Số 1+2 (2025)

					Xem Số 1+2 (2025)
Đã Xuất bản: 30-01-2025

Bài viết

  • Nghiên cứu xác định mật độ cấy thích hợp cho giống lúa Việt Thành 213 tại tỉnh Thanh Hóa

    Abstract : 412 PDF: 0
    TỐNG VĂN GIANG, LƯƠNG VĂN ĐÔNG.
    5-12

    Nghiên cứu nhằm xác định mật độ cấy phù hợp cho giống lúa Việt Thành 213 tại tỉnh Thanh Hoá. Thí nghiệm được triển khai trong vụ xuân và vụ mùa năm 2022 tại huyện Hoằng Hoá và Thiệu Hoá, tỉnh Thanh Hoá. Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ, 3 lần nhắc lại gồm 4 công thức tương ứng với 4 mật độ cấy 30, 40, 50, 60 khóm/m2 (vụ xuân) và 35, 40, 45, 50 khóm/m2 (vụ mùa). Kết quả cho thấy, giống lúa Việt Thành 213 có thời gian sinh trưởng trong vụ xuân trung bình dao động 123,0 - 131,0 ngày, vụ mùa 105,0 - 107,0 ngày, chiều cao cây trung bình đạt 120,2 - 124,0 cm (vụ xuân) và 112,6 - 114,9 cm (vụ mùa). Khi cấy ở mật độ thưa 30 khóm/m2 (vụ xuân) và 35 khóm/m2 (vụ mùa), các chỉ tiêu sinh trưởng và cấu thành năng suất đạt cao nhất, nhưng năng suất quần thể thấp nên năng suất thực thu đạt thấp nhất 59,7 tạ/ha (vụ xuân) và 50,3 tạ/ha (vụ mùa). Ở mật độ cấy 50 khóm/m2 (vụ xuân), cây lúa sinh trưởng thuận lợi, thời gian sinh trưởng trung bình đạt 127,0 ngày, chiều cao cây đạt trung bình 121,4 cm, số nhánh tối đa đạt 8,3 nhánh/khóm, số nhánh hữu hiệu đạt 5,8 nhánh/khóm, độ tàn lá ở điểm 5 và độ cứng cây ở điểm 1, giống cho năng suất thực thu đạt 68,7 tạ/ha, trong đó ở huyện Hoằng Hoá đạt 67,8 tạ/ha, lãi thuần đạt 21,62 triệu đồng/ha và ở huyện Thiệu Hoá đạt 69,7 tạ/ha, lãi thuần đạt 23,05 triệu đồng/ha. Trong vụ mùa, ở mật độ 45 khóm/m2, tổng thời gian sinh trưởng cây lúa đạt 106 ngày, chiều cao trung bình 113,3 cm, số nhánh đạt 8,2 nhánh/khóm, số nhánh hữu hiệu đạt 5,2 nhánh/khóm, năng suất thực thu đạt 60,8 tạ/ha, trong đó ở huyện Hoằng Hoá đạt 59,9 tạ/ha, lãi thuần đạt 15,76 triệu đồng/ha và ở huyện Thiệu Hoá đạt 61,6 tạ/ha, lãi thuần đạt 17,04 triệu đồng/ha.

    DOI: https://doi.org/10.71254/2k0n7b26
  • Nghiên cứu chọn tạo và khảo nghiệm giống ngô nếp lai QT559 tại tỉnh Quảng Ngãi

    Abstract : 348 PDF: 0
    Lê Quý Tùng, Lê Thị Cúc, Lê Quý Tường, Nguyễn Văn Hoàn, Hoàng Thị Thao, Hoàng Thị Mai
    13-20

    Kết quả đánh giá khả năng kết hợp của các dòng thuần trong 3 vụ: Hè thu năm 2021, đông năm 2021, đông xuân năm 2021 - 2022 đã xác định được dòng N59 có khả năng kết hợp cao với dòng N7C, với giá trị GCA tương ứng qua các vụ: 17,93125; 3,70; 19,90. Tổ hợp lai N59 x N7C có ưu thế lai thực cao (Hb) và ưu thế lai chuẩn cao (Hs), tương ứng qua các vụ là: 120,5%; 35,1%; 93,7%; 5,9%; 120,9%, 33,3%. Tổ hợp lai N59/N7C được đặt tên giống QT559. Kết quả khảo nghiệm diện hẹp tại tỉnh Quảng Ngãi trong vụ hè thu năm 2023 và đông xuân năm 2023 - 2024, có thời gian thu hoạch bắp tươi 76 ngày (vụ đông xuân) và 65 ngày (vụ hè thu); năng suất bắp tươi 10,77 - 10,83 tấn/ha, trung bình 10,80 tấn/ha, vượt hơn giống MX6 là 23,2%; chất lượng ăn tươi dẻo, vị đậm hơn giống MX6; bệnh khô vằn (điểm 1 - 2), bệnh đốm lá lớn (điểm 2), bệnh thối thân (điểm 1 - 2); cứng cây, chống đổ ngã tốt, có nhiều triển vọng tại tỉnh Quảng Ngãi.

