Số 5 (2024)
Bài viết
-
Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của giống lúa gạo màu Chằm Dạo (Sơn La) tại một số vùng trồng khác nhau
Abstract : 384 PDF: 0Giống lúa gạo màu địa phương Chằm Dạo có nguồn gốc tại huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Giống thuộc trà mùa trung, có khả năng sinh trưởng khá trên ruộng nương và ruộng nước. Cây đẻ nhánh khỏe, cao cây từ 120 - 125 cm. Hạt gạo bán tròn, vỏ gạo nâu. Cơm hơi dẻo và đậm. Hàm lượng amylose 19,3%, hàm lượng anthocyanin 10,4 mg/kg. Với mục tiêu mở rộng và phát triển các giống lúa gạo màu địa phương có tiềm năng ra nhiều vùng khác nhau, đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng, nghiên cứu được triển khai tại 3 tỉnh: Sơn La, Điện Biên và Lai Châu. Kết quả cho thấy, giống lúa Chằm Dạo có khả năng mở rộng và phát triển tại tỉnh Lai Châu, giống sinh trưởng và phát triển tốt, ít bị nhiễm sâu, bệnh hại: Bệnh bạc lá (điểm 0), bệnh đạo ôn, rầy nâu, sâu đục thân (điểm 1). Năng suất thực thu của giống đạt cao nhất khi trồng tại tỉnh Lai Châu là 2,92 tấn/ha (năm 2021) và 2,90 tấn/ha (năm 2022), cao hơn khi trồng tại tỉnh Sơn La (nơi nguồn gốc xuất phát của giống) đạt 2,72 tấn/ha (năm 2021) và 2,65 tấn/ha (năm 2022), đạt thấp nhất khi trồng tại tỉnh Điện Biên là 2,11 tấn/ha (năm 2021) và 1,74 tấn/ha (năm 2022).
-
Phân tích đa hình vùng exon 1 gen O¬sHKT1;5 trên các giống lúa mùa chịu mặn tỉnh Kiên Giang
Abstract : 460 PDF: 0Nguy cơ xâm nhập mặn do biến đổi khí hậu ngày càng nghiêm trọng, đe dọa sản xuất lúa ở vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Nghiên cứu đánh giá tính chống chịu mặn của 16 giống lúa mùa địa phương thu thập từ tỉnh Kiên Giang so sánh với Pokkali và RC222 đã chọn ra được các giống lúa có khả năng chống chịu mặn khác nhau. Các giống lúa này sau đó được phân tích đa hình vùng exon 1 gen OsHKT1;5 bằng kỹ thuật giải trình tự. Kết quả đánh giá kiểu hình đã xác định được 7 giống lúa có tính chống chịu mặn khác nhau gồm: Lúa Chuối, FL478, Pokkali có khả năng chống chịu tốt; Nàng Trích, Trắng Tép, Ba Bụi, Một Bụi có tính chống chịu mặn trung gian ở các mức khác nhau; RC222 mẫn cảm với mặn. Phân tích trình tự vùng exon 1 gen OsHKT1;5 đã xác định được 3 dấu SNP ở các vị trí nucleotide G382A, C418G và G551A. Cả 3 dấu SNP đều là đột biến sai nghĩa làm thay đổi các amino axit D128N, P140A và R184H. Các SNP G382A và G551A có thể có liên quan đến tính chống chịu mặn của các giống lúa.
-
Chọn lọc các dòng ngô ngọt mang gen siêu ngọt sh2 bằng kiểu hình và chỉ thị phân tử
Abstract : 572 PDF: 0Nghiên cứu này nhằm xác định các dòng mang gen siêu ngọt sh2 phục vụ công tác chọn tạo giống ngô ngọt chất lượng cao cho thị trường thực phẩm Việt Nam. Khảo sát xác định gen sh2 trên năm dòng thuần và đối chứng bằng bốn chỉ thị umc2276, umc1320, bnlg1257, umc1273. Kết quả cho thấy, chỉ thị umc1273 là phù hợp nhất để xác định gen sh2 trên các dòng ngô ngọt. Ứng dụng chỉ thị này khảo sát trên 20 dòng ngô ngọt tự phối đời 6 đã chọn được 9 dòng mang gen đồng hợp tử lặn sh2sh2 bao gồm: S3, S4, S5, S10, S11, S14, S16, S17, S21. Đánh giá đa dạng di truyền của 20 dòng ngô ngọt tự phối đời 6 có nguồn gốc từ Trung Quốc, Đài Loan, Ấn Độ, Mỹ, Philippin dựa trên kiểu hình trong điều kiện vụ xuân năm 2023 bằng phần mềm NTSYS, kết quả cho thấy: 20 dòng ngô ngọt được chia làm 13 nhóm, một nhóm có 3 dòng, 1 nhóm có hai dòng và 11 nhóm có một dòng ở mức sai khác nhau 38%. Sử dụng chương trình thống kê sinh học thường quy với các tính trạng kiểu hình đã chọn được 6 dòng ưu tú: S16, S10, S5, S17, S14, S11. Các dòng ngô ngọt này thuộc nhóm ngắn ngày từ 81 - 92 ngày, chiều cao cây trung bình từ 137,6 ± 2 đến 162,8 ± 3 cm, độ dày vỏ hạt trung bình từ 50,81 - 58,57 µm, năng suất hạt khô đạt từ 588,1 - 663,6 kg/ha, độ Brix đạt trên 18%. Các dòng này có thể sử dụng trong việc chọn tạo giống ngô ngọt chất lượng cao.
