Số 11 (2022)

					Xem Số 11 (2022)
Đã Xuất bản: 15-06-2022

Bài viết

  • ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ CHỈ TIÊU NÔNG HỌC VÀ NĂNG SUẤT GIỐNG LÚA OM18 Ở 2 MẬT ĐỘ CẤY KHI SỬ DỤNG MÁY CẤY LÚA YANMAR TẠI HUYỆN VỊ THỦY, TỈNH HẬU GIANG

    Abstract : 0 PDF: 0
    Bùi Văn Hữu, Ngô Quang Hiếu, Trần Bá Linh, Quan Thị Ái Liên, Phạm Vũ Khương Duy, Trần Phạm Trúc Quỳnh
    3-10

    Sản xuất lúa ở đồng bằng sông Cửu Long đang từng bước được cơ giới hóa do lực lượng lao động ngày càng ít. Tuy nhiên, cơ giới hóa chỉ được áp dụng ở khâu làm đất và thu hoạch là chủ yếu, vì vậy việc sử dụng máy móc vào các khâu cấy lúa và bón phân là rất cần thiết. Nghiên cứu “Đánh giá một số chỉ tiêu nông học và năng suất giống lúa OM18 ở 2 mật độ cấy khi sử dụng máy cấy lúa Yanmar tại huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang” được thực hiện nhằm mục tiêu đánh giá sinh trưởng và năng suất giống lúa OM18 ở 2 mật độ cấy khi sử dụng máy cấy lúa Yanmar. Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 2 nghiệm thức là 2 mật độ cấy 30 x 12 cm và 25 x 14 cm với 3 lần lặp lại tại huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang vào vụ thu đông năm 2020. Tổng diện tích thí nghiệm khoảng 10 ha với mỗi lô thí nghiệm có diện tích 1,65 ha. Các chỉ tiêu nông học của lúa được đánh giá gồm: chiều cao cây, số chồi, chiều dài bông, số bông, số hạt chắc/bông, tỷ lệ hạt chắc, khối lượng 1.000 hạt, năng suất và hiệu quả tài chính. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các chỉ tiêu thành phần năng suất lúa (số chồi/m2, số bông/m2), năng suất lúa và hiệu quả kinh tế của mật độ cấy 25 x 14 cm cao hơn và khác biệt có ý nghĩa thống kê so với mật độ cấy 30 x 12 cm. Hiệu quả kinh tế khi sử dụng máy cấy Yanmar ở mật độ cấy 25 x 14 cm luôn cao hơn so với các mô hình cấy tay hoặc sạ tay truyền thống của nông dân.

    DOI: https://doi.org/10.71254/5nv6c054
  • THIẾT KẾ CẤU TRÚC CHỈNH SỬA GEN OsSWEET LIÊN QUAN ĐẾN BỆNH BẠC LÁ TRÊN LÚA TBR225

    Abstract : 0 PDF: 0
    Trần Lan Đài, Phùng Thị Thu Hương, Cao Lệ Quyên, Nguyễn Văn Cửu, Nguyễn Thị Thu Hà, Phạm Xuân Hội, Nguyễn Duy Phương
    11-18