    DOI: https://doi.org/10.71254/z6k83g55
  • NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ MÔI TRƯỜNG NUÔI CẤY MÔ ĐẾN KHẢ NĂNG HÌNH THÀNH CHỒI VÀ RỄ TRÊN GIỐNG THANH LONG RUỘT ĐỎ (Hylocereus costaricensis)

    Abstract : 477 PDF: 0
    Trần Thị Mỹ Dung, Đỗ Thanh Lến, Nguyễn An Đệ
    21-27

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định môi trường nuôi cấy mô phù hợp, có khả năng tạo chồi và rễ từ mẫu cành thanh long. 7 môi trường đã được thử nghiệm cho mục đích tạo chồi gồm có: MS + BA (0,5 mg/L), MS + BA (0,5 mg/L) + NAA (0,1 mg/L), MS + BA (0,8 mg/L), MS + BA (0,8 mg/L) + NAA (0,1 mg/L), MS + BA (0,2 mg/L), MS + BA (0,2 mg/L) + NAA (0,1 mg/L), MS (đối chứng). Kết quả cho thấy, môi trường MS + BA (0,5 mg/L) tạo chồi tốt nhất với 9,67 chồi được tạo ra sau 14 ngày nuôi cấy. 7 môi trường đã được thử nghiệm cho mục đích tạo rễ gồm có: MS 1/2 + NAA (0,5 mg/L), MS 1/2 + NAA (0,5 mg/L) + IBA (0,5 mg/L), MS 1/2 + NAA (0,8 mg/L), MS 1/2 + NAA (0,8 mg/L) + IBA (0,5 mg/L), MS 1/2 + NAA (0,2 mg/L), MS 1/2 + NAA (0,2 mg/L) + IBA (0,5 mg/L), MS 1/2 (đối chứng). Kết quả cho thấy, môi trường MS 1/2 + NAA (0,5 mg/L) + IBA (0,5 mg/L) tạo rễ tốt nhất với 9,36 rễ hình thành sau 28 ngày nuôi cấy.

    DOI: https://doi.org/10.71254/yj5xcb64
  • NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐIỀU TIẾT RA HOA Ở CÂY ĐÀO PHAI CÁNH ĐƠN TẠI THỊ XÃ SA PA, TỈNH LÀO CAI

    Abstract : 342 PDF: 0
    Nguyễn Thị Tình, Đinh Thị Dinh, Bùi Tri Thức, Nguyễn Văn Bảo, Nông Thị Thường, Phạm Thị Thuỷ, Nguyễn Xuân Vũ, Nguyễn Trần Vinh, Ngô Xuân Bình
    28-37

    Nghiên cứu được tiến hành nhằm mục đích áp dụng một số biện pháp kỹ thuật điều tiết quá trình ra hoa của giống đào phai cánh đơn tại thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai. Thử nghiệm biện pháp kỹ thuật như: Cắt tỉa, chạm rễ, phun chất ức chế sinh trưởng và tác động tuốt bộ lá trên cây đào phai cánh đơn 5 tuổi tại thị xã Sa Pa. Kỹ thuật cắt tỉa có tác dụng giúp cho cây ra lộc tập trung nhiều hơn ở vụ mùa thu, là cành sẽ phân hóa mầm hoa và nở hoa năm sau, lộc thu nhiều hơn, chiều dài cành, đường kính cao hơn so với đối chứng (lần lượt đạt là 141,3 - 144,4 lộc, 14,3 - 14,6 cm chiều dài, 0,40 - 0,44 cm đường kính), là tiền đề cho cây ra hoa năm sau. Đồng thời cắt tỉa cũng giúp cho cây đào ra hoa muộn hơn từ 13 - 16 ngày, nhưng số lượng hoa nhiều hơn và độ bền cánh hoa lâu hơn, đây là cơ sở khoa học quan trọng cho người trồng đào để điều chỉnh khả năng ra hoa của cây. Phương pháp chạm rễ có tác dụng tốt điều tiết quá trình ra hoa của cây đào, giúp cây ra hoa muộn hơn, hoa nhiều hơn, trong đó chạm rễ vào thời điểm tháng 9 hàng năm cho kết quả tốt nhất với 96,4% số cành ra hoa, 28,2 hoa/cành và độ bền cánh hoa đạt 29,4 ngày. Phương pháp xử lý bằng chất ức chế sinh trưởng  có ý nghĩa trong điều tiết ra hoa của cây, sử dụng các chất ức chế sinh trưởng Thiourea hoặc Uniconazole 5 WP điều tiết hoa cây ra hoa nhiều hơn và độ bền của hoa lầu hơn. Kỹ thuật tuốt lá cũng cho kết quả tương tự như phun chất ức chế sinh trưởng. Tuy nhiên,  tùy thuộc điều kiện cụ thể để lựa chọn kỹ thuật xử lý phù hợp, thông thường xử lý bằng chất ức chế sẽ tiết kiệm được chi phí lao động.

