Số 1 (2024)

					Xem Số 1 (2024)
Đã Xuất bản: 15-01-2024

Bài viết

  • Phân lập và đánh giá đa dạng di truyền của một số chủng giống vi khuẩn nội sinh trong cây khoai tây bằng chỉ thị RAPD và ISSR

    Abstract : 835 PDF: 169
    Đào Thị Hồng Vân, Nguyễn Đắc Tiến, Vương Thị Thiết, Thị Ngọc Anh Nguyễn, Đinh Trường Sơn
    3-13

    Đã phân lập và khảo sát ảnh hưởng của việc lây nhiễm 35 chủng giống vi sinh vật nội sinh phân lập từ rễ cây khoai tây lên sự nảy mầm của hạt rau cải, từ đó lựa chọn được 14 chủng giống vi sinh vật phục vụ phân tích sự đa dạng di truyền với 15 chỉ thị RAPD và 13 ISSR. Hai nhóm chỉ thị đã nhân bản được tổng số 323 locus, trong đó tỷ lệ các locus đa hình trung bình đạt 97,98% đối với chỉ thị RAPD và 98,56% đối với chỉ thị ISSR. 28 chỉ thị đã nhân bản được 1.969 sản phẩm PCR. 14 chủng giống vi sinh vật phân lập được có sự đa dạng di truyền dao động từ 0,34 - 0,96. Tại giá trị trung bình của hệ số tương đồng di truyền là 0,57; 14 chủng giống vi sinh vật có thể được phân thành 3 nhóm chính. Như vậy, sự đa dạng di truyền của 14 chủng giống vi sinh vật phân lập được là rất cao. Các chủng giống vi khuẩn có thể được sử dụng cho các nghiên cứu thử nghiệm trên cây khoai tây trong điều kiện in vitro cũng như ngoài nhà lưới hoặc đồng ruộng.

  • Đặc điểm nông học và khả năng thích ứng của các mẫu giống dưa thơm mới

    Abstract : 578 PDF: 104
    Nguyễn Trung Đức, Nguyễn Thị Nguyệt Anh, Phạm Quang Tuân, Phạm Thu Hằng, Phạm Xuân Hội, Hà Việt Sơn, Vũ Văn Liết
    14-23

    Nghiên cứu đánh giá đặc điểm nông học của 11 mẫu giống dưa thơm mới với hai giống đối chứng trong hai thời vụ: Vụ xuân và vụ hè thu năm 2023 tại thành phố Hà Nội nhằm tuyển chọn các giống triển vọng và bổ sung nguồn gen phục vụ thúc đẩy, phát triển sản xuất dưa lê, dưa lưới tại Việt Nam. Kết quả cho thấy, 11 giống dưa được chia thành 2 nhóm gồm nhóm dưa lê (DKS, DJA, DM1, DM3, DM4, DM5, DLAĐ) và nhóm dưa lưới (DRB, DM2, DM6, QUIC). Các mẫu giống dưa này đều có thể thích ứng với điều kiện khí hậu tại thành phố Hà Nội với thời gian thu quả của các giống dao động từ 60 - 75 ngày, khối lượng quả trung bình biến động trong khoảng 0,4 - 3,0 kg, năng suất quả thực thu dao động từ 30,0 - 60,0 tấn/ha và tổng lượng chất rắn hòa tan dao động trong khoảng 12,0 - 16,0oBrix. Kết quả chọn lọc qua hai vụ thí nghiệm dựa trên chỉ số chọn lọc kiểu gen đa tính trạng đã xác định được 2 mẫu giống triển vọng nhất gồm. DM4 (1 quả/cây, khối quả trung bình đạt 1,5 - 1,8 kg/quả, năng suất trung bình đạt 36,0 - 42,5 tấn/ha, chỉ số độ ngọt trung bình đạt 12,5 - 14,0oBrix) và DJA (3 quả/cây, khối lượng trung bình quả đạt 0,4 - 0,6 kg/quả, năng suất trung bình đạt 28,8 - 40,5 tấn/ha, chỉ số độ ngọt trung bình đạt 14,0 - 16,0oBrix).

