Số 23 (2024)

					Xem Số 23 (2024)
Đã Xuất bản: 15-12-2024

Bài viết

  • Nghiên cứu tuyển chọn giống lúa thuần chất lượng có năng suất cao và ổn định phù hợp cho canh tác lúa tại tỉnh Thanh Hóa

    Abstract : 490 PDF: 0
    Nguyễn Bá Thông, Tống Văn Giang
    3-12

    Nghiên cứu được thực hiện trong 2 vụ (vụ xuân năm 2022 và vụ xuân năm 2023) tại 3 huyện: Thọ Xuân, Triệu Sơn và Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa. Mục tiêu nghiên cứu là xác định được 1 - 2 giống lúa thuần chất lượng có năng suất cao (≥ 65 tạ/ha), thời gian sinh trưởng ngắn, ổn định và thích nghi rộng để bổ sung vào cơ cấu giống lúa trong vụ xuân của tỉnh. Thí nghiệm gồm 10 giống, trong đó giống Hương thơm số 1 là đối chứng. Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCBD), 3 lần nhắc lại, diện tích ô 10 m2 (2,5 x 4,0 m), gieo mạ ngày 09/01/2022 và 09/01/2023, mật độ cấy 45 khóm/m2. Lượng phân bón (tính cho 1 ha): Phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh 2.000 kg + 90 kg N + 100 kg P2O5 + 80 kg K2O. Kết quả, đã tuyển chọn được giống lúa thuần chất lượng, năng suất cao là Thái Hương, năng suất đạt 66,64 tạ/ha và Hương Thanh 8, năng suất đạt 65,76 tạ/ha, cao hơn năng suất giống Hương thơm số 1 (Đối chứng) và các giống khác ở mức có ý nghĩa tin cậy P = 95%. Hai giống này thể hiện tính thích nghi rộng và ổn định với các điều kiện môi trường khác nhau trong vụ xuân của tỉnh Thanh Hóa, chỉ số thích nghi gần với 1 và chỉ số ổn định tiến dần tới 0 (theo thứ tự bi = 1,034, S2di = -0,038; bi = 1,014, S2di = 0,126).

    DOI: https://doi.org/10.71254/xa1dhr22
  • Nghiên cứu đa dạng di truyền một số giống sắn địa phương ở Việt Nam bằng chỉ thị SSR

    Abstract : 439 PDF: 0
    Lê Thị Thu Trang, Đàm Thị Thu Hà, Nguyễn Mạnh Điệp, Lã Tuấn Nghĩa, Hoàng Thị Huệ, Lã Hoàng Nhật Minh
    13-22

    Sắn (Manihot esculenta Crantz) là một trong những cây lương thực chính có tiềm năng di truyền cao. Do đó, kiến thức về tính biến dị di truyền của cây sắn sẽ có tầm quan trọng lớn trong việc sử dụng hiệu quả tại các chương trình cải thiện di truyền. Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm đánh giá mức độ đa dạng di truyền của 200 mẫu giống sắn địa phương ở Việt Nam bằng 30 chỉ thị SSR. Kết quả cho thấy, tổng số alen phát hiện tại 30 locut SSR là 111 alen, trung bình 3,7 alen/locut. Chỉ số đa dạng PIC dao động từ 0,34 - 0,79, với giá trị trung bình là 0,62. Hệ số tương đồng di truyền của các mẫu giống sắn dao động từ 0,45 - 0,90. Ở hệ số tương đồng di truyền 0,626 thì 200 mẫu giống sắn chia thành 6 nhóm. Nhóm I gồm 5 mẫu giống có hệ số tương đồng di truyền từ 0,70 - 0,81; nhóm II gồm 152 mẫu giống có hệ số tương đồng di truyền từ 0,634 - 0,90; nhóm III gồm 13 mẫu giống có hệ số tương đồng di truyền từ 0,65 - 0,77; nhóm IV gồm 18 mẫu giống có có hệ số tương đồng di truyền cao nhất là 0,82; nhóm V gồm 7 mẫu giống có hệ số tương đồng di truyền từ 0,68 - 0,76; nhóm VI gồm 5 mẫu giống còn lại có hệ số tương đồng di truyền cao nhất là 0,74. Kết quả phân nhóm nguồn gen trong nghiên cứu sẽ là những thông tin có ý nghĩa cho chương trình chọn tạo giống sắn ở Việt Nam.

    DOI: https://doi.org/10.71254/25dncc12
  • Nghiên cứu chọn lọc cây trội thảo quả (Amomum aromaticum Roxb.)

