Số 18 (2022)
Bài viết
-
ĐÁNH GIÁ KIỂU HÌNH VÀ KIỂU GEN VƯƠN LÓNG CỦA CÁC GIỐNG LÚA NỔI
Abstract : 1 PDF: 1Lúa mùa nổi hiện đang được nghiên cứu phục hồi và đưa vào mô hình canh tác lúa kết hợp nuôi trồng thủy sản ở vùng đất bị ngập nước tại các huyện đầu nguồn sông Mekong của tỉnh Đồng Tháp và An Giang. Nghiên cứu thực hiện khảo sát kiểu gen và kiểu hình của 23 giống lúa mùa so sánh với đối chứng lúa mùa nổi Bông sen và không nổi OM5451. Kết quả đã xác định được 8 giống lúa mùa nổi có khả năng vươn lóng tốt gồm MN1, Chệt cụt, Nếp MN, Som Bot Ka Tủm, Tàu - nuc, Nàng đùm nhỏ, Trung hưng và Nàng rừng. Sử dụng 3 cặp mồi RM6840, RM235 và SK1 giúp xác định được các giống lúa có các đặc điểm vươn lóng tốt như tổng chiều dài vươn lóng và vị trí lóng thấp nhất có vươn lóng.
-
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA MỘT SỐ DÒNG LÚA CỎ Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Abstract : 1 PDF: 1Lúa cỏ (Oryza sativa f. spontanea) là loại cỏ hằng niên, có cùng họ hàng với lúa trồng và được xem là một trong những loài cỏ dại nguy hiểm do có hình thái tương đồng, khả năng cạnh tranh cao dẫn đến làm giảm năng suất và chất lượng lúa trồng, gây khó khăn cho công tác phòng trừ và tăng chi phí sản xuất. Tương tự như lúa trồng, lúa cỏ rất đa dạng về hình thái và xuất hiện ở tất cả các vùng trồng lúa chính trên thế giới. Ở Việt Nam, lúa cỏ được ghi nhận lần đầu tiên vào đầu những năm 1990 ở một số vùng lúa sạ khô của tỉnh Long An và Bình Thuận, với những đặc tính hình thái như có chiều cao cao hơn cây lúa, hạt lúa có râu dài, hạt gạo màu đỏ và rất dễ rụng hạt. Nghiên cứu này tập trung vào quan sát và phân tích những đặc tính hình thái lúa cỏ thu thập ở một số vùng sinh thái trồng lúa chính của (ĐBSCL) bao gồm các tỉnh/thành phố Cần Thơ, Hậu Giang và Kiên Giang. Có 19 đặc tính hình thái được thu thập, ghi nhận, sau đó sử dụng phương pháp phân tích thành phần chính (PCA) và phân nhóm theo thứ bậc (HC) để phân loại. Kết quả quan sát và phân tích sơ bộ 248 mẫu lúa cỏ thu thập và 3 giống lúa trồng phổ biến cho thấy lúa cỏ rất đa dạng về hình thái, trong đó có 28 dòng lúa cỏ có đặc tính hình thái rất khác nhau. Thông qua phân tích thành phần chính cho thấy có tổng số 47,5% sự biến động được giải thích bởi một số biến quan sát chính, chẳng hạn như chiều dài hạt lúa, màu sắc hạt gạo, chiều dài râu. Kết quả phân loại 28 dòng lúa cỏ và 3 giống lúa trồng hình thành 4 nhóm chính, trong đó có 2 dòng lúa cỏ có dạng hình tương tự và cùng nhóm với 3 giống lúa trồng là LCHG-49 và LCHG-56 về chiều cao cây, chiều dài, màu sắc hạt lúa, hạt gạo và hạt lúa không có râu.