    DOI: https://doi.org/10.71254/p9nayy07
  • PHÂN LẬP VÀ ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC PHÂN ĐOẠN PEPTIDE TỪ LÁ CÂY THUỐC THANH TÁO (Justicia gendarussa Burm f.) TRÊN SỰ GIẢI PHÓNG CỦA CÁC CYTOKINE TIỀN VIÊM IN VITRO

    Abstract : 585 PDF: 0
    Võ Hoài Bắc, Lê Thị Thu Hồng, Trịnh Tất Cường, Lê Văn Trường
    38-47

    Cây thanh táo (Justicia gendarussa Burm f.) là một cây thuốc quý thuộc họ Acanthaceae mọc ở nhiều nơi tại Việt Nam và được sử dụng trong dân gian để chữa một số bệnh như: Đau xương, viêm khớp, giảm ho, hạ sốt, mụn nhọt…. Trong những năm gần đây, việc sử dụng các peptide tự nhiên có hoạt tính sinh học từ các loại thảo mộc để điều trị các bệnh mãn tính và cải thiện sức khỏe của con người được sử dụng rộng rãi. Trong nghiên cứu này, các peptide tự nhiên và peptide sau thủy phân của cây thuốc Thanh táo (TT) được phân lập và đánh giá ảnh hưởng trên sự giải phóng của các cytokine tiền viêm in vitro. Các phân đoạn peptide đã được phân lập bằng cột siêu lọc Amicon Ultra Centrifugal Filters (Millipore) với các mức cắt giảm khối lượng phân tử khác nhau (≤ 30 kDa, ≤ 10 kDa và ≤ 5 kDa), xác định độ sạch và khối lượng phân tử bằng phương pháp điện di trên gel Tricine-SDS-PAGE. Kết quả cho thấy, lá cây TT chiết bằng nước cất lạnh đã thu nhận được phân đoạn chứa peptide tự nhiên có khối lượng phân tử 14 kDa. Protein từ lá cây TT được thủy phân bằng pepsin và pancreatin trong 1 giờ đã thu nhận được phân đoạn peptide ≤ 10 kDa. Ảnh hưởng của các phân đoạn peptide trên các cytokine tiền viêm được đánh giá trên tế bào macrophage gây viêm bằng LPS và xác định sự giải phóng của các cytokine bằng phương pháp ELISA. Kết quả cho thấy, các phân đoạn peptide TT tự nhiên và peptide TT sau thủy phân thu nhận được với nồng độ (10 - 40 µg/mL) không gây độc với đại thực bào. Phân đoạn peptide TT sau thủy phân ≤ 10 kDa với nồng độ 10 - 40 µg/mL có khả năng ức chế sự giải phóng của TNF-α, IL-6 và IL-8 trên in vitro cao hơn so với phân đoạn peptide TT tự nhiên. Đây là cơ sở ban đầu để chứng minh tác dụng điều trị sưng viêm trong dân gian của lá cây TT.

    DOI: https://doi.org/10.71254/na483p65
  • NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC CỦA CÁC DÒNG CÁT CÁNH (Platycodon grandiflorus (Jacq.) A. DC.) TẠI HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC

    Abstract : 455 PDF: 0
    Nguyễn Đức Mạnh, Tô Thị Ngân, Nguyễn Xuân Khánh, Bùi Thị Xuân, Phùng Thị Hoài Thu, Nguyễn Văn Tâm
    48-62

    Cát cánh (Platycodon grandiflorus (Jacq.) A. DC.) là một vị thuốc được dùng phổ biến trong y học cổ truyền. Nghiên cứu được thực hiện trong thời gian từ tháng 9/2022 - 10/2023 tại khu thí nghiệm đồng ruộng, Trạm Nghiên cứu Dược liệu Tam Đảo, Viện Dược liệu, nhằm đánh giá đặc điểm nông sinh học, năng suất và chất lượng dược liệu của 50 dòng cát cánh chọn lọc, từ đó chọn ra những dòng cát cánh có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt, năng suất và hàm lượng hoạt chất cao để đáp ứng yêu cầu của sản xuất. Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ, 2 lần nhắc lại. Kết quả nghiên cứu, đã chọn ra được 10 dòng cát cánh triển vọng, sinh trưởng, phát triển tốt, quả hình trứng hơi tròn, góc giữa cành cấp 1 và thân hẹp (khoảng 19,55 - 38,55o), năng suất cá thể lớn, năng suất thực thu dược liệu cao (> 1,50 tấn/ha) và hàm lượng hoạt chất platycodin D trên 0,1%, đạt tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam V. Các kết quả này cung cấp dữ liệu khoa học quan trọng và vật liệu ưu tú cho công tác lai - chọn tạo giống cát cánh có các đặc tính vượt trội để cung ứng cho nghiên cứu và thị trường.

    DOI: https://doi.org/10.71254/95whht20
  • ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CẢM BIẾN ẨM ĐỘ ĐẤT CHAMELEON ĐẾN SỬ DỤNG NƯỚC TƯỚI VÀ CẢI THIỆN NĂNG SUẤT CÂY TRỒNG CẠN TRÊN NỀN ĐẤT NHIỄM MẶN Ở KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

    Abstract : 533 PDF: 0
    Cao Đình An Giang, Châu Minh Khôi, Đặng Duy Minh, Nguyễn Thị Kim Phượng,Trần Duy Khánh, Trần Minh Tiền, Lê Thị Thu Trang, Brooke Kaveney,Jason Condon, Susan Orgill, Edward Barrett-Lennard
    63-72