    Abstract : 431 PDF: 0
    Phùng Nhuệ Giang, Nguyễn Thị Hiền, Phan Văn Thắng, Nguyễn Đức Long, Tạ Minh Quang
    23-34

    Thảo quả (Amomum aromaticum Roxb.) là một trong những loài cây lâm sản ngoài gỗ thuộc nhóm dược liệu/gia vị có giá trị kinh tế cao và được đánh giá là cây xóa đói, giảm nghèo của một số địa phương miền núi phía Bắc. Lai Châu có diện tích Thảo quả khoảng hơn 6.000 ha, là tỉnh có diện tích đứng thứ 3 cả nước chỉ sau tỉnh Lào Cai và tỉnh Hà Giang. Kết quả nghiên cho thấy, các lâm phần Thảo quả được lựa chọn để chọn cây trội đều trên 13 năm tuổi, sinh trưởng, phát triển tốt đáp ứng các tiêu chí chọn cây trội. Các lâm phần này được trồng ở các huyện: Tân Uyên, Tam Đường, Phong Thổ và Mường Tè. Từ 107 cây trội dự tuyển, đã chọn được 38 cây trội, có năng suất quả từ 5,03 - 8,35 kg/cây, độ vượt về năng suất quả từ 214,97 - 372,25%, hàm lượng tinh dầu trong quả từ 2,07 - 3,83% so với hàm lượng tinh dầu quy định tại Dược điển Việt Nam (2017) có độ vượt từ 47,86 - 175,71%.

    DOI: https://doi.org/10.71254/av1z0m76
  • Ảnh hưởng của phân sinh học Humix key plus khi thay thế một phần phân khoáng đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng hạt cây kế sữa (Silybum marianum (L.) Gaertn.) tại tỉnh Phú Thọ

    Abstract : 421 PDF: 0
    Phạm Thanh Loan, Hoàng Thị Lệ Thu
    35-40

    Axit humic giúp cây tăng cường khả năng hấp thu khoáng chất và tăng năng suất cây trồng. Sử dụng phân sinh học Humix key plus để thay thế một phần phân khoáng đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng hạt cây kế sữa là hướng nghiên cứu tiềm năng để nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón. Thí nghiệm gồm 4 công thức, bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh. Theo dõi các chỉ tiêu về sinh trưởng, các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất, hàm lượng silymarin và đánh giá hiệu quả kinh tế. Kết quả nghiên cứu cho thấy, phân sinh học Humix key plus có hiệu lực rõ rệt khi sử dụng để thay thế lượng phân khoáng bón cho cây kế sữa. Bón phân sinh học Humix key plus kết hợp giảm 20% lượng phân khoáng cho số lượng hoa là 7,8 hoa/cây với 58,2 hạt/bông, năng suất hạt cá thể đạt 11,6 g/cây và năng suất hạt thực thu đạt 420,5 kg/ha; các chỉ tiêu này đều không có sự sai khác so với công thức đối chứng ở mức có ý nghĩa. Mức bón này cho hàm lượng silymarin 2,60%, lợi nhuận đạt 237.951.000 đồng/ha, tỷ suất lợi nhuận đạt 3,07. Giảm 20% lượng phân khoáng là phù hợp khi thay thế bằng phân sinh học Humix key plus cho cây kế sữa trồng tại tỉnh Phú Thọ.

    DOI: https://doi.org/10.71254/12bhdh04
  • Ảnh hưởng của dung môi trích ly đến hàm lượng flavonoid, polyphenol, hoạt tính kháng oxy hóa và khả năng ức chế sản sinh nitric oxide của cao chiết rau má

    Abstract : 1116 PDF: 0
    Cao Thị Huệ, Hà Thị Dung, Nguyễn Thị Lan Hương
    41-50

    Nghiên cứu này khảo sát ảnh hưởng của dung môi trích ly đến hàm lượng polyphenol, flavonoid tổng số, hoạt tính kháng oxy hóa cũng như kháng viêm ức chế sản sinh nitric oxide (NO) của cao chiết rau má. Các loại dung môi: cồn thực phẩm 90o (ethanol), hỗn hợp ethanol/nước theo các tỉ lệ: 7: 3, 5: 5 và 3: 7 được lựa chọn để trích ly thu được các cao chiết tương ứng CA-E100, CA-EW73, CA-EW55, CA-EW37. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cao chiết CA-EW73 chứa hàm lượng polyphenol tổng số cao nhất, với giá trị 112,29 mg QE/g, trong khi cao chiết CA-E100 có hàm lượng flavonoid cao nhất, đạt giá trị 55,51 mg GAE/g. Cao chiết CA-EW73 thể hiện hoạt tính kháng oxy hóa theo phương pháp phosphomolybradeum và DPPH cũng như khả năng ức chế sản sinh NO tốt nhất, với giá trị EC50 của các phép thử này đạt giá trị: 67,03; 63,98; 50,29 µg/mL. Kết quả khảo sát mở ra hướng lựa chọn dung môi phù hợp trong phát triển các sản phẩm kháng oxy hóa và ức chế sản sinh NO tự nhiên từ cây rau má.

