Số 24 (2024)

					Xem Số 24 (2024)
Đã Xuất bản: 31-12-2024

Bài viết

  • Đa dạng nguồn gen cây trồng thu thập tại tỉnh Điện Biên giai đoạn 2004 - 2024

    Abstract : 511 PDF: 121
    Nguyễn Thị Quyên, Trần Thị Thu Hoài, Đới Hồng Hạnh, Hoàng Thị Nga, Lê Thị Loan, Hoàng Thị Hải, Lương Thị Kim Loan, Hồ Thị Thương, Tống Xuân Hiệu
    3-9

    Điện Biên là tỉnh biên giới thuộc vùng núi Tây Bắc Việt Nam, có diện tích tự nhiên 9.541,3 km2, với 19 dân tộc sinh sống cùng nguồn tài nguyên di truyền thực vật vô cùng phong phú. Để bảo tồn và lưu giữ an toàn nguồn tài nguyên này, trong giai đoạn 2004 - 2024, Trung tâm Tài nguyên thực vật đã thu thập và bảo tồn 1.305 mẫu giống của 83 loài cây trồng thuộc 58 chi và 24 họ thực vật của 4 nhóm cây trồng chính (Hòa thảo, đậu đỗ, cây có củ, rau và gia vị) trên địa bàn 8 huyện và thị xã của tỉnh Điện Biên. Trong đó, nhóm Hoà thảo có số lượng thu thập được nhiều nhất, với 474 mẫu giống của 7 loài cây trồng, nhóm cây rau và gia vị có sự đa dạng nhất, với 39 loài. Huyện Tuần Giáo có số lượng mẫu giống được thu thập nhiều nhất, với 376 mẫu giống. Dân tộc H’Mông có số mẫu giống thu thập được chiếm tỷ lệ cao nhất, với 51,3% (670 mẫu giống), tiếp đến là số mẫu giống thu thập được từ dân tộc Thái, với 26,78% (350 mẫu giống), 9 dân tộc còn lại chiếm 21,29%. Đây là nguồn vật liệu quý giá trong công tác bảo tồn và khai thác sử dụng nguồn gen cây trồng nông nghiệp.

    DOI: https://doi.org/10.71254/5hgyp407
  • Nghiên cứu nhân giống in vitro cây ngải đen (Kaempferia parviflora Wall. Ex Baker)

    Abstract : 769 PDF: 160
    Đào Thùy Dương, Nguyễn Thị Thu, Chu Huy Tưởng, Phan Thị Khánh Linh, Phạm Hồng Nhung, Nguyễn Tiến Đạt, Lê Đức Thắng
    10-19

    Nghiên cứu này nhằm xác định vật liệu khởi đầu và ảnh hưởng của các chất điều hòa sinh trưởng đến quá trình nhân nhanh chồi cây ngải đen (Kaempferia parviflora Wall. ex Baker) bằng kỹ thuật nuôi cấy in vitro. Kết quả cho thấy, vật liệu khởi đầu thích hợp được tạo từ mầm của củ ngải đen già hoặc chồi mới hình thành từ đoạn thân của cây ngải đen, được khử trùng bằng dung dịch HgCl2 0,1% trong 15 phút. Giai đoạn nhân nhanh chồi sử dụng môi trường MS + inositol 100 mg/l + đường 30 g/l + agar 5,2 g/l, pH 5,6 - 5,8 bổ sung BA 3,0 mg/l cho hiệu quả tốt nhất: Chồi mập, sinh trưởng khỏe với hệ số nhân chồi đạt 4,5 lần, chiều cao chồi đạt 5,82 cm sau 6 tuần nuôi cấy. Huấn luyện cây non bằng cách đặt bình nuôi cấy ở hành lang 3 ngày, sau đó mở nắp đặt ở nhà lưới 3 ngày trước khi rửa và ươm trồng cho tỷ lệ sống cao, thời gian ra rễ mới nhanh (8 ngày). Giá thể thích hợp trồng cây con in vitro gồm: Đất, vụn xơ dừa, trấu hun (2: 1: 1) sau 3 tuần ươm trồng tỷ lệ sống đạt 95,78%, chiều cao cây trung bình đạt 13,35 cm.