    Tìm kiếm cây trồng thay thế và áp dụng các giải pháp công nghệ tiên tiến nhằm thích ứng với điều kiện hạn, mặn là rất cấp thiết tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Cảm biến ẩm độ đất Chameleon (cảm biến) là công nghệ giúp người dùng theo dõi ẩm độ đất và đưa ra quyết định tưới cho cây trồng. Nghiên cứu được tiến hành nhằm mục tiêu đánh giá khả năng ứng dụng cảm biến đến tiết kiệm nước tưới, giảm tích luỹ mặn trong đất, những thay đổi về năng suất cây củ dền (Beta vulgaris L.) trong nhà lưới điều kiện mô phỏng điều kiện hạn, mặn tại ĐBSCL. Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với hai nhân tố, bao gồm: 2 phương pháp tưới (tưới theo cảm biến và tưới theo tập quán nông dân) và 3 mức độ mặn (0‰; 0,5‰; 1‰). Kết quả cho thấy, so với cách tưới truyền thống của nông dân, tưới theo cảm biến giúp tiết kiệm 45,1%; 52% và 53,8% lượng nước tưới, lần lượt tương ứng với các mức độ mặn 0‰; 0,5‰; 1‰ và không ảnh hưởng đến năng suất. Tưới theo cảm biến cũng giúp giảm giá trị EC đất ở nồng độ mặn 1‰ kể từ thời điểm 37 ngày sau xuống giống (NSXG), giảm hàm lượng natri hoà tan và cải thiện hàm lượng đạm hữu dụng trong đất từ thời điểm 50 NSXG. Kết quả trên cho thấy, tiềm năng ứng dụng cảm biến trong việc canh tác cây củ dền, góp phần đảm bảo an ninh lương thực và sinh kế của hộ gia đình trong điều kiện hạn, mặn.

    DOI: https://doi.org/10.71254/zspk5c47
  • PHÂN BỐ KHÔNG GIAN TRỮ LƯỢNG CÁC-BON HỮU CƠ TRONG ĐẤT VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG

    Abstract : 569 PDF: 0
    Nguyễn Thanh Tuấn, Hồ Quang Đức, Trần Thùy Chi
    73-85

    Đất là một hệ thống lưu trữ các-bon quan trọng trong các hệ thống lưu trữ các-bon trên cạn. Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) là nơi có hoạt động sản xuất nông nghiệp lâu đời ở nước ta, các hoạt động có những tác động lớn đến chất lượng đất, đặc biệt là lượng các-bon hữu cơ trong đất (SOC). Do đó, nghiên cứu sự phân bố không gian trữ lượng SOC vùng ĐBSH cung cấp cho những nhà hoạch định thông tin hữu ích về trữ lượng SOC ở thời điểm hiện tại dưới các loại sử dụng đất chính vùng ĐBSH. Đây là cơ sở để đề xuất các giải pháp quản lý sử dụng đất hiệu quả để tăng cường tích lũy SOC và giảm phát thải khí nhà kính, liên quan đến chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn trong tương lai. Nghiên cứu đã thu thập, xử lý và phân tích tập mẫu đất tại 753 điểm, sử dụng phương pháp Kriging thông thường để ước lượng sự phân bố không gian trữ lượng SOC vùng ĐBSH ở lớp đất 0 - 1 m năm 2022. Kết quả đã xác định được trữ lượng SOC trung bình vùng ĐBSH là 97,02 ± 0,02 tấn/ha. Khu vực đồng bằng tỉnh Quảng Ninh và thành phố Hải Phòng có trữ lượng SOC đến độ sâu 1 m là lớn nhất, khoảng 137 tấn/ha, thấp nhất là khu vực đồng bằng thuộc thành phố Hà Nội. Trữ lượng SOC trung bình ở đất chuyên trồng lúa, đất trồng cây hàng năm khác, đất trồng cây lâu năm và đất đồng cỏ của vùng ĐBSH trong lớp đất 0 - 1 m lần lượt là 54,74 - 181,59 tấn/ha, 54,77 - 174,72 tấn/ha, 54,49 - 182,05 tấn/ha và 59,17 -152,20 tấn/ha.

    DOI: https://doi.org/10.71254/kvm2r215
  • NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOẠI PHÂN HỮU CƠ THAY THẾ MỘT PHẦN PHÂN VÔ CƠ ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG CỦ KHOAI TÂY

    Abstract : 513 PDF: 0
    Trần Thị Thiêm, Phạm Văn Cường
    86-92

    Thí nghiệm nhằm xác định lượng phân hữu cơ thay thế phân vô cơ phù hợp cho sự sinh trưởng, phát triển và năng suất, chất lượng củ khoai tây. Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 lần nhắc lại, gồm 7 công thức: CT1: 100% vô cơ (120 N: 120 P2O5: 120 K2O); CT2: 75% phân vô cơ + phân hữu cơ vi sinh Quế Lâm 01 (HCVS QL01) thay thế 25% phân vô cơ; CT3: 50% phân vô cơ + phân HCVS QL01 thay thế 50% phân vô cơ; CT4: 25% phân vô cơ + phân HCVS QL01 thay thế 75% phân vô cơ; CT5: 75% phân vô cơ + phân gà thay thế 25% phân vô cơ; CT6: 50% phân vô cơ + phân gà thay thế 50% phân vô cơ; CT7: 25% phân vô cơ + phân gà thay thế 75% phân vô cơ. Kết quả cho thấy, sử dụng phân HCVS hay phân gà thay thế phân vô cơ đều làm tăng các chỉ tiêu sinh trưởng, chỉ tiêu sinh lý, dẫn đến tăng năng suất và chất lượng củ khoai tây so với bón 100% phân vô cơ. Bón thay thế 50% phân vô cơ bằng phân hữu cơ (HCVS QL01 hay phân gà) có thể là mức thay thế phù hợp làm tăng năng suất và chất lượng củ khoai tây.