    DOI: https://doi.org/10.71254/484n0x03
  • Ảnh hưởng của hàm lượng protein trong thức ăn công nghiệp đến sinh trưởng, tỷ lệ sống của cá bè vẫu (Caranx ignobilis) giai đoạn giống

    Abstract : 543 PDF: 0
    Hoàng Nhật Sơn, Nguyễn Văn Hòa, Trần Thị Thu Trang, Kim Văn Vạn
    51-59

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định ảnh hưởng của hàm lượng protein trong thức ăn viên tới tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống, hiệu quả sử dụng protein trên cá bè vẫu (Caranx ignobilis) ở giai đoạn giống. Cá thí nghiệm được bố trí sử dụng thức ăn viên với các hàm lượng protein khác nhau (45, 50, 55, 60%) và 1 lô đối chứng sử dụng cá tạp. Thí nghiệm được theo dõi trong 45 ngày với 3 lần lặp trong 15 bể xi măng có thể tích 4,0 m3/bể, thả 15 con/m3, cỡ 5,0 cm/con. Kết quả nghiên cứu đã xác định nhu cầu protein phù hợp cho tăng trưởng của cá bè vẫu giai đoạn giống (5,0 - 10,0 cm/con) là từ 45 - 55%. Cá bè vẫu đạt tăng trưởng tối ưu ở mức 50% protein.

    DOI: https://doi.org/10.71254/damcxp65
  • Nghiên cứu kết cấu khung ống thép chắn lũ bùn đá chịu tác dụng của lực va chạm bằng thí nghiệm mô hình vật lý

    Abstract : 368 PDF: 0
    Vũ Quốc Công, Vũ Hoàng Hưng, Nguyễn Chí Thanh
    60-67

    Lũ bùn đá là loại hình thiên tai thường gặp ở khu vực miền núi phía Bắc. Một trong những giải pháp để ngăn chặn đá làm giảm tác động đến vùng hạ lưu là xây dựng các đập hở dạng khung thép ống. Đối với loại đập này, khi ngăn chặn dòng bùn đá, theo quán tính các khối đá lớn trong dòng chảy va chạm vào kết cấu chắn giữ có khả năng gây phá hoại kết cấu. Để giảm lực va chạm có thể đặt các gối mềm phía trước hoặc phía sau của khung. Nhờ tính đàn hồi của gối, làm tiêu tán một phần năng lượng do va chạm của đá khối. Một trong những gối đàn hồi đơn giản và hiệu quả là sử dụng lò xo thẳng có độ cứng nhất định theo phương dọc trục. Sử dụng phương pháp nghiên cứu thí nghiệm để phân tích ứng xử của khung khi không có/có thiết bị tiêu tán năng lượng chịu tác dụng của lực va chạm, từ đó đưa ra những kết luận về tính hiệu quả của giải pháp này.

    DOI: https://doi.org/10.71254/xnnnnp06
  • Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của loài Re hương (Cinnamomum parthenoxylon (Jack) Meisn.) ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên Hòn Bà, tỉnh Khánh Hòa phục vụ bảo tồn và phát triển nguồn gen

    Abstract : 576 PDF: 0
    Đặng Việt Hùng, Nguyễn Quốc Cường, Võ Cao Hoàng Lộc
    68-77