-
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH THỜI VỤ TRỒNG THÍCH HỢP CHO GIỐNG CHANH LEO ĐÀI NÔNG 1 TẠI THANH HÓA
Abstract : 1 PDF: 1Nghiên cứu được tiến hành nhằm xác định thời vụ trồng thích hợp cho giống chanh leo Đài Nông 1 trồng tại Thanh Hóa. Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ gồm 5 công thức, 3 lần nhắc tại 2 địa điểm trong 2 vụ xuân và vụ thu đông năm 2019. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tại Thanh Hóa giống chanh leo Đài Nông 1 được trồng vụ xuân, thời vụ trồng từ ngày 02 tháng 3 đến ngày 17 tháng 3 và vụ thu đông, thời vụ trồng từ ngày 01 tháng 11 đến ngày 15 tháng 11 cây chanh leo Đài Nông 1 sinh trưởng, phát triển tốt. Trong vụ xuân, thời gian từ trồng đến quả chín dao động trong khoảng 212,0 - 218,0 ngày. Vụ thu đông thời gian từ trồng đến quả chín dao động trong khoảng 232,0 - 237,0 ngày. Năng suất thực thu cây chanh leo Đài Nông 1 trồng năm 2019 đạt cao nhất trong vụ xuân ở thời vụ trồng từ ngày 02 tháng 3 đến ngày 17 tháng 3, dao động 31,81 - 35,90 tấn/ha/vụ. Vụ thu đông thời vụ trồng từ ngày 01 tháng 11 đến ngày 15 tháng 11 có năng suất thực thu đạt cao nhất, dao động 32,05 - 35,79 tấn/ha/vụ.
-
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG NHÂN GIỐNG LAN HÀI VIỆT NAM (Paphiopedilum vietnamese) BẰNG KỸ THUẬT IN VITRO
Abstract : 1 PDF: 1Lan hài Việt Nam (Paphiopedilum vietnamese) là một trong những loài lan đặc hữu của Việt Nam. Quả thụ phấn sau 9 tháng được lựa chọn để tiến hành thí nghiệm. Phôi hạt nuôi nảy mầm trên môi trường MS bổ sung thêm 30 g/l đường, 1 g/l than hoạt tính, 5,5 g/l agar, 150 ml/l nước dừa. Nhân nhanh loài lan hài Việt Nam từ phôi hạt cho thấy khả năng tạo đa chồi tốt khi bổ sung chất điều tiết sinh trưởng BAP 4 mg/l hoặc BAP 4 mg/l kết hợp Kinetin 0,6 mg/l vào nền môi trường MS có đường 30 g/l, than hoạt tính 1 g/l, agar 5,5 g/l, nước dừa 150 ml/l, thu được 86,2 chồi, chiều cao chồi trung bình đạt 2,71 cm, chất lượng chồi tốt. Rễ lan hài Việt Nam phát sinh tốt nhất trong điều kiện môi trường MS bổ sung đường 30 g/l, agar 5,5 g/l, nước dừa 150 ml/l và NAA hoặc IAA nồng độ 1 mg/l.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG NUÔI CẤY, NAA LÊN SỰ SINH TRƯỞNG VÀ HÌNH THÀNH RỄ CỦA CÂY TAM THẤT HOANG (Panax stipuleanatus H. T. Tsai et K. M. Feng) IN VITRO
Abstract : 1 PDF: 1Tam thất hoang (Panax stipuleanatus H. T. Tsai et K. M. Feng) là một loài cây dược liệu quý hiếm với công dụng bồi bổ sức khỏe và chống ung thư. Loài này sinh trưởng chậm, sống lâu năm và thường được nhân giống bằng phương pháp giâm hom với hiệu suất thấp, phụ thuộc hoàn toàn vào số lượng và chất lượng cây mẹ vốn rất khan hiếm trong tự nhiên. Trong nghiên cứu này, ảnh hưởng của dinh dưỡng khoáng và nồng độ NAA lên sự tăng trưởng và phát sinh rễ của cây Tam thất hoang in vitro được phân tích nhằm phục vụ công tác nhân giống loài này. Cây con Tam thất hoang in vitro có chiều cao, sự gia tăng khối lượng tươi đạt giá trị cao nhất lần lượt là 2,35 cm và 0,18 g trên môi trường dinh dưỡng khoáng SH sau 12 tuần nuôi cấy. Môi trường SH bổ sung NAA (3 mg/L) giúp cây con tăng trưởng tốt và chiều dài rễ đạt tối đa 3,2 cm sau 8 tuần nuôi cấy.