    DOI: https://doi.org/10.71254/cq3x6t95
  • NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ CHẾ PHẨM SINH HỌC TRONG SẢN XUẤT CHÈ HỮU CƠ TẠI TỈNH PHÚ THỌ

    Abstract : 502 PDF: 0
    Trần Xuân Hoàng, Nguyễn Ngọc Bình, Lưu Ngọc Quyến, Phạm Thị Như Trang, Nguyễn Thị Kiều Ngọc, Phạm Thị Khánh Hòa
    93-100

    Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của một số chế phẩm sinh học trong sản xuất chè hữu cơ tại tỉnh Phú Thọ cho thấy: Các công thức với phun các chế phẩm sinh học khác nhau có ảnh hưởng tốt đến đất trồng chè năng suất và chất lượng nguyên liệu. Công thức phun chế phẩm sinh học Bio soil giúp cải thiện chất lượng đất, tăng độ xốp, hàm lượng mùn tổng số, vi sinh vật tổng số và vi sinh vật phân giải xenlulo trong đất lần lượt là 67,24%; 2,10%; 2,87 x 106 CFU/g đất và 3,54 x 104 CFU/g đất, tăng năng suất đạt cao nhất là 6,88 tấn/ha và ít bị sâu hại. Tỷ lệ bánh tẻ giữa các công thức phun chế phẩm sinh học khác nhau cho giống chè VN15 có xu hướng giảm dần từ CT1, tiếp đến CT4, CT2, sau đến CT3. Khi phun chế phẩm sinh học Bio soil cho nương chè thì hàm lượng tanin đạt thấp nhất, còn hàm lượng chất hòa tan, đường khử, hợp chất thơm đều có giá trị cao hơn các công thức khác. Điểm thử nếm cảm quan sản phẩm chè xanh công thức phun chế phẩm sinh học Bio soil đạt cao nhất (17,77 điểm) so với các công thức còn lại.

    DOI: https://doi.org/10.71254/hpanz950
  • PHÂN LẬP, TUYỂN CHỌN, ĐỊNH DANH MỘT SỐ CHỦNG VI SINH VẬT CÓ LỢI VÀ BƯỚC ĐẦU ỨNG DỤNG TRONG XỬ LÝ PHỤ PHẨM NGỌN LÁ MÍA LÀM PHÂN HỮU CƠ

    Abstract : 502 PDF: 0
    Lê Thị Thanh Huyền, Phạm Thị Thanh Bình, Vũ Thị Hạnh, Phùng Thị Tuyết Mai
    101-108

    Nghiên cứu này nhằm phân lập, tuyển chọn và định danh các chủng vi sinh vật có lợi và bước đầu ứng dụng để xử lý phụ phầm ngọn lá mía làm phân bón hữu cơ. Kết quả đã tuyển chọn được bốn chủng vi khuẩn I5, ĐK18.1, ĐK17.2, CAT1.2 có hoạt tính phân giải cellulose mạnh, ổn định từ các mẫu đất và lá mía đã hoai mục tự nhiên. Định danh loài bằng phương pháp giải trình tự gen rRNA 16s đã xác định được các chủng I5, ĐK18.1, ĐK17.2, CAT1.2 lần lượt thuộc các loài Bacillus amyloliquefaciens (độ tương đồng 99,70%); Bacillus velezensis (độ tương đồng 99,86%); Bacillus amyloliquefaciens (độ tương đồng 99,93%) Bacillus siamensis (độ tương đồng 99,86%). Kết quả thử nghiệm sử dụng các chủng này để xử lý phụ phẩm ngọn lá mía đã nâng cao đáng kể hiệu quả phân huỷ chất hữu cơ sau 38 ngày ủ; sản phẩm phân hữu cơ hoai mục, đảm bảo độ chín. Hàm lượng nitơ tổng số và phốt pho hữu hiệu trong thành phẩm của công thức thực nghiệm có sử dụng các chủng vi khuẩn tuyển chọn được tương ứng là 1,37 và 0,77%, cao hơn so với đối chứng (công thức đối chứng tương ứng là 0,92 và 0,49%)

    DOI: https://doi.org/10.71254/eds6fk90
  • NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG NỒNG ĐỘ HUYẾT THANH BÀO THAI BÒ LÊN TỶ LỆ TĂNG SINH CỦA PHÂN ĐOẠN TẾ BÀO TẠO MẠCH NỀN (SVF) TỪ MÔ MỠ CHÓ

    Abstract : 426 PDF: 0
    Trần Nguyễn Bảo Anh, Nguyễn Thị Bé Mười, Trần Thị Thanh Khương
    109-118

    Nghiên cứu này khảo sát ảnh hưởng của các nồng độ huyết thanh bào thai bò (FBS) khác nhau đến khả năng tăng sinh của phân đoạn tế bào tạo mạch nền (SVF), một hỗn hợp tế bào có chứa tế bào gốc trung mô (MSCs), được phân lập từ mô mỡ chó bằng enzyme collagenase 0,1%. SVF được nuôi cấy trong 48 giờ với các nồng độ FBS 0%, 3%, 5%, 8%, 10%. Kết quả cho thấy, nồng độ FBS 8% đạt mật độ tế bào sống cao nhất, 51,17 x 104 tế bào/mL (p < 0,05), đồng thời không có thay đổi về hình thái tế bào giữa các nồng độ FBS. Nghiên cứu cung cấp dữ liệu thực nghiệm về tối ưu hóa môi trường nuôi cấy SVF, hỗ trợ hiệu quả của phương pháp phân lập MSCs từ mô mỡ chó. Những phát hiện này mở ra tiềm năng ứng dụng SVF và MSCs trong điều trị các bệnh lý ở chó, với các nghiên cứu tiếp theo tập trung vào khả năng biệt hóa và các ứng dụng lâm sàng của SVF trong y học tái tạo thú y.

