cao hơn công thức đối chứng với tỉ lệ mẫu sạch là 78,89%, tỉ lệ mẫu sạch và sống đạt 72,22%, thời gian phát sinh hình thái là 17,3 ngày. Môi trường nhân nhanh tối ưu là 2,5 g/L hyponex + 0,5 mg/L BAP + 0,2 mg/L α-NAA + 0,2 g/L than hoạt tính (THT) + 100 ml/L nước dừa đóng hộp (NDH) + 15 mg/L chitosan với hệ số nhân đạt 4,3 chồi/mẫu, chiều cao chồi 2,2 cm, khối lượng cụm chồi là 0,93 g/cụm, chồi xanh mập. Môi trường tạo cây hoàn chỉnh thích hợp là 2,5 g/L hyponex + 0,5 mg/L α-NAA + 0,3 g/L THT + 7,5 g/L bột chuối tiêu (BCT) với số rễ/cây đạt 5,38 rễ, chiều dài rễ là 4,17 cm, chiều cao cây 5,75 cm, số lá trên cây là 3,56 lá. Giai đoạn ra ngôi cây con lan hoàng thảo được ra ngôi trên giá thể dớn đạt hiệu quả tối ưu với tỷ lệ cây sống đạt 98,8% với chiều cao cây đạt 7,82 cm, khối lượng cây là 1,51 g/cây, tỷ lệ xuất vườn là 91,11%.
-
Ảnh hưởng của tuổi liếp đến sự thay đổi một số tính chất độ phì nhiêu của đất trồng sầu riêng ở đồng bằng sông Cửu Long
Abstract : 769 PDF: 0Mục tiêu nghiên cứu là đánh giá sự thay đổi về hình thái và đặc tính hóa học của đất ở các độ tuổi liếp trồng sầu riêng khác nhau. Nghiên cứu được thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 1 đến tháng 3 năm 2023. Ba độ tuổi liếp (12, 20, 31 năm) trồng sầu riêng đại diện cho vùng đồng bằng sông Cửu Long được khảo sát. Sau khi phân tầng và mô tả hình thái của phẫu diện đất, các tính chất hóa học như: pH, EC, chất hữu cơ, lân hữu dụng, đạm tổng số và cation trao đổi trong đất đã được phân tích và so sánh. Kết quả cho thấy, trong 3 phẫu diện đất trồng sầu riêng đất được chia thành 4 tầng chính: A, Ap, Bg, Cr ở độ sâu từ 0 - 2 m. Tuổi liếp càng cao (31 năm) có xu hướng suy giảm hàm lượng chất hữu cơ, CEC, đạm tổng số, lân hữu dụng, Ca và Mg trao đổi ở tầng đất canh tác (0 − 30 cm), dẫn đến gia tăng độ chua của đất (pH). Đối với tầng đất bên dưới (Ap, Bg, Cr), chưa có sự khác biệt về các đặc tính hóa học đất giữa các độ tuổi liếp khảo sát. Để giảm sự suy giảm về hàm lượng chất dinh dưỡng và hữu cơ trên tầng đất canh tác, nông dân trồng cây ăn trái nói chung và cây sầu riêng nói riêng nên bổ sung thêm phân hữu cơ và vôi. Ngoài ra, sự che phủ mặt liếp bằng cỏ dại, cây họ Đậu, hoặc rơm rạ cũng được xem là các biện pháp tối ưu để giảm sự rửa trôi các cation trao đổi và dinh dưỡng của đất do nước mưa hoặc nước tưới.
-
Nghiên cứu điều kiện nhân nuôi nấm nội sinh Trichoderma konilangbra ĐL3 có khả năng sinh tổng hợp Indole-3-Acetic Acid phân lập từ rễ cây đinh lăng (Polyscias fruticosa)
Abstract : 522 PDF: 0Trong nghiên cứu này, chủng nấm nội sinh Trichoderma konilangbra ĐL3 đã phân lập từ rễ cây đinh lăng tại tỉnh Nam Định, được lựa chọn để khảo sát điều kiện nhân nuôi có khả năng sinh tổng hợp IAA từ đó ứng dụng tạo ra chế phẩm sinh học. Chủng nấm Trichoderma konilangbra ĐL3 sinh trưởng tốt trên môi trường Potato Dextrose Agar (PDA), ở 35oC, pH 7 lượng sinh khối ướt và IAA thu được cao nhất tại thời điểm 144 giờ đạt lần lượt 127,2 g/L và 26,31 ppm. Chủng nấm Trichoderma konilangbra ĐL3 phát triển tốt trên cơ chất thóc: ngô với tỷ lệ phối trộn 2: 1, độ ẩm 50 - 60% bổ sung giống 1%, sau 10 ngày nuôi cấy tạo hệ sợi bông màu trắng và hình thành các bào tử có màu xanh, mật độ nấm đạt 8,7 log CFU/g.