-
SINH TRƯỞNG VÀ SẢN LƯỢNG HẠT CỦA CÁC DÒNG MẮC CA Ở GIAI ĐOẠN SAU 10 NĂM TUỔI TẠI TÂY NGUYÊN
Abstract : 1 PDF: 1Mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá và chọn lọc các dòng Mắc ca có năng suất hạt cao ở giai đoạn sau 10 tuổi để gây trồng ở một số địa điểm ở vùng Tây Nguyên. Nghiên cứu được tiến hành trên một số khảo nghiệm ở tuổi 11 - 14 tại Gia Lai và Đắk Lắk. Kết quả đánh giá cho thấy giữa các dòng vẫn có sự sai khác rõ rệt về sinh trưởng và sản lượng hạt. Các dòng đã được công nhận là giống Quốc gia OC, 246, A38 và 849 vẫn có sinh trưởng tốt và sản lượng hạt cao. Tại tuổi 11 khối lượng hạt đạt từ 19,2 - 20,1 kg/cây tại Kbang, Gia Lai, đạt từ 15,8 - 19,6 kg/cây tại xã Đliêa, Krông Năng, Đắk Lắk. Tại tuổi 14 đạt từ 22,1 đến 28,4 kg/cây tại xã Phú Lộc, Krông Năng, Đắk Lắk. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng cho thấy dòng 856 ở tuổi 11-14 thể hiện có triển vọng tại Tây Nguyên, tuổi 11 năng suất đạt 21,1 kg/cây ở Kbang và 19,3 kg/cây ở Krông Năng, Đăk Lắk. Tại tuổi 14 đạt 32,5 kg/cây tương đương hoặc vượt hơn so với các giống được công nhận.
-
NGHIÊN CỨU THỜI ĐIỂM THU HOẠCH DƯỢC LIỆU CÂY BAN ÂU (Hypericum perforatum L.) TẠI HUYỆN TÂN LẠC, TỈNH HÒA BÌNH
Abstract : 1 PDF: 1Nghiên cứu ảnh hưởng của 5 thời điểm thu hoạch đến sinh trưởng, năng suất dược liệu và hàm lượng hoạt chất của cây ban âu tại huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình, bao gồm: (i) Thu khi cây ra nụ; (II) Thu khi cây nở hoa 10 - 20%; (III) Thu khi cây nở hoa 30 - 50%; (iv) Thu khi cây nở hoa rộ ≥ 70%; (v) Thu khi cây tàn hoa. Kết quả đã xác định được thời điểm thu hoạch dược liệu ban âu cho năng suất dược liệu cao và hàm lượng hoạt chất hypericin tốt là khi cây nở hoa rộ > 70%, năng suất dược liệu đạt 2,89 - 2,93 tấn khô/ha, hàm lượng hypericin là 0,162 - 0,167%, cao hơn so với Dược điển Mỹ (0,04%). Thu dược liệu khi cây đã tàn hoa hàm lượng hypericin giảm thấp còn 0,040 - 0,042%.
-
CÁC LOÀI NẤM (Colletotrichum spp.) GÂY BỆNH THÁN THƯ CÓ ĐỘC TÍNH CAO TRÊN XOÀI CÁT CHU Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Abstract : 1 PDF: 2Thán thư là bệnh gây thiệt hại nghiêm trọng đến năng suất và chất lượng của trái xoài. Bệnh gây hại từ lúc trái còn non đến lúc thu hoạch, ngoài ra bệnh còn xuất hiện và gây hại trên lá, thân, hoa và trái. Tác nhân gây bệnh thường là do nhiều loài nấm khác nhau thuộc cùng chi Colletotrichum với đặc điểm hình thái tương đối giống nhau, do đó khó xác định chính xác loài gây bệnh khi chỉ dựa vào triệu chứng gây bệnh và đặc điểm hình thái của nấm. Để giúp cho việc phòng trị bệnh thán thư trên trái xoài Cát Chu đạt hiệu quả, việc xác định chính xác loài nấm gây bệnh là rất quan trọng. Nghiên cứu được tiến hành bằng cách phân lập các nguồn nấm gây bệnh trên trái xoài Cát Chu thu thập từ một số tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long, sau đó dựa vào đặc điểm hình thái và giải trình tự vùng ITS để định danh loài nấm gây bệnh. Đã thu được 9 dòng nấm gây hại, trong đó hai dòng nấm có độc tính cao được ký hiệu là TG3 và HG2. Căn cứ vào đặc điểm hình thái và so sánh trình tự vùng ITS với dữ liệu trên ngân hàng gen bằng phần mềm BLAST đã xác định dòng TG3 tương đồng với loài Colletotrichum gloeosporioides và dòng HG2 tương đồng với loài Colletotrichum scovillei.