    DOI: https://doi.org/10.71254/m59s5k04
  • NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỔI HÀM LƯỢNG TINH BỘT KHÁNG TIÊU HOÁ Ở CHUỐI XIÊM (Musa paradisiaca var. awak) ĐƯỢC TRỒNG TẠI HUYỆN U MINH THƯỢNG, TỈNH KIÊN GIANG

    Abstract : 685 PDF: 0
    Nguyễn Văn Thành, Lê Hoàng Phượng, Huỳnh Duy Phúc, Phạm Thị Kim Quyên, Lê Kiều Trang, Bùi Văn Nguyên, Lê Thị Minh Thuỷ
    119-127

    Nghiên cứu này nhằm đánh giá sự biến đổi hàm lượng tinh bột kháng tiêu hoá theo thời kỳ sinh trưởng của chuối xiêm (Musa paradisiaca var. awak) được trồng tại huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang, từ đó xác định thời vụ thu hoạch chuối để sản xuất tinh bột có hàm lượng tinh bột kháng tiêu hoá cao dùng cho sản xuất thực phẩm. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hàm lượng tinh bột kháng tiêu hoá ở chuối xiêm được trồng tại huyện U Minh Thượng có sự thay đổi theo thời kỳ sinh trưởng và hàm lượng đạt cao nhất là 62,56 ± 1,17 (g/100 g) vào tuần thứ 15 (tính kể từ khi chuối bắt đầu trổ buồng); hiệu suất tách chiết, thu hồi tinh bột chuối cũng đạt cao nhất ở tuần thứ 15 là 17,12 ± 0,3%; một số tính chất lý hoá của tinh bột chuối xiêm bao gồm khả năng trương nở, độ hoà tan, khả năng hấp thụ nước và hấp thụ dầu được khảo sát.

    DOI: https://doi.org/10.71254/3psa2t53
  • NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ SẤY BỌT XỐP (FOAMING-MAT DRYING) SẢN XUẤT BỘT QUẢ NA

    Abstract : 948 PDF: 0
    Phan Thế Duy, Đinh Ngọc Quốc, Võ Thị Hương Tràm, Lê Nguyễn Đoan Duy
    128-138

    Nghiên cứu xác định các thông số và điều kiện sấy bọt xốp để thu hồi bột quả na (Anona squamosa L.). Quả na giàu vitamin C, A, B6, magie, kali, đồng và chất xơ, nhưng do chứa nhiều nước nên khó bảo quản lâu. Trong nghiên cứu này, quá trình sấy bọt xốp của thịt quả na được thực hiện bằng cách khảo sát tỉ lệ và chọn ra chất tạo bọt phù hợp trong các loại chất tạo bọt: Albumin, whey protein concentrain, soy protein isolate với tỉ lệ khảo sát 1,0 - 3,0%, khảo sát tỉ lệ và chọn ra chất ổn định bọt phù hợp trong các loại chất ổn định bọt: Carboxymethyl cellulose (CMC), gum arabic, maltodextrin, với tỉ lệ khảo sát 0,3 - 0,7%, quá trình đánh bọt kéo dài 6 - 14 phút. Với nồng độ chất khô hòa tan của dịch quả 7oBrix, sử dụng 2,0% albumin và 0,5% CMC trong 10 phút cho độ giãn nở bọt 95,76 ± 0,43%, độ ổn định 97,67 ± 0,24% và mật độ 41,32 ± 0,19 g/mL. Quá trình sấy diễn ra ở 5 mức nhiệt độ (50 - 70°C), với độ dày bọt 2 - 10 mm. Kết quả tốt nhất thu được khi sấy ở 60°C, độ dày bọt 4 mm, cho bột có hàm lượng vitamin C 6,13 ± 0,02 mg/100 g, đường khử 48,29 ± 0,10% và thời gian sấy 240 ± 4,08 phút. Kết hợp giữa albumin 2,0% và CMC 0,5%, thời gian đánh bọt 10 phút, sấy ở 60°C tạo ra bột quả na có chất lượng cao. Nghiên cứu này giúp đa dạng hóa sản phẩm từ quả na, tiết kiệm chi phí và giữ nguyên giá trị dinh dưỡng.

    DOI: https://doi.org/10.71254/pfdqgz60
  • NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ CHẤT TẠO ĐÔNG ĐẾN SỰ THAY ĐỔI HÀM LƯỢNG CÁC CHẤT CHỐNG OXY HÓA TRONG ĐẬU HŨ BỔ SUNG KHOAI LANG TÍM

    Abstract : 392 PDF: 0
    Trần Minh Phúc, Đỗ Thị Tuyết Nhung, Dương Thị Phượng Liên, Hà Thanh Toàn
    139-147