    Bệnh bạc lá lúa do vi khuẩn Xanthomonas oryzae pv. oryzae (Xoo) gây ra những thiệt hại nghiêm trọng cho sản xuất lúa gạo của nhiều quốc gia châu Á và châu Phi. Trong quá trình xâm nhiễm vào cây chủ, Xoo tiết ra protein đặc biệt TAL (Transcription activator like effector); protein này liên kết với các yếu tố cis đặc trưng trên vùng promoter và hoạt hóa biểu hiện của một số gen trong hệ gen cây chủ để phục vụ cho quá trình sinh trưởng và lây nhiễm của vi khuẩn trong cây. Trong nghiên cứu này, đã nghiên cứu TALome của 3 isolate (chủng phân lập) Xoo đại diện của Việt Nam. Isolate VXO_11 mang gen tal mã hóa protein AvrXa7 và PthXo2B; trong khi VXO_60 và VXO_96 mang gen mã hóa TAL AvrXa7 và PthXo2A. Bốn trình tự crRNA (CRISPR RNA) đặc hiệu cho 2 vị trí DNA liên kết với TAL AvrXa7 và PthXo2A trên promoter OsSWEET13OsSWEET14 của giống lúa TBR225 đã được thiết kế bằng các công cụ tin sinh. Các crRNA đã được ghép nối vào vị trí BtgZI và BsaI trên vector trung gian pENTR4; toàn bộ cấu trúc biểu hiện sgRNA đã được chuyển vào vector pCas9 để tạo cấu trúc T-DNA biểu hiện phức hệ CRISPR/Cas9 (Clustered regularly interspaced short palindromic repeats/CRISPR associated protein 9) hoàn chỉnh gây đột biến đồng thời hai promoter OsSWEET13OsSWEET14 của lúa TBR225. Đây sẽ là tiền đề cho việc tạo giống lúa TBR225 mới kháng bệnh bạc lá phổ rộng bằng công nghệ CRIPSR/Cas9.

    DOI: https://doi.org/10.71254/7c14as41
  • ĐÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT KHÓM (Ananas comosus L.) VỤ GỐC TRÊN ĐẤT PHÈN TẠI THỊ TRẤN VĨNH VIỄN, HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG BẰNG QUẢN LÝ DƯỠNG CHẤT THEO ĐỊA ĐIỂM CHUYÊN BIỆT

    Abstract : 0 PDF: 1
    Mạch Khánh Nhi, Nguyễn Quốc Khương
    19-27

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định đáp ứng sinh trưởng, năng suất và chất lượng trái khóm vụ gốc đối với phân N, P, K, Ca và Mg dựa trên khả năng cung cấp dưỡng chất bản địa của đất phèn tại thị trấn Vĩnh Viễn, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Thí nghiệm được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên, với 8 nghiệm thức gồm: (i) Đối chứng: Không bón phân; (ii) NPKCaMg: Bón phân N, P, K, Ca và Mg; (iii) PKCaMg: Bón phân P, K, Ca và Mg; (iv) NKCaMg: Bón phân N, K, Ca và Mg; (v) NPCaMg: Bón phân N, P, Ca và Mg; (vi) NPKMg: Bón phân N, P, K và Mg; (vii) NPKCa: Bón phân N, P, K và Ca; (viii) FFP: Thực tế bón phân của nông dân, với 4 lần lặp lại. Kết quả cho thấy bón đầy đủ các dưỡng chất N, P, K, Ca và Mg giúp cải thiện sinh trưởng như chiều cao cây (90,0 cm), tổng số lá (86,8 lá), chiều dài lá D (88,5 cm), đường kính thân (5,01 cm) và chất lượng trái như độ Brix (11,4%) và vitamin C (127,6 mg/kg) cao hơn 12,1, 21,5, 12,2, 1,05 cm và 1,30%, 26,4 mg/kg so với nghiệm thức FFP, theo thứ tự. Năng suất khóm ở nghiệm thức NPKCaMg đạt 36,2 tấn/ha và cao hơn nghiệm thức FFP, chỉ 25,0 tấn/ha. Không bón N, P, K, Ca hoặc Mg dẫn đến giảm năng suất so với bón đầy đủ N, P, K, Ca và Mg.