-
VAI TRÒ CỦA PHÂN BÓN N, P, K ĐỐI VỚI NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG VẢI THIỀU, HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
Abstract : 1 PDF: 1Mặc dù giữ vai trò quan trọng trong cải thiện năng suất và chất lượng sản phẩm, các nghiên cứu về phân bón cho cây vải ở Việt Nam còn ít được quan tâm - ngay cả với các nguyên tố phân bón đa lượng. Bài báo này đề cập đến vai trò của đạm, lân và kali đối với cây vải thiều đã cho quả trồng tại huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang dưới dạng các thí nghiệm khuyết thiếu, tiến hành trong giai đoạn 2020 - 2021. Kết quả nghiên cứu cho thấy, phân đạm và phân kali là hai nguyên tố quan trọng đối với năng suất vải quả, năng suất giảm 42,9% nếu không bón đạm và giảm 30,8% nếu không bón kali trong lúc không bón phân lân một vụ năng suất gần như không có tác động so với công thức bón đầy đủ N, P, K (α=0,05). Bổ sung phân hữu cơ trên nền phân khoáng sau một vụ năng suất vải có xu hướng tăng nhẹ nhưng chưa đạt đến mức sai khác có ý nghĩa. Về mặt chất lượng, bón kali cải thiện rõ rệt đến hai chỉ tiêu sinh hóa trong quả vải là hàm lượng chất khô hòa tan tổng số (TSS, xác định thông qua độ Brix) và hàm lượng đường tổng số (các giá trị lần lượt là 17,1 -18,1% và 13,04 -14,9% ở các công thức có bón so với 16,2% và 10,02% ở công thức đối chứng không bón kali).
-
NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH LƯỢNG PHÂN BÓN N, P, K PHÙ HỢP CHO CÂY SẮN TRÊN ĐẤT CÁT PHA TẠI HUYỆN SƠN TỊNH, TỈNH QUẢNG NGÃI
Abstract : 1 PDF: 1Sắn là cây trồng chủ lực trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh Quảng Ngãi với diện tích hàng năm gần 16 nghìn ha, năng suất trung bình chỉ đạt 20,4 tấn/ha, thấp hơn nhiều so với năng suất của các tỉnh vùng Tây Nam bộ. Kết quả điều tra xác định các yếu tố hạn chế đến năng suất sắn cho thấy ngoài nguyên nhân do bệnh khảm lá sắn thì bón phân không cân đối là một trong những nguyên nhân dẫn đến năng suất sắn thấp hơn kỳ vọng. Kết quả nghiên cứu dựa trên thí nghiệm khuyết thiếu với các nguyên tố dinh dưỡng đa lượng đến năng suất sắn tươi cho thấy, khả năng cung cấp dinh dưỡng từ đất chỉ cho năng suất tương đương 26,4%, không bón đạm cho năng suất sắn giảm 49,7%, tương tự không bón lân và kali năng suất giảm 30,7% và 40,5% so với công thức bón đầy đủ đạm, lân kali. Từ sản lượng tinh bột thu được ở các công thức thí nghiệm cho thấy tầm quan trọng của các nguyên tố dinh dưỡng đa lượng theo thứ tự đạm, kali và lân. Xác định liều lượng phân bón cho cây sắn trên vùng đất cát pha huyện Sơn Tịnh bằng phương pháp quản lý dinh dưỡng theo vùng chuyên biệt (SSNM) cho thấy để có được năng suất mục tiêu là 30 tấn củ sắn tươi trên ha, lượng phân bón cần sử dụng cho sắn là: 122 kg N + 62 kg P2O5 + 123 kg K2O trên ha.