  • Phát triển quy trình multiplex RT-PCR phát hiện Cymbidium Mosaic Virus (CymMV)Odontoglossum Ringspot Virus (ORSV) gây bệnh trên hoa lan

    Abstract : 568 PDF: 103
    Phạm Đức Toàn, Nguyễn Khánh Ngọc Hà, Bùi Cách Tuyến
    24-31

    Virus gây hại trên hoa lan là một trong những yếu tố chính dẫn đến thiệt hại kinh tế cho người trồng lan. Việc phát triển một quy trình để phát hiện sớm các virus gây hại là cần thiết để đưa ra định hướng xử lý ngăn ngừa sự lây lan. Mục đích của nghiên cứu này là phát triển quy trình multiplex RT-PCR để phát hiện nhanh đồng thời 2 virus CymMV và ORSV gây hại trên cây hoa lan. Kết quả tối ưu hóa quy trình multiplex RT-PCR cho thấy, với 30 chu kỳ lặp lại và nhiệt độ bắt cặp Tm của primer là 63°C là điều kiện tối ưu nhất, cho các sản phẩm PCR có chất lượng tốt nhất. Kết quả sử dụng quy trình multiplex RT-PCR trên 30 mẫu lan đã phát hiện 20 mẫu nhiễm CymMV, 4 mẫu nhiễm ORSV, trong đó có 4 mẫu nhiễm đồng thời CymMV và ORSV. Kết quả phát hiện virus từ quy trình multiplex RT-PCR tương đồng và hoàn toàn trùng khớp với kết quả phát hiện virus từ quy trình simplex RT-PCR. Quy trình multiplex RT-PCR có thể được sử dụng để phát hiện đồng thời 2 loại virus gây hại trên cây hoa lan, giúp giảm thời gian và chi phí phân tích.

  • Ảnh hưởng của nấm Trichoderma spp. đến hấp thu NPK và chất lượng trái khóm trồng trên đất phèn tại tỉnh Hậu Giang

    Abstract : 581 PDF: 126
    Lê Thị Mỹ Thu, Lý Ngọc Thanh Xuân, Trần Thị Hương Lan, Nguyễn Huỳnh Minh Anh, Nguyễn Quốc Khương
    32-45

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu đánh giá hiệu quả của các dòng nấm Trichoderma spp. đến hấp thu NPK và chất lượng trái khóm. Thí nghiệm được bố trí khối hoàn toàn ngẫu nhiên, gồm 6 nghiệm thức: (i) Đối chứng, bón theo nông dân, không bón phân hữu cơ vi sinh (PHCVS) và không phun nấm Trichoderma spp. phòng bệnh; (ii) Bón 100% phân hóa học theo khuyến cáo (KC) và PHCVS chứa nấm Trichoderma sp. Đại học Cần Thơ (ĐHCT); (iii) Bón 100% phân hóa học theo KC và bổ sung PHCVS thị trường (PHCVS - TT); (iv) Bón 50% N, P theo KC bổ sung PHCVS chứa hỗn hợp nấm Trichoderma spp. TC1, TC2, TC3 có khả năng phân hủy cellulose (PHCVS - PHC) và phun nấm Trichoderma spp. có khả năng đối kháng nấm Fusarium spp. (PNĐK); (v) Bón 75% N, P theo KC bổ sung PHCVS - PHC và PNĐK; (vi) Bón 100% N, P theo KC bổ sung PHCVS - PHC và PNĐK, với 4 lần lặp lại, mỗi lặp lại tương ứng với diện tích 150 m2. Kết quả cho thấy, bổ sung PHCVS - PHC và PNĐK kết hợp bón 50% N, P đạt tổng hấp thu N, P, K cao hơn nghiệm thức bón theo nông dân và tương đương với nghiệm thức bổ sung nấm Trichoderma sp. ĐHCT, dao động 175,9 - 191,6, 10,2 - 11,8 và 258,9 - 313,4 kg/ha, theo thứ tự. Bổ sung PHCVS - PHC và PNĐK kết hợp bón 50% N, P theo KC đạt tổng chất rắn hòa tan - TSS (oBrix) và hàm lượng vitamin C tương đương nghiệm thức bón phân theo nông dân và nghiệm thức bổ sung PHCVS - TT. Bổ sung PHCVS - PHC và PNĐK giúp giảm 50% N, P theo KC.