-
Định danh Phytophthora palmivora gây bệnh trên giống sầu riêng monthong (Durio zibethinus L. ‘Monthong’) bằng đặc điểm hình thái và sinh học phân tử
Abstract : 954 PDF: 0Bệnh do Phytophthora palmivora gây ra trên sầu riêng ngày càng diễn biến phức tạp và khó kiểm soát, trong khi việc xác định chính xác tác nhân gây bệnh còn gặp nhiều khó khăn. Trong nghiên cứu này, các chủng P. palmivora được phân lập từ các mẫu thân, trái sầu riêng giống Monthong bị bệnh và đất canh tác sầu riêng có triệu chứng vàng lá thối rễ tại một số tỉnh phía Nam trong năm 2023. Các chủng phân lập P. palmivora được định danh dựa trên đặc điểm hình thái và kiểm chứng là tác nhân gây bệnh theo chu trình Koch. Sau đó, sử dụng sản phẩm PCR với các mồi đặc hiệu Yph1F/Yph2R của vùng gen Ypt1 và mồi GUPal6fw/GUPal8rv của vùng gen GUP để xác định đến loài tác nhân gây bệnh. Tổng cộng có 20 chủng P. palmivora được phân lập, bào tử của tất cả các chủng này đều có 1 cuống cụt hoặc nửa bán cầu rõ ràng với kích thước trung bình 4,37 ± 1,75 µm. Bào tử hậu hình tròn với kích thước trung bình 31,63 - 47,93 µm. Túi bào tử hình quả lê ngược, hình oval, hình elip và hình trứng có kích thước trung bình 37,00 - 64,75 × 27,25 - 45,75 µm, tỷ lệ D/R dao động 1,13 - 1,87. Sản phẩm PCR vùng gen Ypt1 và GUP của các chủng phân lập P. palmivora có kích thước lần lượt là 450 - 470 bp và 150 bp. Trong đó, trình tự vùng gen Ypt1 của 7 chủng P. palmivora là DL1, LD1, DN3, DNg, GL3, TG2, Btr1 tương đồng với chủng P. palmivora (KU645765.1) từ 99 - 100% với độ bao phủ đạt trên 99%.
-
Phân tích hệ gen ty thể và mối quan hệ phát sinh chủng loại của gà trụi lông cổ
Abstract : 425 PDF: 0Trong nghiên cứu này, trình tự nucleotide hoàn chỉnh hệ gen ty thể của gà trụi lông cổ, một nguồn gen gà bản địa của Việt Nam thuộc huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An được xác định bằng phương pháp giải trình tự Sanger, phân tích cấu trúc và sử dụng để xác định mối quan hệ phát sinh chủng loại với các giống gà khác. Hệ gen ty thể của gà trụi lông cổ có kích thước là 16.785 cặp bazơ, bao gồm: 22 gen ARN vận chuyển (tRNA), 02 gen ARN ribosome (rRNA), 13 gen mã hóa protein và một vùng điều khiển không mã hóa (D-loop). Tỷ lệ các loại nucleotide thành phần A, T, G và C lần lượt tương ứng là 30,28%, 23,75%, 13,48% và 32,48%. Trình tự nucleotide toàn bộ hệ gen ty thể gà trụi lông cổ được đăng ký trên ngân hàng gen với mã số truy cập PQ412228. Kết quả phân tích quan hệ phát sinh chủng loại dựa trên trình tự hệ gen ty thể cho thấy, gà trụi lông cổ có nguồn gốc từ gà rừng lông đỏ phân loài Gallus gallus spadiceus. Gà trụi lông cổ có quan hệ gần gũi với gà Móng, gà Đông Tảo và gà lùn Cao Sơn của Việt Nam, gà vàng Rugao và gà Xiaoxang của Trung Quốc.