-
ỨNG DỤNG NƯỚC CHANH ĐỂ KHAI THÁC VÀ THU HỒI PECTIN TỪ VỎ QUẢ THANH LONG
Abstract : 1 PDF: 1Trong quả thanh long, vỏ quả thường chiếm một tỷ lệ lớn và có nhiều thành phần dinh dưỡng, đặc biệt là giàu pectin. Pectin là một polysaccharide phức tạp có chứa axit D- galacturonic liên kết với nhau bằng liên kết a-1,4 glycorid. Pectin được sử dụng nhiều trong các lĩnh vực của đời sống, như trong thực phẩm, mỹ phẩm và dược phẩm. Mục đích của nghiên cứu này là ứng dụng nước chanh để khai thác và thu hồi pectin từ vỏ quả thanh long. Kết quả đã xác định được tỷ lệ vỏ, tai, cuống quả thanh long là 33,41 ± 2,18%. Bên cạnh đó cũng xác định được 3 yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến hiệu suất thu hồi pectin từ vỏ quả thanh long là thời gian trích ly, nhiệt độ trích ly và hàm lượng nước chanh. Qua đó xây dựng được quy trình khai thác và thu hồi pectin từ vỏ quả thanh long với các thông số công nghệ là nhiệt độ trích ly 82oC, thời gian trích ly 100 phút, hàm lượng nước chanh là 12%, khi đó hiệu suất thu hồi pectin từ vỏ quả thanh long là 20,61%. Pectin vỏ quả thanh long thu được từ quy trình này có màu nâu sẫm, có mùi thơm tự nhiên, vị hơi ngọt nhẹ, có trạng bột mịn, độ tinh khiết là 52,67% và độ este là 51,06%.
-
NGHIÊN CỨU TẠO BỘT MÀU GIÀU ANTHOCYANIN TỪ DỊCH CHIẾT CỦ LANG TÍM VÀ ỨNG DỤNG TRONG SẢN XUẤT KẸO DẺO
Abstract : 1 PDF: 1Nghiên cứu tạo bột màu giàu anthocyanin từ dịch chiết khoai lang tím nhằm tạo thành chế phẩm màu tự nhiên dạng bột có màu sắc đẹp, hoạt tính sinh học cao, thuận lợi cho quá trình bảo quản và sử dụng. Nguyên liệu sử dụng trong nghiên cứu là dịch chiết từ khoai lang tím giống khoai lang tím HL 491 trồng tại Bình Tân, Vĩnh Long. Để tạo thành chế phẩm màu dạng bột, dịch chiết khoai lang tím được nghiên cứu sấy phun với ba yếu tố ảnh hưởng là tỷ lệ maltodextrin làm chất mang, nhiệt độ không khí sấy phun và lưu lượng phun. Kết quả hàm lượng maltodextrin sử dụng là 30% (tính theo hàm lượng chất khô), nhiệt độ không khí 160 - 180°C và lưu lượng phun 20 - 30 ml/phút. Bột màu thu được đã được phân tích một số chỉ tiêu chất lượng, kết quả là độ ẩm: 5,76 ± 0,08%, hàm lượng anthocyanin: 478,24 ± 3,07 mg/100 g, hàm lượng phenol tổng số: 33,80 ± 3,17 mg axit galic/g, tan hoàn toàn trong nước và không phát hiện kim loại nặng. Bột màu giàu anthocyanin từ dịch chiết khoai lang tím đã được nghiên cứu ứng dụng nhằm thay thế chất màu nhân tạo trong sản xuất kẹo dẻo. Kết quả kẹo dẻo có màu sắc đẹp tự nhiên, các chỉ tiêu chất lượng đạt tiêu chuẩn TCVN 5908: 2009, đồng thời anthocyanin ít bị tổn thất, không bị thay đổi về cấu trúc khi ứng dụng vào sản xuất kẹo dẻo và độ bền màu của anthocyanin trong thời gian bảo quản tương đối cao.