-
Ảnh hưởng của biện pháp đốn tỉa cành và khoanh vỏ đến sinh trưởng, năng suất, chất lượng quả của giống táo TN01 tại tỉnh Ninh Thuận
Abstract : 653 PDF: 0Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp đốn tỉa cành và khoanh vỏ đến năng suất, chất lượng quả giống táo TN01 tại tỉnh Ninh Thuận được thực hiện trên vườn táo giai đoạn 6 năm tuổi trồng tại Vườn thực nghiệm của Viện Nghiên cứu Bông và Phát triển Nông nghiệp Nha Hố trong vụ hè thu và đông xuân trong các năm 2020 - 2022. Thí nghiệm đốn tỉa cành gồm 4 nghiệm thức: Đối chứng không đốn tỉa, đốn tỉa để lại 4 cành, đốn tỉa để lại 6 cành và đốn tỉa để lại 8 cành. Thí nghiệm khoanh vỏ gồm 4 nghiệm thức: Đối chứng không khoanh vỏ, khoanh vỏ thân, khoanh vỏ toàn bộ cành cấp 1 và khoanh vỏ để lại 1 cành cấp 1. Các thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên một yếu tố, 3 lần lặp lại. Kết quả cho thấy, thí nghiệm đốn tỉa cành có ảnh hưởng đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng quả của giống táo TN01, các nghiệm thức đốn tỉa cành đều làm tăng tỷ lệ đậu quả, khối lượng quả lớn hơn, mật độ quả cao hơn, tăng năng suất quả và tổng chất rắn hòa tan (TSS) của quả so với nghiệm thức đối chứng không đốn tỉa cành; trong đó, nghiệm thức đốn tỉa giữ lại 6 cành cho hiệu quả cao nhất, quả có khối lượng trung bình đạt 81,2 g/quả, năng suất thu được 41,64 tấn/ha, TSS đạt 12,1oBrix. Thí nghiệm khoanh vỏ cũng cho tỷ lệ đậu quả 7,0%, mật độ quả 67,3 quả/m2, năng suất quả 46,39 tấn/ha đạt cao hơn rất nhiều so với đối chứng không khoanh vỏ (37,66 tấn/ha). Các nghiệm thức khoanh vỏ có kích thước quả và TSS thấp hơn so với đối chứng song không có sự khác biệt lớn.
-
Đánh giá sinh trưởng, năng suất và chất lượng của một số dòng đan sâm (Salvia miltiorrhiza Bunge) tứ bội thể
Abstract : 669 PDF: 0Đan sâm (Salvia miltiorrhiza Bunge) là một loại thảo dược quan trọng, được sử dụng chủ yếu để điều trị bệnh tim mạch. Mười dòng tứ bội đã được tạo ra bằng phương pháp xử lý colchicine từ nghiên cứu trước. Nghiên cứu này, tiến hành đánh giá 10 dòng tứ bội thể cùng 1 mẫu đối chứng nhị bội tại Tam Đảo. Có sự khác biệt đáng kể về năng suất và hàm lượng hoạt chất giữa các dòng tứ bội thể cũng như so với dòng nhị bội. Khi thu hoạch dòng ĐS7 có các thông số năng suất như chiều dài rễ 37,81 cm, đường kính rễ 1,96 cm, năng suất thực thu 2,57 tấn/ha, năng suất khô của rễ 51,33 g/cây, hàm lượng hoạt chất tanshinon IIA (0,38%), axit salvianolic B (5,84%) đạt cao nhất, với dòng đối chứng nhị bội tăng năng suất trên 20%, hàm lượng tanshinon IIA tăng trên 90%, hàm lượng axit salvianolic B tăng trên 33% so với cây lưỡng bội thông thường. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dòng đan sâm tứ bội thể ĐS7 có năng suất hoạt chất thể hiện kết quả tốt nhất so với các dòng tứ bội thể thu được và cao hơn so với dòng đối chứng. Đây là kết quả nghiên cứu bước đầu trên 10 dòng tứ bội thể, vì vậy cần có những nghiên cứu tiếp theo tạo ra nhiều dòng đa bội thể hơn để phục vụ công tác tuyển chọn giống đan sâm đa bội thể ở Việt Nam.