-
Nghiên cứu các thông số kỹ thuật của quy trình bảo quản quả quýt Trùng Khánh bằng màng chitosan
Abstract : 430 PDF: 0Quýt là loại quả có giá trị dinh dưỡng cao và được trồng nhiều ở nước ta, đặc biệt là ở các tỉnh: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang và một số địa phương khác. Quả quýt có tác dụng tốt cho sức khỏe và tim mạch, cung cấp cho cơ thể hàm lượng chất xơ, vitamin C, các thành phần chống oxy hóa cao. Tuy nhiên, nếu không có phương pháp bảo quản hiệu quả thì quả quýt sẽ bị thối hỏng rất nhanh. Nghiên cứu sử dụng chitosan hoà tan vào axit axetic và nước sạch để tạo thành dung dịch, sau đó nhúng quả quýt Trùng Khánh vào tạo màng để bảo quản. Các thông số kỹ thuật của quy trình bảo quản quả quýt là hàm lượng chế phẩm bảo quản 1,5%, thời gian nhúng quả quýt là 2 phút, mật độ quả trong giàn bảo quản là 1 cm và nhiệt độ bảo quản từ 16 - 20oC. Dựa vào các thông số kỹ thuật này, đã xây dựng được quy trình bảo quản quả quýt Trùng Khánh bằng màng chitosan gồm 7 bước, quả quýt sau 6 tuần bảo quản theo quy trình này có tỷ lệ thối hỏng nhỏ hơn 10%.
-
Nghiên cứu tuyển chọn cây trội căm xe (Xylia xylocarpa (Roxb.) Taub.) tại một số tỉnh Nam Trung bộ và Tây Nguyên
Abstract : 472 PDF: 0Cây Căm xe là loài cây gỗ quý hiếm, gỗ cứng, chắc, có giác lõi phân biệt, giác màu trắng vàng nhạt, dày, lõi màu đỏ thẫm hơi có vân, rất mịn, nặng. Nghiên cứu tuyển chọn cây trội Căm xe được thực hiện năm 2023, nhằm chọn lọc được cây trội Căm xe có năng suất, chất lượng thân cây tốt phục vụ trồng rừng gỗ lớn tại các tỉnh vùng Nam Trung bộ và Tây Nguyên. Kết quả điều tra tuyển chọn tại 5 tỉnh đã chọn được 118 cây trội Căm xe chính thức từ 144 cây trội dự tuyển, trong đó: Xuất xứ ở tỉnh Gia Lai 16 cây, tỉnh Đắk Lắk 20 cây, tỉnh Ninh Thuận 30 cây, tỉnh Bình Thuận 26 cây và tỉnh Khánh Hòa 26 cây. Các cây trội được chọn lọc ở 5 tỉnh đều có sinh trưởng, phát triển tốt, với đường kính ngang ngực (D1,3) dao động từ 23,6 - 52,5 cm, chiều cao từ 17,0 - 25,5 m, chiều cao dưới cành lớn đạt từ 12,0 - 19,0 m, chiếm từ 53,3 - 83,3% so với chiều cao vút ngọn, đường kính tán từ 5,5 - 9,6 m. Các cây trội có tổng điểm chất lượng thân cây đều đạt tương đối cao, từ 13 - 15 điểm/cây. Các cây trội Căm xe được theo dõi vật hậu, thu hái hạt giống để cung cấp nguồn hạt giống có năng suất, chất lượng được cải thiện góp phần khai thác và phát triển nguồn gen loài thực vật quý hiếm có giá trị tại các tỉnh vùng Nam Trung bộ và Tây Nguyên.
-
Nghiên cứu về hoạt động sinh kế dựa vào du lịch và an ninh sinh kế của hộ nghèo, cận nghèo tại tỉnh Ninh Bình
Abstract : 282 PDF: 0Nghiên cứu được thực hiện thông qua điều tra 426 hộ nghèo, cận nghèo tại tỉnh Ninh Bình nhằm tìm hiểu về các hoạt động sinh kế dựa vào du lịch mà các hộ nghèo, cận nghèo đang theo đuổi. Kết quả cho thấy, hộ nghèo, cận nghèo đã tham gia vào ngành du lịch từ rất lâu. Tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo làm du lịch từ 10 – 15 năm là 59,87%, cao hơn hẳn tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo làm du lịch dưới 10 năm. Tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo làm du lịch chiếm 36,9% trong tổng số hộ được điều tra, với các hoạt động sinh kế dựa vào du lịch chủ yếu là các hoạt động dịch vụ đơn giản, không đòi hỏi trình độ học vấn cao. Hai hoạt động sinh kế dựa vào du lịch chính là “chở khách” và “làm thuê”, trong đó 64,33% hộ nghèo, cận nghèo tham gia hoạt động “chở khách”. Bằng cách ước tính chỉ số an ninh sinh kế và so sánh chỉ số này giữa hai nhóm hộ nghèo, cận nghèo, nghiên cứu chỉ ra ưu thế về an ninh sinh kế của hộ nghèo, cận nghèo làm du lịch so với hộ nghèo, cận nghèo không làm du lịch.