-
XÁC ĐỊNH MỘT SỐ TÍNH CHẤT CƠ HỌC, VẬT LÝ VÀ THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA THÂN CÂY BƯƠNG MỐC (Dendrocalamus velutinus)
Abstract : 1 PDF: 0Nghiên cứu này đã tiến hành xác định được một số tính chất cơ học, vật lý và thành phần hoá học của thân cây Bương mốc 3 tuổi. Kết quả cho thấy, về tính chất cơ học, vật lý: Khối lượng thể tích thân Bương mốc phần lóng đạt 0,68 - 0,81 g/cm3, phần đốt đạt 0,81 - 0,85 g/cm3. Độ co rút tiếp tuyến, xuyên tâm và thể tích phần lóng giảm dần từ gốc lên ngọn, phần đốt không có sự khác biệt lớn giữa các vị trí của cây. Độ co rút tiếp tuyến của lóng trong khoảng 6,26 - 10,02% và đốt 6,28 - 6,62%. Độ co rút xuyên tâm lóng từ 17,63 - 19,79%, đốt từ 3,87 - 4,01%. Độ co rút thể tích ở lóng 20,60 - 25,07% và ở đốt 10,39 - 10,67%. Độ bền nén dọc thớ trung bình phần lóng đạt 43,69 - 51,52 MP, phần đốt đạt 38,13 - 60,25 MPa. Độ bền uốn tĩnh chiều tiếp tuyến phần lóng đạt 124,43 - 222,37 MPa, phần đốt đạt 97,26 - 201,36 MPa; độ bền xuyên tâm ở lóng đạt 99,39 - 185,35 MPa, đốt đạt 77,61 - 179,54 MPa. Một số thành phần hoá học: Bương mốc là loài cây có sợi dài, chiều dài sợi trung bình 1.871,8 - 2.477,3 µm. Hàm lượng xenluloza trong thân cao 42,9 - 48,2%. Hàm lượng lignin chiếm 25,2 - 32,5%. Hàm lượng pentozan trung bình từ 17,2 - 18,2%. Hàm lượng các chất trích ly tan trong hỗn hợp cồn - benzen chiếm 2,9 - 4,4%. Hàm lượng các chất dễ phân hủy sinh học (các chất tan trong NaOH 1%) chiếm 12,6 - 19,8%. Hàm lượng các chất tan trong nước nóng 5,7 - 8,5%. Hàm lượng các chất tan trong nước lạnh 4,8 - 7,4%. Hàm lượng tro thấp 1,8 - 2,4%.
-
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC Ô NHIỄM NƯỚC THẢI TỪ CÁC NGUỒN THẢI CHÍNH TẠI TỈNH VĨNH LONG
Abstract : 1 PDF: 1Nước thải từ quá trình hoạt động của các cơ sở sản xuất công nghiệp, từ sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt thải ra nguồn tiếp nhận sông rạch, gây nguy cơ ô nhiễm môi trường nước mặt. Nghiên cứu nhằm nhận diện được các nguồn thải, nồng độ các chất ô nhiễm trong nước thải từng ngành nghề, từ đó có giải pháp kiểm soát hoạt động xả nước thải của các cơ sở sản xuất. Nghiên cứu được thực hiện tại tỉnh Vĩnh Long từ tháng 6/2021 đến tháng 3/2022. Kết quả phân tích mẫu nước thải được đánh giá với các Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về môi trường hiện hành. Kết quả nghiên cứu cho thấy, nước thải từ hệ thống xử lý nước thải tập trung, giết mổ gia súc vượt QCVN 40: 2011/BTNMT (cột A) với các thông số amoni, tổng nitơ; nước thải chế biến thuỷ sản có nồng độ COD, amoni, tổng nitơ và tổng phốt pho vượt QCVN 11-MT: 2015/BTNMT (cột A); nước thải y tế có nồng độ amoni, nitrat vượt QCVN 28: 2010/BTNMT (cột A); nước thải sinh hoạt có nồng độ BOD5, amoni vượt QCVN 14: 2008/BTNMT (cột A). Nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp khắc phục ô nhiễm do các nguồn thải chính gây ra (cụ thể đối với các cơ sở sản xuất đã có và chưa có hệ thống xử lý nước thải).