    DOI: https://doi.org/10.71254/vtf8tz15
  • ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC QUẦN THỂ RAU SẮNG (Melientha suavis Pierre) TẠI CÙ LAO CHÀM, THÀNH PHỐ HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM

    Abstract : 0 PDF: 0
    Trần Minh Đức, Đinh Diễn, Nguyễn Hợi, Lê Thái Hùng, Trần Nam Thắng, Nguyễn Thị Thương, Văn Thị Yến, Phạm Thành, Nguyễn Phương Văn, Phan Công Sanh
    28-34

    Khảo sát về cấu trúc quần thể loài Rau sắng (Melientha suavis Pierre) được thực hiện trong rừng lá rộng thường xanh trên đảo Hòn Lao thuộc Khu Dự trữ Sinh quyển Thế giới Cù Lao Chàm – Hội An, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Kết quả cho thấy, tần suất xuất hiện của loài là 40,63%. Mật độ bình quân chung là 68 cây/ha và trong các lâm phần có loài phân bố là 93 cây/ha. Số lượng cá thể loài đứng ở vị trí thứ tư và chỉ số quan trọng (IVI) là 9,86, ở vị trí thứ sáu trong các loài cây gỗ được khảo sát. Tỷ lệ cây cái chiếm khoảng 61%. Số cá thể ở cấp chất lượng tốt và trung bình chiếm 80% trong quần thể. Hàm Mayer mô phỏng tốt cho quy luật phân bố thực nghiệm số cây theo đường kính (N-D), trong khi phân bố thực nghiệm số cây theo chiều cao (N-H) phù hợp với hàm khoảng cách. Dạng phân bố không gian của loài là phân bố lan truyền, thể hiện loài đang phát triển trong một môi trường ổn định. Có sự khác biệt rõ nét về thành phần loài cây gỗ ở hai nhóm đối tượng có và không có mặt loài Rau sắng trong các ô khảo sát. Trong đó, những nơi có Rau sắng thành phần loài cây gỗ kém phong phú hơn. Rau sắng cũng có xu hướng phân bố ở những lâm phần có mật độ cây gỗ thấp hơn mật độ bình quân chung của khu rừng.

    DOI: https://doi.org/10.71254/a0adqv86
  • TIỀM NĂNG KÝ SINH, GÂY BỆNH VÀ GÂY CHẾT SÂU CỦA TUYẾN TRÙNG Oscheius tipulae ĐƯỢC PHÂN LẬP TỪ ĐẤT RỪNG TRỒNG KEO TẠI TỈNH QUẢNG NAM

    Abstract : 1 PDF: 0
    Lê Thọ Sơn, Bùi Thị Mai Hương, Nguyễn Thị Hồng Gấm
    35-40

    Tuyến trùng ký sinh gây bệnh côn trùng (Entomopathogenic Nematode (EPN)) sống trong môi trường đất tự nhiên. Chúng có khả năng ký sinh gây bệnh, phát triển trong cơ thể sâu và giết chết sâu. Dựa vào tính chất đối kháng sinh học này, hai giống EPN (Steinernema và Heterorhabditis) được ứng dụng để tiêu diệt sâu hại cây trồng rộng rãi, tuy nhiên có những hạn chế trong hiệu quả kìm hãm sâu hại cây trồng vì mỗi chủng không hoặc ít phù hợp với điều kiện đồng ruộng và sâu cần tiêu diệt. Trong nghiên cứu này, 90 mẫu đất đã được thu trực tiếp từ những khu rừng trồng Keo tại tỉnh Quảng Nam. Sử dụng những mẫu đất thu được, đã phân lập 19 chủng tuyến trùng và dựa vào DNA barcode phân loại được 11 chủng thuộc loài Oscheius tipulae. Thử nghiệm khả năng giết chết sâu gạo (Zophobas morio) và sâu sáp (Galleria mellonella) của chủng O. tipulae CFB237 cho thấy, chủng này có khả năng gây chết sâu gạo và sâu sáp trong khoảng thời gian 24 giờ, có nghĩa có tiềm năng làm một EPN. Vì vậy, O. tipulae CFB237 và 10 chủng tuyến trùng khác cần được nghiên cứu thêm để có thể phát triển như một công cụ hạn chế sâu hại cây trồng trong tương lai.