    Nghiên cứu được thực hiện tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên (BTTN) Hòn Bà, tỉnh Khánh Hòa. Đây là Khu BTTN rất quan trọng và là một trong 5 trung tâm đa dạng sinh học chính của Việt Nam. Nghiên cứu nhằm mục đích cung cấp thêm các đặc điểm sinh học của loài cây Re hương có phân bố tự nhiên tại Khu BTTN Hòn Bà. Các phương pháp điều tra truyền thống đã được sử dụng và phân tích số liệu thu thập. Re hương thường phân bố trong kiểu rừng kín lá rộng thường xanh mưa mùa nhiệt đới núi thấp. Re hương chỉ phân bố ở sườn đồi các dông núi có độ cao 296 - 610 m, ở trạng thái rừng phục hồi thân cây thường có đường kính nhỏ từ 8 - 31 cm, chiều cao từ 6 - 21 m. Tại khu vực điều tra nghiên cứu thì tiểu khu 234 ở độ cao 534 m có Re hương phân bố nhiều nhất với mật độ 40 cây/ha. Đường kính bình quân của Re hương trong khu vực dao động 14,5 - 26 cm, chiều cao dao động 11 - 18 m. Tỷ lệ cây Re hương tái sinh trong các trạng thái rừng điều tra có chất lượng tốt và trung bình đạt trên 96%. Đối với loài Re hương tại khu vực xuất hiện cả 2 hình thức tái sinh hạt và tái sinh chồi. Kết quả của nghiên cứu này góp phần cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn để bảo tồn và phát triển bền vững loài Re hương trong tương lai, hướng tới việc bảo tồn và gây trồng phát triển quần thể loài Re hương.

    DOI: https://doi.org/10.71254/qp6r4839
  • Nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tiểu vùng núi huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa

    Abstract : 476 PDF: 0
    Nguyễn Quang Thi, Phạm Thị Tuấn, Lê Trần Bích Phương, Hoàng Hữu Chiến, Nguyễn Huy Trung, Chu Văn Trung, Nguyễn Ngọc Anh, Hà Văn Tuyển
    78-88

    Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tiểu vùng núi huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá. Dùng phương pháp điều tra phỏng vấn 150 nông hộ sử dụng đất, phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất về kinh tế, xã hội và môi trường đối với các loại sử dụng đất. Kết quả cho thấy, tiểu vùng núi huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá có 8 loại sử dụng đất với 11 kiểu sử dụng đất; có 4/8 loại sử dụng đất có hiệu quả sử dụng cao là: LUT 2 (2 lúa - 1 màu), LUT 5 (chuyên màu), LUT 6 (cây ăn quả), LUT 7 (rừng sản xuất); có 3/8 loại sử dụng đất có hiệu quả sử dụng trung bình là: LUT 1 (2 lúa/chuyên lúa), LUT 3 (1 lúa - 1 màu), LUT 8 (cá các loại); 1/8 loại sử dụng đất có hiệu quả sử dụng thấp là: LUT 4 (cây công nghiệp ngắn ngày).

    DOI: https://doi.org/10.71254/53psg332
  • Giải pháp tích tụ, tập trung đất nông nghiệp để phát triển sản xuất hàng hóa quy mô lớn: Kinh nghiệm từ tỉnh Hưng Yên

    Abstract : 372 PDF: 0
    Trương Thu Loan, Tạ Minh Ngọc
    89-100

    Nghiên cứu nhằm đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả tích tụ, tập trung (TTTT) đất nông nghiệp (ĐNN) trên địa bàn tỉnh Hưng Yên. Kết quả nghiên cứu cho thấy, diện tích ĐNN của tỉnh Hưng Yên chiếm 62,52% đất tự nhiên và có xu hướng giảm với bình quân 215,15 ha/năm trong giai đoạn 2010 – 2021. Tính đến năm 2021, trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã TTTT được 6.496,7 ha ĐNN (chiếm 11,17%), với 3 phương thức chính là: (i) Thuê quyền sử dụng đất chiếm 48,96%; (ii) TTTT nhưng không thay đổi quyền sử dụng đất chiếm 32,97%; (iii) TTTT trên cơ sở thay đổi quyền sử dụng đất chiếm 19,07%. Người sử dụng đất đánh giá TTTT ĐNN tại tỉnh Hưng Yên với 2/12 tiêu chí ở mức rất cao và 10/12 tiêu chí ở mức cao. Có 3 nhóm yếu tố có ảnh hưởng đến TTTT ĐNN là: Thể chế, thị trường và kinh tế - xã hội (KTXH). Để nâng cao hiệu quả TTTT ĐNN trên địa bàn tỉnh Hưng Yên cần thực hiện đồng bộ các giải pháp: (i) Hoàn thiện thể chế TTTT ĐNN; (ii) Hoàn thiện thị trường quyền sử dụng đất, thị trường tiêu thụ nông sản, thị trường lao động và cơ sở hạ tầng phục vụ thị trường; (iii) Phát triển KTXH.

    DOI: https://doi.org/10.71254/q3qk0z96