    DOI: https://doi.org/10.71254/x4910b06
  • Ảnh hưởng của giá thể lên sinh trưởng và năng suất măng tây (Asparagus officinalis L.) trong điều kiện thí nghiệm nhà màng

    Abstract : 722 PDF: 173
    Bùi Minh Sang, Mai Văn Thế Bảo, Nguyễn Trường Trinh, Nguyễn Thị Pha, Nguyễn Thị Kiều, Đỗ Thị Xuân
    20-30

    Măng tây (Asparagus officinalis L.) là loại thực phẩm giàu dinh dưỡng, có giá trị kinh tế cao và phù hợp để phát triển nông nghiệp bền vững. Tuy nhiên, ở đồng bằng sông Cửu Long, sản lượng măng tây vẫn còn thấp do điều kiện thổ nhưỡng và mực thủy cấp cao. Nghiên cứu được thực hiện nhằm tuyển chọn công thức phối trộn giá thể có bổ sung nấm rễ nội cộng sinh AMF giúp cải thiện sinh trưởng và năng suất măng tây trong điều kiện canh tác nhà màng. Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 7 nghiệm thức và 5 lần lặp lại cho mỗi nghiệm thức. Kết quả cho thấy, giá thể sinh học 3XB (4: 1: 1: 4) có nguồn gốc từ 40% phụ phế phẩm trồng dưa lưới ủ hoai phối trộn với nấm rễ AMF + 10% cát + 10% tro trấu + 40% đất mặt đã hỗ trợ sinh trưởng, phát triển và năng suất măng tây. Khối lượng chồi măng tây tươi ở nghiệm thức này tăng 85,24% và khác biệt có ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức đối chứng canh tác theo phương pháp truyền thống. Sự tận dụng phụ phế phẩm trồng dưa lưới ủ hoai kết hợp với chủng nấm rễ AMF phối trộn cát, tro trấu và đất theo tỉ lệ (4: 1: 1: 4) làm giá thể trồng măng tây có tiềm năng ứng dụng trong điều kiện canh tác nhà màng.

    DOI: https://doi.org/10.71254/hxd3t696
  • Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng của quá trình thủy phân bằng enzym pullulanase để làm tăng hàm lượng tinh bột kháng tiêu hóa từ nguyên liệu gạo

    Abstract : 1211 PDF: 501
    Nguyễn Hoàng Anh, Nguyễn Thị Thanh Tú, Trần Võ Quốc Huy, Cao Thị Như Ý , Đỗ Kinh Kha, Võ Trà My, Lê Nguyễn Đoan Duy
    31-40

    Nghiên cứu nhằm xác định các điều kiện tối ưu làm tăng hàm lượng tinh bột kháng tiêu hóa bằng phương pháp sinh học với ứng dụng enzyme pullulanase để thủy phân tinh bột gạo OM18. Thí nghiệm tiến hành lần lượt khảo sát của các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của enzym pullulanase: Nồng độ cơ chất (10 - 50%), hoạt độ enzym (10 - 50 U/g), thời gian thủy phân (2 - 10 giờ), pH (4,0 - 6,0) và nhiệt độ (45 - 65oC) đến hàm lượng tinh bột kháng tiêu hoá. Kết quả xác định được các điều kiện tối ưu cho hoạt động của enzym pullulanase: Nồng độ cơ chất (20%), hoạt độ enzym (30 U/g), thời gian thủy phân (6 giờ), pH (4,5), nhiệt độ (55oC). Kết quả nghiên cứu thu được sản phẩm tinh bột gạo OM18 đạt 12,2% hàm lượng tinh bột kháng tiêu hóa. Số liệu nghiên cứu là tiền đề để xây dựng quy trình sản xuất tinh bột gạo giàu hàm lượng tinh bột kháng hướng đến ứng dụng vào các quy trình chế biến những sản phẩm dạng thực phẩm bổ sung prebiotics.