  • Nghiên cứu định danh Pediococcus sp. DH6.4 sinh tổng hợp Bacteriocin

    Abstract : 581 PDF: 84
    Nguyễn Thị Lâm Đoàn, Đặng Thảo Yến Linh
    46-56

    Bacteriocin được sinh tổng hợp bởi vi khuẩn lactic là chất kháng khuẩn an toàn, không gây dị ứng và không gây hại cho sức khỏe con người, được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau như công nghệ thực phẩm, nông nghiệp, y tế… Chính vì vậy, nghiên cứu thực hiện với mục tiêu xác định một số đặc điểm hình thái, sinh hóa và phân tích trình tự gen pheS của chủng Pedioccocus sp. DH6.4. Kết quả cho thấy, chủng DH6.4 thuộc loài Pediococcus acidilacticiPediococcus acidilactici DH6.4 có khả năng sinh chất kháng khuẩn có bản chất là bacteriocin thể hiện hoạt tính kháng mạnh Lactobacillus plantarum, Bacillus cereusListeria monocytogenesSalmonella typhimurium với đường kính vòng kháng khuẩn từ 11,41 - 17,30 mm. Nghiên cứu đã xác định nhiệt độ và pH nuôi cấy tối ưu Pediococcus acidilactici DH6.4 để thu hoạt tính bacterocin cao nhất là 300C, pHbđ = 7. Chủng này có thể ứng dụng trực tiếp hoặc tách chất kháng khuẩn bacteriocin để ứng dụng trong bảo quản và chế biến thực phẩm.

  • Ảnh hưởng của nhiệt độ và thời gian đến hiệu quả trích ly và chất lượng dầu bơ Hass (Persea americana)

    Abstract : 980 PDF: 165
    Nguyễn Thanh Trúc, Huỳnh Thị Hoa, Cao Thị Cẩm Tiên, Nguyễn Thị Thùy Dung, Nguyễn Thị Vân Linh
    57-65

    Dầu bơ là một sản phẩm có giá trị dinh dưỡng và giá trị sử dụng cao nhưng hiện chưa được thương mại rộng rãi. Trong nghiên cứu này đã thực hiện khảo sát ảnh hưởng của quá trình trích ly dầu bơ bằng dung môi hexane. Thí nghiệm được quy hoạch toàn phần với hai nhân tố gồm thời gian và nhiệt độ trích ly với ba mức khảo sát. Các chỉ tiêu đánh giá bao gồm hiệu suất thu hồi chất béo, chỉ số AV và PV. Kết quả cho thấy, sự gia tăng nhiệt độ và thời gian trích ly sẽ làm tăng hiệu suất thu hồi chất béo và chỉ số AV, PV. Tuy nhiên, nhiệt độ trích ly quá cao sẽ làm giảm hiệu suất thu hồi và chỉ số PV. Điều kiện trích ly tối ưu được xác định ở khoảng nhiệt độ từ 64.102 - 66.426oC trong 30 phút sẽ thu được hồi được 91,247 - 91,465% chất béo với chỉ số AV, PV đạt yêu cầu chất lượng của dầu thương mại. Kết quả đã cho thấy, tiềm năng cao trong sản xuất thương mại dầu bơ.

  • Nghiên cứu xây dựng quy trình chế biến mứt từ vỏ chanh leo

    Abstract : 1596 PDF: 539
    Nguyễn Văn Lợi, Lê Anh Tuấn, Nguyễn Thị Thanh Ngọc
    66-78

    Mứt là một loại thực phẩm ngọt được chế biến từ trái cây và một số loại củ nấu với đường và các nguyên liệu phụ khác cho đến độ khô từ 65 - 70%. Mứt vỏ chanh leo là sản phẩm được chế biến từ vỏ quả chanh leo với đường và một số phụ gia thực phẩm. Vỏ chanh leo có chứa nhiều pectin và các thành phần dinh dưỡng khác cũng là nguyên liệu quan trọng cho chế biến mứt. Mục đích của nghiên cứu này là xây dựng quy trình chế biến mứt từ vỏ chanh leo, thí nghiệm được bố trí theo 5 công thức và phân tích chỉ tiêu dinh dưỡng, vi sinh và cảm quan của sản phẩm mứt vỏ chanh leo ở 5 công thức. Từ đó, chọn được công thức CT-C (vỏ chanh leo 200 g, dịch chanh leo 30 ml, nước lọc 86 ml, nước cốt chanh 4 ml và đường trắng 45 g) để xây dựng quy trình chế biến sản phẩm mứt. Đồng thời, xác định được các thông số kỹ thuật của quy trình chế biến mứt vỏ chanh leo là gia nhiệt ở nhiệt độ 80oC với thời gian 90 phút, tỷ lệ nguyên liệu/thể tích thiết bị là 0,4 kg/l. Sản phẩm chế biến theo công thức trên có đường tổng số 45,12%, pectin 0,56%, vitamin C 8,35 mg/100 g, vitamin A 0,05 mg/100 g, protein tổng số 4,65%, canxi 812 mg/100 g, phốt pho 0,33 mg/100 g, kali 6.003 mg/100 g, natri 253 mg/100 g, có màu hồng nhạt, có các hạt đường bám đều trên bề mặt, mùi thơm đặc trưng hài hòa, vị ngọt hài hòa, trạng thái rắn, không bị ướt và cấu trúc dòn.

  • Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản của cá măng (Elopichthys bambusa Richarson, 1844) trong điều kiện nuôi giữ

    Abstract : 692 PDF: 79
    Nguyễn Hải Sơn, Võ Văn Bình, Đặng Thị Lụa
    79-89

    Nghiên cứu về đặc điểm sinh học sinh sản của cá măng (Elopichthys bambusa Richardson, 1845) trong điều kiện nuôi giữ được thực hiện từ tháng 1 - 12/2021. 120 cá thể (60 cá thể cái, 60 cá thể đực), khối lượng từ 2,4 - 5,2 kg/con, độ tuổi từ 2+ - 5+ được sử dụng cho nghiên cứu. Cá thí nghiệm được chia thành 4 nhóm kích cỡ có độ tuổi khác nhau (tuổi 2+, tuổi 3+, tuổi 4+ và tuổi 5+), mỗi nhóm (30 cá thể, tỷ lệ đực:cái = 1:1) được nuôi chung trong 1 ao rộng 500 m2. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có thể phân biệt cá đực và cá cái thông qua một số đặc điểm hình thái bên ngoài (vây ngực, vây đuôi), nhưng đặc điểm khác biệt này chỉ tồn tại trong thời gian cá tham gia sinh sản. Trong điều kiện nuôi nhốt, cá cái thành thục lần đầu ở độ tuổi 4+, cá đực thành thục ở tuổi 3+, cá sinh sản 1 lần/năm, mùa vụ sinh sản từ tháng 4 - 6, tập trung chủ yếu vào tháng 5. Sức sinh sản trung bình tuyệt đối của cá từ 30.192 - 83.688 trứng/cá cái với khối lượng trung bình của cá từ 3.287 ± 129,6 - 4.998,6 ± 146,3 g/con. Sức sinh sản tương đối dao động 9,1 - 16,7 trứng/g cá cái. Kết quả này là cơ sở rất quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiến hành các thử nghiệm sản xuất giống nhân tạo cá măng.

  • Hiện trạng và một số giải pháp phát triển bền vững nghề nuôi cá lồng tại hồ Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình

    Abstract : 653 PDF: 85
    Kim Minh Anh, Vũ Đức Mạnh, Vũ Tuấn Anh, Nguyễn Thị Hạnh Tiên, Nguyễn Thị Thu Hiền, Hoàng Thị Thu Hương, Kim Văn Vạn
    90-100

    Bài báo cung cấp hiện trạng nuôi cá lồng tại hồ Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình trên cơ sở phương pháp điều tra khảo sát thực tiễn của 60 cơ sở nuôi cá với 811 lồng trong thời gian từ tháng 10/2022 đến tháng 7/2023. Kết quả cho thấy, hầu hết các cơ sở nuôi cá lồng ở khu vực điều tra đều ở quy mô hộ gia đình (chiếm 86,7%), phổ biến là nuôi các loài thủy đặc sản giá trị cao, ngoài ra một số cơ sở kết hợp phát triển du lịch sinh thái để tăng thêm thu nhập. Về nguồn gốc cá giống: Chủ yếu thu gom đánh bắt từ tự nhiên, chưa chủ động sản xuất được con giống một số loài cá. Tỉ lệ lồng bỏ trống chiếm 23,7% do cơ sở nuôi vận hành lồng không hiệu quả hoặc đang chuẩn bị cho vụ nuôi mới. Hầu hết các cơ sở nuôi sử dụng lồng lưới khung kim loại có kích thước 6 x 6 x 3 m, lồng nuôi công nghệ cao đã bắt đầu xuất hiện. Đa số cơ sở được điều tra thường kết hợp thức ăn viên và cá tạp. Chất lượng cá thương phẩm nuôi lồng trên hồ Hòa Bình được đánh giá cao tuy nhiên tiêu thụ sản phẩm còn khó khăn. Một số giải pháp bao gồm: Giám sát sự phát triển lồng nuôi trong vùng quy hoạch, thực hiện quy định về thuốc hóa chất, nâng cao trình độ chuyên môn người nuôi, đầu tư sản xuất giống và quản lý môi trường vùng nuôi và tăng cường liên kết sản xuất - tiêu thụ.