    DOI: https://doi.org/10.71254/0n9mn091
  • NGHIÊN CỨU CHỌN LỌC MỘT SỐ GIỐNG, DÒNG TẰM LƯỠNG HỆ LÀM VẬT LIỆU LAI TẠO GIỐNG TẰM CHO VÙNG DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ

    Abstract : 0 PDF: 0
    Nguyễn Thị Thu
    41-46

    Để lai tạo ra giống tằm lưỡng hệ nuôi ở vùng duyên hải Nam Trung bộ, nơi có khí hậu nóng khô và nóng ẩm, đã thực hiện thí nghiệm đánh giá chọn lọc một số giống, dòng tằm lưỡng hệ trong tập đoàn để làm vật liệu lai tạo. 13 giống, dòng tằm được nuôi ở điều kiện nóng khô (32±1oC; < 75%), ở điều kiện nóng ẩm (32±1oC; >90%) và lây nhiễm bệnh virus BmNPV với nồng độ 105 tế bào/ml qua thức ăn. Kết quả đã lựa chọn được giống, dòng tằm chịu tốt với điều kiện nóng khô là: C2, QĐ9, GQ93, 932, B42, A2, QĐ7, A1, 810; giống, dòng tằm chịu tốt với điều kiện nóng ẩm là: C2, QĐ9, 932, GQ93, A2, QĐ7, A1, GQ73; giống, dòng tằm chống chịu tốt với bệnh virus BmNPV là: C2, QĐ9, GQ93, VN1, QĐ7.

    DOI: https://doi.org/10.71254/2g3xv066
  • NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KỸ THUẬT ẤP NHÂN TẠO TRỨNG CHIM YẾN TỔ TRẮNG (Aerodramus fuciphagus Thunberg, 1812) TẠI ĐẢO CÙ LAO CHÀM, TỈNH QUẢNG NAM

    Abstract : 0 PDF: 0
    Võ Tấn Phong, Ngô Xuân Tường, Đinh Thị Phương Anh
    47-52

    Tại Việt Nam thì Công ty Yến sào Khánh Hòa bước đầu thực hiện kỹ thuật ấp nở trứng chim yến và được xem như một bí quyết chuyên ngành. Kỹ thuật ấp trứng chim yến nhân tạo được xây dựng dựa trên cơ sở nghiên cứu các đặc tính sinh học sinh sản của chim yến kết hợp với nghiên cứu nguyên lý, quy trình ấp nở trứng của các loài chim và gia cầm đang được áp dụng hiện nay. Từ năm 2021, Ban Quản lý và Khai thác yến CLC, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam đã tiến hành nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật ấp nhân tạo trứng chim yến tổ trắng tại đảo CLC. Đã thu tại tổ tổng cộng 3.300 trứng, lựa chọn sơ bộ 2.000 trứng, vận chuyển về nhà ấp ở đất liền. Tiếp tục chọn ra 1.000 trứng có chất lượng tốt, được phân thành 2 nhóm cho vào ấp trong 2 máy ấp, một máy ấp 500 trứng có tuổi phôi dưới 10 ngày tuổi (trứng non), một máy ấp 500 trứng có tuổi phôi từ 10 ngày tuổi trở lên (trứng già). Kết quả thực hiện ấp trứng chim yến với số lượng 1.000 trứng trong 2 máy ấp cho thấy trứng sau 20 ngày ấp có phôi tốt ở cả 2 máy ấp là 922/1.000 trứng ấp (chiếm 92,2%), tỉ lệ nở trung bình trong 2 máy ấp là 855/1.000 trứng ấp (88,5%) và khối lượng chim non mới nở dao động từ 1,31 g đến 1,57 g, trung bình là 1,45 g.