    DOI: https://doi.org/10.71254/2890ga50
  • Đánh giá hoạt tính lợi khuẩn và khả năng lên men sữa đậu đỏ của Lactobacillus pentosus DCM 52.10

    Abstract : 799 PDF: 235
    Nguyễn Thị Lâm Đoàn
    41-50

    Lactobacillus pentosus là một loài đã được ứng dụng trong sản phẩm thực phẩm probiotic. Mục đích của nghiên cứu là đánh giá tiềm năng lợi khuẩn và khả năng lên men sữa đậu đỏ của chủng L. pentosus DCM 52.10. Bằng phương pháp nuôi cấy xác định mật độ vi khuẩn; phương pháp khuếch tán trên đĩa thạch đã xác định L. pentosus DCM 52.10 có một số đặc tính lợi khuẩn tốt như chịu được pH của dạ dày; muối mật; kháng vi khuẩn gây bệnh E. coli ATCC 25922 và Salmonella typhymurium ATCC 13311. Điều kiện sinh trưởng, phát triển thích hợp của chủng là 37oC, pH 6,5 và thời gian nuôi cấy là 32 giờ. L. pentosus DCM 52.10 có khả năng lên men sữa đậu đỏ trong suốt quá trình lên men pH của sữa giảm dần và hàm lượng axit tăng dần, đến 24 giờ độ pH của sữa đạt dưới 4,3 và hàm lượng axit đạt trên 0,6% ở cả hai tỷ lệ tiếp giống 1 và 2% (v/v). Mật độ vi khuẩn L. pentosus DCM 52.10 tăng theo thời gian lên men, đến 24 giờ mật độ vi khuẩn L. pentosus DCM 52.10 đạt trên 108 CFU/mL.

    DOI: https://doi.org/10.71254/z3xzh283
  • Nghiên cứu thử nghiệm sản xuất giống nhân tạo cá mó đầu khum (Cheilinus undulatus Ruppell, 1835)

    Abstract : 556 PDF: 114
    Nguyễn Nguyễn Thành Nhơn, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Văn Dũng, Dương Văn Sang, Phạm Thị Hạnh
    51-59

    Bốn mươi con cá mó đầu khum bố mẹ được thu gom từ tự nhiên đưa về nuôi vỗ trong các bể xi măng có diện tích 15 m3, số lượng 6 con/bể. Thức ăn là cá tạp và mực tươi với khẩu phần 5%/khối lượng cá. Kiểm tra chọn cá thành thục, kích thích sinh sản bằng cách tiêm kích dục tố HCG: Cá cái tiêm 2 lần, 750 UI/kg cho lần 1 và 1.500 UI/kg cho lần 2, thời gian cách nhau 24 giờ; cá đực tiêm 1 lần, 750 UI/kg cá. Cho trứng thụ tinh bằng phương pháp thụ tinh khô, thụ tinh ướt và thụ tinh tự nhiên. Ấp trứng theo 3 mật độ khác nhau: 1.000 trứng/L (lít), 1.500 trứng/L và 2.000 trứng/L. Kết quả cho thấy, tỷ lệ sống cá bố mẹ đạt 80%, tỷ lệ thành thục 26,67% và tỷ lệ đẻ 100%. Thời gian hiệu ứng thuốc là 10 - 12 giờ. Thụ tinh ướt cho hiệu quả cao nhất với tỷ lệ thụ tinh 33,10 ± 2,63%, tỷ lệ nở 60,33 ± 3,14% và tỷ lệ sống ấu trùng 5DAH 35,50 ± 1,94%. Thụ tinh khô cho tỷ lệ sống ấu trùng 5DAH là 0%, trong khi đó thụ tinh tự nhiên trứng không nở thành ấu trùng. Mật độ ấp 1.000 trứng/L đạt tỷ lệ nở 60,43 ± 3,34% và tỷ lệ sống ấu trùng 5DAH đạt 35,50 ± 2,02%, cao hơn so với mật độ 1.500 trứng/L và 2.000 trứng/L (p < 0,05). Kết quả thử nghiệm cho thấy, HCG liều lượng 750 UI/kg cho lần 1 và 1.500 UI/kg cho lần 2 ở cá cái và 750 UI/kg cho cá đực; thụ tinh ướt và mật độ ấp 1.000 trứng/L phù hợp cho sản xuất giống nhân tạo cá mó đầu khum. 