-
ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG SỬ DỤNG VÀ PHÁT THẢI NHỰA CÓ KHẢ NĂNG PHÂN HỦY SINH HỌC TẠI NỘI THÀNH THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Abstract : 1 PDF: 0Nghiên cứu này đã khảo sát hành vi tiêu dùng nhựa; tình trạng sử dụng nhựa ở siêu thị/cửa hàng tiện ích/cửa hàng bách hóa và tỷ lệ thành phần nhựa của 8 nguồn thải sinh hoạt khác nhau trong quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. Kết quả khảo sát cho thấy hành vi tiêu dùng nhựa của sinh viên ngành môi trường, Trường Đại học Cần Thơ khá cao, tuy có ý thức và sẵn sàng chi trả cho việc mua các sản phẩm nhựa sinh học để bảo vệ môi trường và sức khỏe, nhưng lựa chọn các sản phẩm nhựa sinh học còn rất thấp do giá đắt hoặc không được cung cấp miễn phí. Các hệ thống siêu thị đã và đang dùng các túi nhựa sinh học hoặc có khả năng phân hủy sinh học để chứa đựng các sản phẩm hàng hóa cho khách hàng, đáp ứng theo các chính sách, quyết định của các cơ quan chức năng. Tỷ lệ nhựa phân hủy sinh học có trong rác thải sinh hoạt rất nhỏ (3,23%), các loại nhựa thải bỏ phần lớn là nhựa sử dụng một lần (không phân hủy sinh học).
-
HIỆN TRẠNG NUÔI CÁ NHEO MỸ (Ictalurus punctatus) TRONG LỒNG TẠI MỘT SỐ VÙNG NUÔI TRỌNG ĐIỂM MIỀN BẮC
Abstract : 1 PDF: 1Trong những năm gần đây cá nheo mỹ (Ictalurus punctatus) đã trở thành loài nuôi quan trọng và mang lại hiệu quả kinh tế ở khu vực phía Bắc. Cá được nuôi trong lồng ở các con sông và hồ chứa lớn. Tuy nhiên, quy mô nuôi tăng nhanh đã gây ra nhiều khó khăn trong việc phát triển đối tượng nuôi này. Để nghề nuôi cá nheo mỹ phát triển bền vững, cần có các nghiên cứu về hiện trạng và các giải pháp để có những định hướng và xây dựng chính sách phù hợp trong tương lai. 167 cơ sở nuôi lồng cá nheo mỹ trên sông và hồ chứa tại 9 tỉnh khu vực phía Bắc đã được điều tra từ năm 2020 - 2021. Kết quả điều tra cho thấy, cá nheo mỹ nuôi trong lồng có xu hướng giảm cả về mật độ thả (xuống còn 13,7 con/m3 lồng), tỉ lệ sống (xuống còn 63,8%) và hiệu quả kinh tế (7.905.000 đồng/lồng/vụ nuôi) so với những năm trước đây. Các nguyên nhân chính là hiện tượng ô nhiễm môi trường và dịch bệnh trên cá nheo mỹ gây thiệt hại với người nuôi; hạn chế về nguồn nhân lực; khó kiểm soát chất lượng con giống; thị trường tiêu thụ bị ảnh hưởng nặng nề bởi dịch bệnh Covid-19 làm giá cá giảm mạnh (dưới 55.000 đồng/kg cá) vẫn khó tiêu thụ. Các giải pháp đưa ra là nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật cho cán bộ, người nuôi; hỗ trợ phát triển sản xuất chủ động con giống; xúc tiến thương mại, thúc đẩy liên kết sản xuất - tiêu thụ.
