HIỆN TRẠNG QUẦN THỂ VÀ SINH CẢNH SỐNG CỦA CÁC LOÀI THÚ ĂN THỊT NHỎ VÀO MÙA HÈ Ở KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN PÙ HOẠT, XÃ THÔNG THỤ HUYỆN QUẾ PHONG, TỈNH NGHỆ AN
DOI:
https://doi.org/10.71254/sn1dey70Abstract
The study on small carnivoresand their habitats were conducted from May 2020 to August 2020 in Thong Thu commune - Pu Hoat Nature Reserve, funded by Nghe An province. By using the statistical methods to determining population density and selectivity indices and the Principal Component Analysis (PCA), the study characterized the community ecology of small carnivores of Pu Hoat Nature Reserve. We found eight small carnivore species, of which the population density of Aonyx cinerea was the highest (0.17 individuals/ha); the lowest density was seen in the species Prionodon pardicolor (0.01 individuals/ha). In summer, the level of disturbance of habitats is the most important factor influencing the habitat selection of small carnivores, followed by the abundance of food and the safety of habitats. The small carnivores were found mainly in the subtropical evergreen forest type with the tree’s canopy more than 0.4 and shrub’s canopy less than 60% and found in areas located more than 1,500 m from a residential area and within 200 m from a source of potable water. Finally, the selected habitats of small carnivores had a slope of more than 45o, located at the exposure of the southeast sun and the foot of mountains. Based on the initial results, we provided recommendations to conserving small carnivoresas well as their habitats in Pu Hoat Nature Reserve.
Keywords:
Ecological factors, Pu Hoat Nature Reserve, principal component analysis, small carnivores, suitable habitats.Tóm tắt
Với sự tài trợ kinh phí của dự án sự nghiệp môi trường tỉnh Nghệ An, các loài thú ăn thịt nhỏ và nơi cư trú của chúng tại xã Thông Thụ- Khu Bảo tồn Thiên nhiên (BTTN) Pù Hoạt đã được điều tra từ tháng 5 đến tháng 8 năm 2020. Thông qua phương pháp thống kê tính mật độ quần thể, tính chỉ số lựa chọn Lechowicz và vận dụng phương pháp phân tích thành phần chính đã tiến hành nghiên cứu đặc trưng sinh thái học quần thể của các loài thú ăn thịt nhỏ tại đây. Kết quả cho thấy: trong 8 loài thú ăn thịt nhỏ ghi nhận được tại khu vực nghiên cứu thì mật độ quần thể của loài Rái cá vuốt bé là cao nhất (0,17 cá thể/ha) và thấp nhất là của loài Cầy gấm (0,01 cá thể/ha). Mức độ yên tĩnh- kín đáo của nơi cư trú là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến tập tính lựa chọn sinh cảnh sống của thú ăn thịt nhỏ, tiếp đến mới là độ phong phú của nguồn thức ăn và độ an toàn của sinh cảnh. Các loài thú ăn thịt nhỏ ưa thích kiểu rừng kín thường xanh ẩm á nhiệt đới với mật độ cây gỗ và cây bụi thấp, nơi có độ tàn che lớn hơn 0,4 và độ che phủ nhỏ hơn 60%, nơi cách xa khu dân cư hơn 1.500 m đồng thời có thể tiếp cận nguồn nước trong phạm vi 200 m; thú tập trung sống ở vùng địa hình dốc trên 450, chân quả núi và hướng phơi Đông Nam. Trên cơ sở những kết quả đạt được, nghiên cứu đã định hướng một số giải pháp quản lý các loài thú ăn thịt nhỏ và sinh cảnh sống của chúng tại khu vực nghiên cứu.