    DOI: https://doi.org/10.71254/ra9gx798
  • Ảnh hưởng của mật độ ương đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng ngao dầu (Meretrix meretrix Linnaeus, 1758) từ giai đoạn bơi tự do (D-veliger) đến giai đoạn sau biến thái (post-metamorphosis)

    Abstract : 638 PDF: 129
    Lê Đức Thuần, Chu Chí Thiết, Phan Thị Vân
    60-67

    Nghiên cứu nhằm xác định ảnh hưởng mật độ đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng ngao dầu (Meretrix meretrix) từ giai đoạn bơi tự do (D-veliger) đến giai đoạn sau biến thái (chuyển sang đời sống vùi đáy). Thí nghiệm được tiến hành với 4 mật độ ương khác nhau, lần lượt là: 10 ấu trùng/ml, 15 ấu trùng/ml, 20 ấu trùng/ml và 25 ấu trùng/ml, mỗi nghiệm thức được bố trí 3 lần lặp. Ấu trùng ngao được ương trong 12  bể nhựa 120 L (thể tích thí nghiệm 100 L). Thí nghiệm được tiến hành trong 7 ngày, vào tháng 6/2024, tại Trung tâm Nghiên cứu Khảo nghiệm và Dịch vụ vật nuôi, Viện Nông nghiệp tỉnh Thanh Hóa. Kết quả nghiên cứu cho thấy, ấu trùng ngao dầu ương ở mật độ 15 ấu trùng/ml đạt kích cỡ 193,7 ± 1,2 µm và tốc độ tăng trưởng đặc trưng đạt 4,7 ± 0,1%/ngày, cao hơn ở mật độ 20 và 25 ấu trùng/ml (p < 0,05), nhưng sai khác không có ý nghĩa so với ấu trùng ương ở mật độ 10 ấu trùng/ml (202,3 ± 3,5 µm và 5,3 ± 0,2%/ngày). Thời gian ấu trùng biến thái, chuyển xuống đáy tại ngày thứ 4 ở nghiệm thức mật độ 10 và 15 ấu trùng/ml, trong khi ở mật độ 20 ấu trùng/ml là ngày thứ 5 và 25 ấu trùng/ml là ngày thứ 6. Tỷ lệ sống của ấu trùng cao nhất ở nghiệm thức 10 ấu trùng/ml, đạt 80,7 ± 0,1%, sai khác có ý nghĩa so với ấu trùng ở nghiệm thức 20 ấu trùng/ml và 25 ấu trùng/ml (p < 0,05), nhưng sai khác không có ý nghĩa (p > 0,05) so với ấu trùng ương ở 15 ấu trùng/ml (79,7 ± 0,2%). Kết quả nghiên cứu cho thấy, mật độ ương 15 ấu trùng/ml là lựa chọn phù hợp nhất, cân bằng giữa hiệu quả sinh học và kinh tế trong ương ấu trùng ngao dầu từ giai đoạn bơi tự do đến giai đoạn sau biến thái.

    DOI: https://doi.org/10.71254/e4eg4s46
  • Xác định các nhân tố ảnh hưởng mức sẵn lòng chi trả của người dân để cải thiện chất lượng nước tại tuyến kênh Búng Xáng, thành phố Cần Thơ

    Abstract : 757 PDF: 211
    Trần Thị Yến Khoa, Lê Ngọc Kiều
    68-76

    Kênh Búng Xáng là một con kênh nhỏ nằm trong nội thành quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ, bị ô nhiễm nặng khi mực nước xuống thấp. Nghiên cứu thực hiện đo chất lượng nước tại hiện trường bằng thiết bị AquaTROLL 500 và phỏng vấn 60 người dân đang sinh sống dọc tuyến kênh Búng Xáng. Kết quả các chỉ tiêu DO, pH, TDS, EC cho thấy, nước kênh bị ô nhiễm nhiều hơn khi ở thời điểm nước ròng (p < 0,05). Ở thời điểm nước lớn và nước ròng, giá trị các chỉ tiêu tại VT1 (đoạn kênh hẹp nhất trước Khoa Môi trường và Tài nguyên thiên nhiên) luôn bị ô nhiễm nặng hơn VT4 (đoạn giáp hồ Búng Xáng). Theo khảo sát 60 người dân, các nhân tố chính ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả (WTP) để cải thiện chất lượng nước mặt trên rạch được sắp xếp theo trật tự là nhân khẩu học, sức khỏe, kinh tế, môi trường và chính sách. Kết quả nghiên cứu là cơ sở cho các cơ quan ra quyết định khi đưa ra các giải pháp làm sạch kênh, rạch bị ô nhiễm của thành phố Cần Thơ.