-
Tối ưu hoá điều kiện nuôi cấy các chủng vi sinh vật hữu ích để tạo chế phẩm xử lý chất thải rắn hữu cơ thành phân bón
Abstract : 576 PDF: 0Nghiên cứu này đã tuyển chọn và tối ưu hóa môi trường lên men thu sinh khối ba chủng vi sinh hữu ích: Bacillus velezensis N24, Bacillus amyloliquefaciens NT và Trichoderma sp. N1 với đặc tính các chủng có khả năng chuyển hóa các hợp chất hữu cơ đa dạng (tinh bột, cellulose, protein và pectin), có khả năng sinh tổng hợp IAA, phân giải phốt phát khó tan và cố định nitơ, đối kháng vi sinh vật gây bệnh. Các thông số tối ưu môi trường lên men thu sinh khối các chủng bao gồm: Chủng N24 bổ sung 4,5 g/l tinh bột, 8,25 g/l pepton, pH = 7, nhiệt độ 34oC; tốc độ lắc 150 vòng/phút, hàm lượng sinh khối ướt chủng N24 đạt 27,55 g/l. Chủng NT lên men trong môi trường chứa 3,87 g/l tinh bột, 8 g/l pepton, pH = 7, nhiệt độ 35oC; tốc độ lắc 150 vòng/ phút, hàm lượng sinh khối ướt đạt 29,32 g/l; trong môi trường chứa 5g/l tinh bột; 6,85 g/l pepton; pH = 6; nhiệt độ 32oC; tốc độ lắc 77 vòng/phút, hàm lượng sinh khối ướt chủng N1 đạt 39,21 g/l. Bước đầu đã tạo được chế phẩm vi sinh vật trên chất mang để xử lý chất thải hữu cơ thành phân bón đạt tiêu chuẩn.
-
Nghiên cứu kỹ thuật bón phân đến năng suất cây xoài thơm Vĩnh Hoà theo hướng tiêu chuẩn VietGAP
Abstract : 529 PDF: 0Nghiên cứu kỹ thuật bón phân cho cây xoài Thơm Vĩnh Hòa theo hướng tiêu chuẩn VietGAP được thực hiện từ tháng 7/2022 đến tháng 5/2023 tại vườn của ông Nguyễn Phước Hồng, địa chỉ tổ 5, ấp Vĩnh An, xã Vĩnh Hòa, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang. Thí nghiệm kỹ thuật bón phân được bố trí theo kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 6 nghiệm thức với 3 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại là 1 cây xoài. Kết quả cho thấy, nghiệm thức NT4 tốt nhất, cho năng suất cao (67,33 kg/cây), kích thước trái lớn (chiều dài: 13,93 cm; chiều rộng: 8,66 cm), độ ngọt cao (23,26%), tỉ lệ phần trăm trái loại 1 cao (74,3%) khi sử dụng phân bón Đầu Trâu cho cây ăn trái (AT1, AT2, AT3) + phân hữu cơ vi sinh (Bình Điền).
-
Nghiên cứu bệnh do Babesia gibsoni gây ra trên chó tại Bệnh xá Thú y, Trường Đại học Cần Thơ
Abstract : 713 PDF: 0Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 3/2023 đến tháng 9/2023 nhằm xác định tỷ lệ nhiễm bệnh do Babesia gibsoni (B. gibsoni) gây ra trên chó; đánh giá hiệu quả điều trị bệnh do B. gibsoni gây ra trên chó. Tổng số chó được khảo sát là 2.321 con, bằng phương pháp khám lâm sàng phát hiện 259 chó nghi ngờ nhiễm B. gibsoni với tỷ lệ 11,16%. Số chó nghi ngờ bệnh này được chỉ định lấy máu, làm tiêu bản bằng phương pháp nhuộm Diff-Qick để xác định bệnh. Kết quả cho thấy, chó mắc Canine Babesiosis (CB) do B. gibsoni gây ra tại Bệnh xá thú y, Trường Đại học Cần Thơ chiếm tỷ lệ 1,38% trên tổng số khảo sát và 12,36% trên số chó nghi ngờ. Trong đó, chó giống đực có tỷ lệ nhiễm B. gibsoni là 17,27%, cao hơn chó giống cái là 8,72%. Tỷ lệ nhiễm B. gibsoni trên chó nuôi thả là 21,21%, cao hơn so với nhóm chó nuôi nhốt là 6,88%. Chó có lông dài có tỷ lệ nhiễm B. gibsoni là 19,59%, cao hơn chó có lông ngắn là 8,02%. Tỷ lệ nhiễm B. gibsoni trên chó có tiền sử nhiễm ve là 17,48%, cao hơn chó không nhiễm ve là 6,03%). Tuy nhiên, CB không phụ thuộc vào giống và tuổi. Các triệu chứng lâm sàng trên chó nhiễm B. gibsoni xuất hiện với các tần suất khác nhau. Tần suất cao nhất là sốt, ủ rũ, biếng ăn (90,63%); ngứa, rụng lông, nấm da, xuất huyết dưới da (65,63%); chảy dịch mũi, chảy ghèn (43,75%); nhiễm ve nhiều (34,38%); tim mạch (28,13%); niêm mạc tái, vàng niêm mạc (21,28%). Ngoài ra, có 6,25% (2/32) không có triệu chứng lâm sàng nhiễm B. gibsoni. Sau quá trình điều trị, 32 con chó nhiễm B. gibsoni bằng phác đồ sử dụng kết hợp Imidocarb dipropionat và Doxycyline sau 30 ngày điều trị tiến hành lấy máu xét nghiệm lại có 19 con chó khỏi bệnh, chiếm tỷ lệ 59,37%, 11 con đã thuyên giảm, với tỷ lệ 34,38% và có 2 con không khỏi bệnh, tỷ lệ là 6,25%.