    DOI: https://doi.org/10.71254/t23zp618
  • NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ BỆNH CARÊ TRÊN CHÓ TẠI THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ, TỈNH KIÊN GIANG

    Abstract : 2 PDF: 0
    Phạm Công Uẩn
    53-58

    Nghiên cứu được thực hiện  từ  tháng 01 năm 2021 đến tháng 12 năm 2021 tại thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang với 30 mẫu bệnh phẩm thu từ những chó nghi nhiễm bệnh Carê và được giám định virus bằng kỹ thuật RT-PCR cho kết quả dương tính 76,6%. Chó bị bệnh Carê có triệu chứng lâm sàng như ói mửa, sốt, bỏ ăn và nhịp tim, nhịp hô hấp tăng (100%), tiêu chảy phân có lẫn máu (78,2%), chảy dịch mắt, mũi (60,8%), gầy còm và có biểu hiện thần kinh (52,1%). Bệnh tích đại thể phát hiện ở nhiều cơ quan như viêm phế quản (90,9%), niêm mạc ruột viêm, xuất huyết (81,8%), phổi xuất huyết, xung huyết, tích dịch (54,5%), gan hoại tử (54,5%), lách sưng (36,3%) và dạ dày xuất huyết (27,2%). Chó bị bệnh Carê ở các lứa tuổi như giai đoạn nhỏ hơn 6 tháng tuổi (52,2%), từ 6-12 tháng tuổi (30,4%) và lớn hơn 12 tháng tuối (17,4%).

    DOI: https://doi.org/10.71254/6eyra534
  • NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO CHẾ PHẨM NHŨ TƯƠNG NANO TỪ TINH DẦU LÁ TRẦU KHÔNG (Piper betle L.) ỨNG DỤNG PHÒNG BỆNH HOẠI TỬ GAN TỤY CẤP TÍNH AHPND Ở TÔM

    Abstract : 0 PDF: 0
    Mai Thị Minh Ngọc, Nguyễn Thị Thu Hiền, Vũ Thị Bích Huyền, Bùi Thị Hải Hòa, Lê Minh Hải
    59-65

    Lá trầu không với hoạt tính kháng khuẩn mạnh đã được sử dụng rộng rãi để phòng bệnh cho con người và động vật nuôi. Nghiên cứu này thực hiện chế tạo chế phẩm nhũ tương nano tinh dầu lá trầu không để phòng bệnh hoại tử gan tụy cấp tính (Acute Hepatopancreatic Necrosis Disease: AHPND) ở tôm do vi khuẩn V. parahaemolyticus gây nên. Chế phẩm được tạo thành ở điều kiện tỷ lệ tinh dầu: chất hoạt động bề mặt: nước là 6: 12: 82, thời gian siêu âm 20 phút. Với lượng nhũ tương sử dụng hàng ngày là 150 ml/kg thức ăn, các chỉ tiêu miễn dịch tăng cao nhất, tương ứng là 62,91x106 tế bào/ml máu, 219,60 mg protein tổng số/ml huyết thanh, hiệu giá ngưng kết huyết thanh là 2-10. Đánh giá khả năng ức chế vi khuẩn V. parahaemolyticus bằng phương pháp khuếch tán trong thạch cho kết quả: nhũ tương nano tinh dầu lá trầu không tạo vùng ức chế có đường kính là 22,1-22,25 mm, tinh dầu tạo vùng ức chế là 17,6-18,1 mm. Thử nghiệm hiệu quả của nhũ tương nano cho thấy: Tỷ lệ sống sót của tôm gây nhiễm với các chủng vi khuẩn V. parahaemolyticus V.HOU.01, V.HOU.02, V.HOU.03 ở các bể sử dụng nhũ tương so với các bể đối chứng dương tăng tương ứng là 62-56%. Kết quả nghiên cứu bước đầu kết luận rằng nhũ tương nano tinh dầu lá trầu không không chỉ có tác dụng phòng bệnh do vi khuẩn V. parahaemolyticus gây nên mà còn kích thích tăng trưởng, tăng cường hiệu quả sử dụng thức ăn.