    Trong quá trình sản xuất đậu hũ, đông tụ là một trong những công đoạn quan trọng quyết định đến chất lượng của đậu hũ. Nghiên cứu này đánh giá ảnh hưởng của loại chất tạo đông bao gồm: Nigari, axit citric, canxi sulphat với nồng độ chất tạo đông (0,1; 0,2; 0,3; 0,4% w/v) thông qua đánh giá sự thay đổi hàm lượng của các chất có khả năng chống oxy hóa như: Polyphenol tổng (TPC), flavonoid tổng (TFC), hàm lượng anthocyanin được thể hiện thông qua khả năng trung hòa gốc tự do DPPH và ABTS với khả năng ức chế một nửa (IC50). Kết quả cho thấy, quá trình tạo đông với nigari ở nồng độ 0,2% (w/v) sẽ giữ cho khối đậu hũ bổ sung khoai lang tím có khả năng chống oxy hóa cao nhất, bao gồm: TPC (47,13 mg GAE/g dw), TFC (13,73 mg QE/g dw), hàm lượng anthocyanin (311,25 µg/g dw) và khả năng bắt gốc tự do DPPH (74,85 µmol TE/g dw), ABTS (102,96 µmol TEAC/g dw) với giá trị IC50 (7,48 mg/ml).

    DOI: https://doi.org/10.71254/t0k65c83
  • NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN NITƠ THÍCH HỢP TRONG MÔI TRƯỜNG TỔNG HỢP LYSINE TỪ VI KHUẨN Corynebacterium glutamicum CG2

    Abstract : 509 PDF: 0
    Bùi Trọng Tâm, Phạm Thị Mát, Nguyễn Thị Duyệt, Nguyễn Hữu Hoàng
    148-156

    L-Lysine là một amino axit thiết yếu được bổ sung làm thức ăn thủy sản được sản xuất chủ yếu bằng con đường lên men vi sinh vật. Thành phần môi trường là yếu tố rất quan trọng, ảnh hưởng tới quá trình lên men của vi khuẩn sản xuất Lysine. Nguồn nitơ thường là thành phần cao nhất của môi trường phát triển vi khuẩn. Thành phần nitơ trong môi trường nuôi vi khuẩn Corynebacterium glutamicum CG2 được tối ưu nhằm mục đích tăng cường sản xuất L-Lysine đã được kiểm tra và lựa chọn, bao gồm các nguồn nitơ vô cơ và hữu cơ đơn, hỗn hợp và tỷ lệ các thành phần của chúng. Hàm lượng lysine đạt được 45,7 g/L với môi trường có nguồn nitơ tối ưu (urê -7,4 g/L và dịch thủy phân cá-10 g/L) khi nuôi trên thiết bị lên men 10 lít.

    DOI: https://doi.org/10.71254/ra99rj30
  • NGHIÊN CỨU ĐẶC TÍNH BIẾN ĐỔI HÓA LÝ, SINH LÝ VÀ CHẤT LƯỢNG CẢM QUAN CỦA QUẢ CHANH LEO TÍM SAU THU HOẠCH

    Abstract : 889 PDF: 0
    Phạm Anh Tuấn, Nguyễn Sáng
    157-165

    Mục đích của nghiên cứu này là phân tích đánh giá sự biến đổi sinh hóa và sinh lý sau thu hoạch của quả chanh leo tím trồng tại tỉnh Sơn La, với 4 mức độ chín theo màu tím trên bề mặt vỏ quả (25%, 50%, 75%, 100%), ở nhiệt độ môi trường 30 - 32oC. Kết quả nghiên cứu cho thấy, sự biến đổi thành phần hóa học từ độ chín 25 - 100% như sau: Hàm lượng nước giảm từ 80,77 - 77,83%, hàm lượng carbohydrate tăng từ 16,53 - 19,35%, hàm lượng đường tổng số tăng từ 6,64 - 8,85%, hàm lượng axit tổng số giảm  từ 5,82% xuống 4,21%, hàm lượng vitamin C tăng 25,2 - 30,12 mg/100 g, hàm lượng chất rắn hòa tan tổng số tăng từ 18 - 19,05oBrix, pH tăng từ 3,7 - 3,9. Trong khi quá trình bảo quản ở độ chín (75%) sự biến đổi sinh lý với cường độ hô hấp đạt đỉnh 143,28 ml CO2/kg.h và mức sản sinh khí ethylene 704,19 µl C2H4 /kg.h vào ngày thứ 6. Tỷ lệ hao hụt khối lượng tới 6,62%, chất lượng cảm quan giảm mạnh từ loại tốt (19,65 điểm) xuống loại kém (10,58 điểm) sau 10 ngày bảo quản.

    DOI: https://doi.org/10.71254/64y8hm52
  • NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA NHIỆT ĐỘ SẤY TỚI CÁC HOẠT CHẤT SINH HỌC CỦA BỘT LÁ CHUỐI TIÊU (Musa acuminata AAA)

    Abstract : 897 PDF: 0
    Hà Thị Dung, Cao Thị Huệ, Trần Thị Quỳnh Trang, Trần Ý Đoan Trang, Phạm Văn Phương, Mạc Thế Vinh, Đỗ Thị Hạnh
    166-175