-
Ảnh hưởng của chế độ tiền xử lý lạnh đông đến chất lượng tỏi đen Lý Sơn
Abstract : 542 PDF: 0Mục đích của nghiên cứu nhằm xác định thời gian và nhiệt độ tiền xử lý bằng phương pháp lạnh đông để nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình lên men tỏi đen từ tỏi Lý Sơn. Trước khi lên men, nguyên liệu tỏi Lý Sơn được xử lý ở các ngưỡng nhiệt độ lạnh đông là -5oC, -10oC, -15oC trong thời gian từ 1 - 4 ngày. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hiệu suất lên men và chất lượng (Đặc biệt hàm lượng một số hoạt chất sinh học có lợi cho sức khỏe) của sản phẩm tỏi đen khi được tiền xử lý lạnh đông ở nhiệt độ -10oC trong thời gian 2 ngày là tốt nhất. Tỏi đen sau lên men có trạng thái mềm dẻo, màu nâu đen, mùi thơm và vị ngọt đặc trưng; hàm lượng Gluxit 52,73%, hàm lượng Polyphenol 268,75 mgGAE/g, hàm lượng S-allyl cysteine 198,73 µg/g, hàm lượng Allicin 22,17 mg/100 g; hiệu suất lên men đạt 32,58%.
-
Đặc điểm môi trường nước trong mô hình tôm - lúa luân canh ở Cà Mau
Abstract : 741 PDF: 0Cà Mau là tỉnh có diện tích nuôi tôm lớn nhất đồng bằng sông Cửu Long với nhiều mô hình nuôi như: Tôm - rừng, quảng canh cải tiến, tôm - lúa luân canh, thâm canh và siêu thâm canh. Trong đó, mô hình tôm - lúa luân canh tập trung nhiều nhất tại huyện Thới Bình. Đây được xem là mô hình phù hợp trong điều kiện thích ứng với biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn và thân thiện môi trường theo định hướng phát triển nghề nuôi tôm - lúa luân canh theo hướng bền vững của tỉnh Cà Mau. Sự am hiểu về chất lượng nguồn nước cấp phục vụ cho quá trình canh tác là rất cần thiết. Do đó, mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá chất lượng nước nhằm cung cấp dữ liệu khoa học cho quản lý chất lượng nước trong mô hình tôm - lúa trong thời gian tới. Mẫu nước được thu tại 3 vuông tôm - lúa qua 4 đợt thu mẫu bao gồm: Đầu vụ tôm (Tháng 2), cuối vụ tôm (Tháng 7), đầu vụ lúa (Tháng 10) và cuối vụ lúa (Tháng 12) tại xã Biển Bạch Đông, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau để phân tích các chỉ tiêu thủy, lý, hóa. Kết quả cho thấy, độ mặn giảm nhanh từ đầu vụ đến cuối vụ tôm. Độ kiềm ở mức cao và tương đối ổn định. Hàm lượng oxy trong nước ở mức phù hợp. Tuy nhiên, các chỉ tiêu biểu thị cho hàm lượng dinh dưỡng trong các vuông như: TSS, BOD, TAN, NO2-, NO3-, PO43-, TN, TP và chlorophyll-a cho thấy, chất lượng nước ở mức dinh dưỡng trung bình. Do đó, cần lưu ý nghiên cứu các giải pháp cải thiện dinh dưỡng nhằm tăng cường nguồn thức ăn tự nhiên, góp phần làm tăng năng suất của mô hình.