    DOI: https://doi.org/10.71254/yh4h7w73
  • Quy trình phân tích thứ bậc dựa trên hệ thống thông tin địa lý và viễn thám để thành lập bản đồ nguy cơ hạn hán ở huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế

    Abstract : 753 PDF: 116
    Nguyễn Ngọc Thanh, Nguyễn Hữu Ngữ, Nguyễn Quang Thi
    77-87

    Vấn đề hạn hán hiện nay đang là một trong những yếu tố chính ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp ở vùng núi tỉnh Thừa Thiên Huế. Nghiên cứu này triển khai quy trình phân tích thứ bậc (AHP) dựa trên dữ liệu hệ thống thông tin địa lý (GIS) và viễn thám nhằm xác định các mức độ nguy cơ hạn hán. Bản đồ nguy cơ hạn hán được xây dựng dựa trên các yếu tố tác động, như: Lượng mưa trung bình, chỉ số khác biệt thực vật chuẩn hóa (NDVI), nhiệt độ bề mặt đất trung bình (LST), chỉ số khác biệt nước bề mặt chuẩn hóa (NDWI), độ cao địa hình, độ dốc địa hình, loại hình sử dụng đất (LU) và hàm lượng cát trong đất. Nghiên cứu cho thấy, những vùng đối mặt với nguy cơ hạn hán ở mức độ rất cao, cao và trung bình lần lượt chiếm 1,10%; 3,67%; 17,80% diện tích. Trong khi đó, nguy cơ hạn hán thấp và rất thấp chiếm 45,05% và 32,38% diện tích. Chỉ số nhất quán và tỷ lệ nhất quán thu được là 0,109 và 0,07. Bản đồ nguy cơ hạn hán đạt độ chính xác 71%. Trong mô hình, LU làm rõ 40,01% cho việc xảy ra nguy cơ hạn hán, tiếp theo là lượng mưa (23,42%) và LST (13,08%). Dữ liệu nghiên cứu có thể được áp dụng như nguồn tham khảo trong việc quy hoạch nông nghiệp.

    DOI: https://doi.org/10.71254/z06d1n89
  • Nghiên cứu đánh giá tác động của du lịch đến công tác quản lý tài nguyên rừng tại Khu Dự trữ sinh quyển Rừng ngập mặn Cần Giờ

    Abstract : 1692 PDF: 596
    Huỳnh Đức Hoàn, Lê Thị Phương Quyên, Đặng Ngọc Hiệp, La Vĩnh Hải Hà
    88-100

    Khu Dự trữ sinh quyển Rừng ngập mặn Cần Giờ có các thế mạnh là hệ sinh thái rừng ngập mặn, biển, nông nghiệp, văn hóa, tín ngưỡng… tạo điều kiện thuận lợi để phát triển các ngành nông - lâm - ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, du lịch và dịch vụ. Sử dụng phương pháp kế thừa số liệu và công cụ điều tra xã hội học trên đối tượng khách du lịch và người tham gia cung ứng dịch vụ du lịch, phân tích SWOT để đánh giá tác động của du lịch đến tài nguyên rừng, môi trường, công tác quản lý rừng và bảo tồn, từ đó phát huy thế mạnh và có những giải pháp giảm thiểu tác động tiêu cực. Khu vực nghiên cứu có 3 điểm/khu du lịch du sinh thái với 4 loại hình du lịch được khai thác bao gồm: Nghỉ dưỡng, vui chơi, giải trí (22,0%); dã ngoại, khám phá thiên nhiên, du lịch mạo hiểm (46,0%); tham quan, nghiên cứu các hệ sinh thái (21,3%); du lịch cộng đồng (10,7%). Hệ thống cung ứng dịch vụ gồm 6 nhóm hoạt động chính là: Dịch vụ lưu trú (10,8%), vận chuyển (23,1%), ăn uống (43,1%), cung ứng nông sản, thủy sản (46,2%), kinh doanh hàng lưu niệm (12,3%) và hướng dẫn viên bản địa (6,1%). Các dịch vụ du lịch phụ thuộc rất lớn vào các yếu tố tài nguyên, môi trường, thời tiết, đa dạng sinh học, có 9 yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh tại 3 điểm/khu du lịch sinh thái, trong đó điểm du lịch sinh thái Dần Xây được đánh giá vượt trội nhất. Nghiên cứu đã chỉ ra điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức, đề xuất các giải pháp đối với cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp và người dân để phát triển du lịch bền vững.

    DOI: https://doi.org/10.71254/8gh7x447