    Lá chuối tiêu là nguyên liệu phổ biến và có sẵn ở Việt Nam, được ứng dụng rộng rãi trong thực phẩm như gói bánh, gói giò, chả. Mặc dù, ở Việt Nam phần lớn lá chuối thường được đốt bỏ sau khi thu hoạch, nhưng lá chuối tiêu đã được chứng minh có khả năng chống oxy hóa, giàu các hoạt chất sinh học. Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm đánh giá ảnh hưởng của nhiệt độ sấy tới hoạt tính chống oxy hóa, cũng như hàm lượng các hoạt chất sinh học như: Polyphenol, flavonoid và tannin có trong lá chuối tiêu. Lá chuối tiêu sau khi thu hái được phơi nắng và sấy đối lưu trong tủ sấy ở nhiệt độ (40 ± 1°C, 50 ± 1°C, 60 ± 1°C). Bột lá thu được được đo độ ẩm, màu sắc, hàm lượng polyphenol, flavonoid, tannin, năng lực khử sắt và khả năng quét gốc tự do DPPH. Kết quả nghiên cứu cho thấy, sấy bằng phương pháp sấy đối lưu ở 50oC cho kết quả độ ẩm, màu sắc tốt hơn so với phương pháp phơi nắng truyền thống. Bên cạnh đó, hàm lượng polyphenol, flavonoid, tannin, năng lực khử sắt và khả năng quét gốc tự do DPPH cao nhất cũng được tìm thấy ở mẫu sấy 50oC. Từ phép phân tích tương quan Pearson cho thấy, hàm lượng các hoạt chất sinh học trong lá chuối tiêu càng cao, khả năng chống oxy hóa của chúng càng tốt.

    DOI: https://doi.org/10.71254/tkvwqd19
  • ỨNG DỤNG TÚI VẢI ĐỊA KỸ THUẬT D-BOX TRONG GIẢI PHÁP BẢO VỆ BỜ SÔNG, KÊNH RẠCH Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

    Abstract : 471 PDF: 0
    Cù Ngọc Thắng, Nguyễn Thanh Bình, Trần Văn Tỷ, Nguyễn Thị Bảy, Châu Nguyễn Xuân Quang
    176-187

    Sạt lở bờ sông, kênh rạch ở đồng bằng sông Cửu Long đang diễn ra nghiêm trọng, ảnh hưởng đến đời sống của người dân và quá trình phát triển kinh tế - xã hội của vùng. Nghiên cứu tiến hành thiết kế kết cấu, triển khai thí điểm ngoài thực tế và theo dõi chuyển vị công trình bảo vệ bờ sông, kênh rạch ứng dụng giải pháp túi vải địa kỹ thuật D-Box trên sông, kênh rạch nội đồng (sông cấp III, IV). Mô hình thí điểm được thực hiện trên sông Long Xuyên - Rạch Giá thuộc địa phận huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang cho thấy, giải pháp đạt hiệu quả bảo vệ bờ sông, kênh rạch, tạo cảnh quan thiên nhiên và được sự ủng hộ của người dân trong khu vực. Kết quả quan trắc ghi nhận, chiều dài kè đều chuyển vị, vị trí chuyển vị lớn nhất là 10 cm, vị trí chuyển vị nhỏ nhất là 4 cm theo hướng ra phía sông - chuyển vị này nằm trong phạm vi cho phép. Giải pháp có thể ứng dụng rộng rãi ở các khu vực có điều kiện tương tự. Cần xây dựng quy trình kỹ thuật hướng dẫn thi công để người dân và chính quyền dễ dàng triển khai xây dựng.

    DOI: https://doi.org/10.71254/c67xht46
  • ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ GIS KẾT HỢP PHẦN MỀM MICROSTATION V8I VÀ GCADAS ĐỂ XÂY DỰNG DỮ LIỆU ĐỊA CHÍNH HỖ TRỢ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI HIỆN ĐẠI TẠI THỊ XÃ THÁI HOÀ, TỈNH NGHỆ AN

    Abstract : 803 PDF: 0
    Phạm Thị Hà, Hồ Viết Đức Anh, Nguyễn Kim Đức, Đỗ Chí Tùng Lâm, Nguyễn Quang Thi
    188-200

    Dữ liệu địa chính là một thành phần quan trọng trong hệ thống quản lí đất đai hiện đại, được dùng để xây dựng và định vị không gian các dữ liệu khác của cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia; giúp các cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp và người dân dễ dàng tiếp cận, sử dụng thông tin đất đai chính xác, minh bạch và hiệu quả. Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm sử dụng phần mềm Microstation và gCadas để số hoá, chuẩn hoá bản đồ - hồ sơ địa chính, sau đó kết hợp công nghệ GIS, sử dụng phần mềm ArcGIS để xây dựng và hoàn thiện dữ liệu không gian, thuộc tính nhằm xây dựng được dữ liệu địa chính đa mục tiêu phục vụ quản lí đất đai theo hướng hiện đại. Trong nghiên cứu này, dữ liệu địa chính được xây dựng từ 159 mảnh bản đồ địa chính, trong đó 76 mảnh tỉ lệ 1/2.000, 83 mảnh tỉ lệ 1/1.000, với 32.338 thửa đất kết hợp với bộ hồ sơ địa chính các xã: Đông Hiếu, Nghĩa Mỹ, Nghĩa Thuận, thị xã Thái Hoà, tỉnh Nghệ An. Dữ liệu xây dựng được sẽ cung cấp thông tin về mặt không gian và thuộc tính như: Vị trí, hình dạng, kích thước, thông tin của thửa đất nhanh chóng, độ chính xác cao, hỗ trợ công tác thống kê và kiểm kê đất đai, đền bù giải phóng mặt bằng, lập kế hoạch quy hoạch quản lí và sử dụng đất,… là cơ sở cho quản lí đất đai theo hướng đa mục tiêu tại địa phương.

    DOI: https://doi.org/10.71254/dfm1m941