    DOI: https://doi.org/10.71254/5bzcja36
  • XÁC ĐỊNH HÀM LƯỢNG DIHYDROMYRICETIN TRONG CAO CHIẾT BẠCH LIỄM THU ĐƯỢC BẰNG PHƯƠNG PHÁP CHIẾT XUẤT VI SÓNG VÀ ỨNG DỤNG BÀO CHẾ TRÀ HÒA TAN HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ CHỨNG ĐAU DẠ DÀY

    Abstract : 0 PDF: 0
    Nguyễn Thị Thanh Mai, Nguyễn Viết Toan, Nguyễn Thị Hồng Hạnh
    66-71

    Trong nghiên cứu này, cao chiết Bạch liễm được chiết xuất bằng phương pháp vi sóng. Cao chiết này được sử dụng để xác định hàm lượng Dihydromyricetin – một hợp chất flavonoid chính trong cây Bạch liễm có tác dụng làm giảm tổn thương tế bào trong cơ thể do các gốc tự do gây ra, giảm quá trình oxy hóa, kháng khuẩn, kháng nấm, hỗ trợ đều trị bệnh đau dạ dày. Kết quả cho thấy, trong mẫu cao chiết có chứa hàm lượng Dihydromyricetin tương đối cao, khoảng 38,11%. Mẫu trà hòa tan được bào chế từ cây Bạch liễm và các thành phần Khương hoàng, Bồ công anh có hàm lượng Dihydromyricetin khoảng 29,69%; các chỉ tiêu độ ẩm, độ tro và hàm lượng kim loại nặng đều đạt quy định theo Quy chuẩn Việt Nam.

    DOI: https://doi.org/10.71254/mxjsvr65
  • HÀM LƯỢNG MỘT SỐ THÀNH PHẦN HOÁ HỌC TỪ CÂY TRÀ HOA VÀNG BA VÌ (Camellia tonkinensis (Pit.) Cohen - Stuart)

    Abstract : 0 PDF: 0
    Đặng Văn Hà, Nguyễn Trọng Cường, Lê Văn Quân, Hà Công Chiến, Trần Văn Xuân, Vũ Quang Nam, Vũ Văn Sơn
    72-76

    Chi Chè (Camellia L.) thuộc họ Chè (Theaceae) từ lâu đã rất thân thuộc với người dân của nhiều nước trên thế giới do có nhiều tác dụng chữa bệnh và được dùng phổ biến để làm đồ uống, thực phẩm chức năng. Đã có rất nhiều nghiên cứu cả ở trong nước và trên thế giới về chi Camellia, nhưng chưa có nghiên cứu về tách chiết các chất hoá học trong lá và hoa của loài Trà hoa vàng ba vì (Cammelia tonkinensis (Pit.) Cohen-Stuart) - một loài được tái phát hiện ở tỉnh Hoà Bình, Việt Nam sau 100 năm và được xếp vào mức nguy cấp - Endangered B1ab (iii) ver 3.1 theo Tiêu chuẩn của IUCN (2015). Kết quả nghiên cứu đã khẳng định được các mẫu vật thu được từ Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Hòa Bình là loài Trà hoa vàng ba vì (C. tonkinensis). Các đặc điểm hình thái của loài đã được mô tả, kèm theo hình ảnh minh chứng cành lá, hoa, thân và mẫu tiêu bản chuẩn (type specimen) của loài. Hàm lượng về các chỉ tiêu của Zn, Saponin tổng số và 17 axit amin trong hoa khô loài C. tonkinensis đã được phân tích và so sánh với loài Trà hoa vàng cúc phương (C. flava), theo đó các chỉ tiêu của loài nghiên cứu đều thấp hơn so với loài C. flava. Cần tiếp tục thu thêm mẫu hoa và lá (kể cả tươi và khô) và thống nhất các phương pháp thử của 2 phòng thí nghiệm để rút ra được kết quả thống nhất hơn trong các mẫu phân tích.  