-
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN MỘT SỐ SẢN PHẨM TIỀM NĂNG THAM GIA CHƯƠNG TRÌNH OCOP TỈNH THÁI NGUYÊN
Abstract : 1 PDF: 1Nghiên cứu này đánh giá thực trạng và giải pháp phát triển một số sản phẩm tiềm năng tham gia đánh giá, phân hạng sản phẩm Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) của tỉnh Thái Nguyên. Thông tin được thu thập dựa trên bộ tiêu chí cho các nhóm sản phẩm theo Quyết định số 1048/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, phương pháp thống kê mô tả được sử dụng để phân tích các kết quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, đối với tiêu chí đánh giá về sản phẩm và sức mạnh cộng đồng có 93,10% sản phẩm đạt từ 18/35 điểm trở lên. Đối với các tiêu chí đánh giá khả năng tiếp cận thị trường có 31,03% sản phẩm đạt điểm tối thiểu 13/25 điểm. Đối với tiêu chí đánh giá chất lượng sản phẩm có 72,41% sản phẩm đạt từ 13/25 điểm trở lên. Trong số 29 sản phẩm được khảo sát, có 4 sản phẩm được đánh giá và phân loại ở mức 4 sao (13,79%), 12 sản phẩm là 3 sao (41,38%) và 13 sản phẩm là 2 sao (44,83%). Đối với các sản phẩm chưa đạt OCOP 3 sao, cần có một số giải pháp kịp thời từ cơ quan quản lý và chủ thể như sau: (1) Đối với cơ quan quản lý cần có chính sách hỗ trợ về bao bì, nhãn mác, hệ thống quản lý tiên tiến như VietGAP, ISO, HACCP; (2) Đối với chủ thể cần phải bổ sung thêm các minh chứng về hợp đồng đầu vào, đầu ra và cần xây dựng câu chuyện riêng cho mỗi sản phẩm.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA ĐA DẠNG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP ĐẾN THU NHẬP CỦA NÔNG HỘ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BÌNH TÂN, TỈNH VĨNH LONG
Abstract : 1 PDF: 1Thu nhập và cải thiện thu nhập nông hộ là vấn đề đã và đang được sự quan tâm của tổ chức chính quyền, đoàn thể cả nước và người dân vùng đồng bằng sông Cửu Long. Nghiên cứu nhằm phân tích ảnh hưởng của đa dạng sản xuất nông nghiệp đến thu nhập của nông hộ, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao thu nhập nông hộ tại huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long trong thời gian tới. Số liệu sử dụng gồm báo cáo của ngành nông nghiệp, niên giám thống kê của tỉnh/huyện qua các năm, các báo cáo khoa học có liên quan và số liệu sơ cấp từ việc điều tra trực tiếp 100 nông hộ tại địa bàn nghiên cứu. Phương pháp phân tích được áp dụng bao gồm: thống kê mô tả, phân tích chi phí và lợi nhuận nhằm đánh giá hiệu quả tài chính, mô hình hồi quy tuyến tính đa biến nhằm đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ. Kết quả nghiên cứu cho thấy, trình độ học vấn của chủ hộ còn thấp nhưng tuổi đời trung bình khá cao do đó nông hộ có kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh đó, nông hộ có chỉ số đa dạng cây trồng trung bình CDI= 0,56 và đa dạng thu nhập trung bình SID= 0,65 (thuộc nhóm đa dạng với tỷ trọng là 53% và 48%, tương ứng). Kết quả mô hình hồi quy tuyến tính đa biến đã xác định 8 yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ, trong đó 3 yếu tố đóng góp quan trọng là diện tích gieo trồng (63,7%), kinh nghiệm sản xuất (15,2%) và trình độ học vấn (11,8%). Nghiên cứu cũng đưa ra 3 nhóm giải pháp chính nhằm nâng cao thu nhập cho nông hộ tại huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long trong thời gian tới là: (1) giải pháp sản xuất, (2) giải pháp thị trường trong sản xuất nông nghiệp và (3) giải pháp nâng cao thu nhập trong lĩnh vực dịch vụ nông nghiệp và phi nông nghiệp.