    DOI: https://doi.org/10.71254/3mzmwz65
  • ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CHỐNG CHỊU MÔI TRƯỜNG ĐẤT TỰ NHIÊN CỦA GỖ ĐƯỢC XỬ LÝ BỞI KEO NHỰA THÔNG - ĐỒNG SUNPHAT

    Abstract : 0 PDF: 0
    Nguyễn Thị Thanh Hiền, Trần Nho Cương
    77-81

    Gỗ khi sử dụng ở điều kiện ngoài trời thường rất dễ bị các tác nhân sinh vật tấn công, đặc biệt là nấm mục và mối mọt. Để khắc phục nhược điểm này, gỗ không bền có thể được xử lý bằng các hợp chất bảo quản. Nhựa thông là một sản phẩm có nguồn gốc từ thiên nhiên, nó có đặc tính kỵ nước rất tốt và thân thiện với con người. Trong nghiên cứu này, gỗ Bồ đề (Styrax tonkinensis Pierre) và gỗ Keo lai (Acacia mangium x auriculiformis) đã được xử lý ngâm tẩm bởi hỗn hợp của 1%, 2% và 4% dung dịch keo nhựa thông với 3% đồng sunphat. Sau đó, tất cả các mẫu gỗ được phơi nhiễm ở môi trường tiếp xúc với bãi đất tự nhiên trong 12 tháng để đánh giá ảnh hưởng của việc xử lý bởi keo nhựa thông - đồng sunphat đến độ bền tự nhiên của gỗ. Kết quả nghiên cứu cho thấy, khả năng thẩm thấu của các công thức keo nhựa thông - đồng sunphat vào trong gỗ là tương đối đồng đều, tuy nhiên, gỗ Bồ đề thẩm thấu tốt hơn so với gỗ Keo lai. Sau 12 tháng đặt mẫu tại bãi thử tự nhiên, các mẫu gỗ không được xử lý có giá trị tổn hao khối lượng cao hơn và độ bền tự nhiên thấp hơn so với các mẫu gỗ được xử lý bởi dung dịch keo nhựa thông đơn lẻ hoặc kết hợp với đồng sunphat ở cả hai loại gỗ thử nghiệm. Nồng độ dung dịch keo nhựa thông sử dụng trong nghiên cứu này không ảnh hưởng đáng kể đến độ bền tự nhiên của gỗ. Gỗ sau khi được xử lý bảo quản bởi hỗn hợp của dung dịch keo nhựa thông - đồng sunphat đã có tác động nhất định đến khả năng cố định đồng trong gỗ và cải thiện đáng kể khả năng chống nấm mục cũng như mối mọt, vì vậy có thể kéo dài tuổi thọ của gỗ trong quá trình sử dụng. 

    DOI: https://doi.org/10.71254/gte32q26
  • ĐA DẠNG NGUỒN TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN BÌNH CHÂU - PHƯỚC BỬU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

    Abstract : 0 PDF: 0
    Cao Ngọc Giang, Ngô Thị Minh Huyền, Nguyễn Minh Hùng, Lê Đức Thanh, Nguyễn Xuân Trường, Lê Văn Khanh, Lê Văn Sơn, Trần Thị Liên
    82-91

    Kết quả điều tra đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên (BTTN) Bình Châu – Phước Bửu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã xác định được 745 loài thực vật có giá trị làm thuốc, thuộc 490 chi, 145 họ, 5 ngành thực vật bậc cao có mạch (Lycopodiophyta, Polypodiophyta, Cycadophyta, Gnetophyta và Magnoliophyta). Bổ sung cho danh lục cây thuốc tại Khu BTTN Bình Châu - Phước Bửu thêm 432 loài, 274 chi, 66 họ. Có 6 dạng sống chính của cây thuốc được ghi nhận (cây thân gỗ, cây bụi, dây leo, thân thảo, phụ sinh và ký sinh), nhóm cây thân thảo chiếm tỷ lệ cao nhất đến 35,03%). Trong 20 nhóm bệnh thì nhóm thuốc chữa bệnh ngoài da chiếm tỉ lệ cao nhất là 373 loài (chiếm 36,64%). Xác định được 35 loài cây thuốc là những cây thuốc quý hiếm thuộc diện bảo tồn trong Sách Đỏ Việt Nam (2007), Danh lục Đỏ Việt Nam (2007), Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam (2019) và Nghị định số 84/2021/NĐ-CP.

    DOI: https://doi.org/10.71254/vzbxdn10
  • CÁC LOẠI HÌNH LIÊN KẾT HỢP TÁC CỦA NÔNG HỘ TRỒNG DÂU - NUÔI TẰM TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN AN LÃO, TỈNH BÌNH ĐỊNH

    Abstract : 0 PDF: 0
    Lê Thị Hồng Phương, Nguyễn Hoàng Vũ
    92-101

    Nghiên cứu này nhằm đánh giá thực trạng liên kết hợp tác của nông hộ trồng dâu – nuôi tằm tại huyện An Lão, tỉnh Bình Định. Các thông tin được điều tra trên 60 nông hộ trồng dâu - nuôi tằm bằng bảng hỏi bán cấu trúc, thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu người am hiểu. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có hai loại hình liên kết chính là liên kết ngang giữa các nông hộ và liên kết dọc giữa các tác nhân trong chuỗi cung ứng trồng dâu -nuôi tằm và tiêu thụ kén tằm thông qua 4 kênh tiêu thụ sản phẩm. Các mối quan hệ liên kết còn lỏng lẻo, chủ yếu thỏa thuận bằng miệng, không qua hợp đồng xảy ra phổ biến. Để thúc đẩy mối quan hệ liên kết chặt chẽ và hiệu quả hơn, nghiên cứu đề xuất 4 giải pháp, đó là (1) sự vào cuộc của chính quyền địa phương; (2) nâng cao năng lực của HTX nông nghiệp để thực hiện các hoạt động dịch vụ cung cấp đầu vào và tiêu thụ sản phẩm cho các hộ; (3) các hộ trồng dâu, nuôi tằm cần liên kết ngang hợp tác thực hiện thống nhất quy trình kỹ thuật để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm; (4) tăng cường liên kết hợp tác với các công ty, doanh nghiệp để tranh thủ sự hỗ trợ đầu tư, kỹ thuật và nắm bắt thông tin thị trường kịp thời.

    DOI: https://doi.org/10.71254/em88yv71
  • GIẢI PHÁP NÂNG CAO KỸ NĂNG MỀM CỦA SINH VIÊN NGÀNH QUẢN TRỊ DỊCH VỤ DU LỊCH VÀ LỮ HÀNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

    Abstract : 0 PDF: 0
    Nguyễn Thùy Dung, Nguyễn Thị Phượng
    102-108

    Kết quả nghiên cứu dựa trên 103 mẫu điều tra sinh viên chỉ ra rằng, sinh viên rất quan tâm đến các kỹ năng mềm sẽ được đào tạo trong quá trình học tập; các kỹ năng mềm được lồng ghép trong các môn học cũng được sinh viên đánh giá cao như: kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng sử dụng ngoại ngữ. Những kỹ năng như xử lý tình huống, kỹ năng lãnh đạo, kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng lập kế hoạch và tổ chức công việc, kỹ năng làm chủ cảm xúc là những kỹ năng mà sinh viên còn rất hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đã đưa 4 nhóm giải pháp để nâng cao kỹ năng mềm cho sinh viên ngành Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành (QTDVDL & LH), Trường Đại học Lâm nghiệp, đó là: tạo môi trường rèn luyện kỹ năng mềm cho sinh viên; nâng cao ý thức rèn luyện kỹ năng mềm của sinh viên; đổi mới phương pháp giảng dạy kỹ năng mềm; thiết kế, tổ chức lớp học kỹ năng mềm hiệu quả.

    DOI: https://doi.org/10.71254/swtnsa69