Số 19 (2024)

					Xem Số 19 (2024)
Đã Xuất bản: 15-10-2024

Bài viết

  • Đánh giá hiệu quả kinh tế và giảm phát thải khí nhà kính của mô hình sản xuất lúa hữu cơ theo hướng nông nghiệp tuần hoàn tại tỉnh Sóc Trăng

    Abstract : 654 PDF: 0
    Bùi Thị Phương Loan, Đinh Quang Hiếu, Mai Văn Trịnh, Vũ Thị Hằng, Đặng Thị Phương Lan, Nguyễn Thanh Hải, Vũ Việt Hà, Vũ Đình Nguyễn
    3-12

    Nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả kinh tế và giảm phát thải khí nhà kính (KNK) của mô hình sản xuất lúa hữu cơ theo hướng nông nghiệp tuần hoàn tại khu vực đất lúa bị nhiễm mặn nhẹ, xã Long Đức, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mô hình sản xuất lúa hữu cơ theo hướng nông nghiệp tuần hoàn cho lợi nhuận trung bình đạt 92,3 triệu đồng/ha/năm, cao gấp 1,24 lần so với mô hình truyền thống. Nguyên nhân dẫn đến mức lợi nhuận của mô hình hữu cơ cao hơn so với mô hình truyền thống là do năng suất tăng 1,4% và giá bán lúa hữu cơ cao hơn 35% so với lúa sản xuất thông thường. Mặc dù vậy, do chi phí đầu vào lớn hơn so với mô hình truyền thống nên hiệu quả thấp hơn so với mô hình truyền thống, chỉ tiêu lợi nhuận/tổng chi phí của mô hình hữu cơ đạt 1,55 lần, thấp hơn so với mức 2,04 lần của mô hình truyền thống. Hiệu quả giảm phát thải KNK của mô hình sản xuất lúa hữu cơ theo hướng nông nghiệp tuần hoàn so với mô hình sản xuất lúa truyền thống là rất rõ rệt. Cụ thể, mô hình hữu cơ có tổng phát thải KNK đạt 11,8 tấn CO2tđ/ha/năm, thấp hơn 12,8 tấn CO2tđ so với mô hình truyền thống, tương ứng với hiệu quả cắt giảm lên tới 52%.

    DOI: https://doi.org/10.71254/jspka786
  • Nhân dòng và giải trình tự một số gen tham gia vào quá trình tạo cơ và mỡ ở bò vàng Việt Nam

    Abstract : 411 PDF: 0
    Đào Văn Cường, Phạm Diệu Thùy, Dương Thị Hồng Duyên, Nguyễn Quang Tính, Từ Trung Kiên, Lưu Hồng Sơn, Nguyễn Thị Thanh Hà, Nguyễn Thanh Hải, Nguyễn Ngọc Lương
    62-70

    Tế bào gốc vệ tinh (satellite stem cell) đóng vai trò quan trọng trong quá trình duy trì và tái tạo cơ. Là một loại tế bào gốc thuộc nhóm trung mô, chúng có thể biệt hoá thành tế bào tiền thân của tế bào cơ, tiền thân tế bào sợi và tế bào mỡ. Ngày nay, với việc thịt bò Wagyu trở nên rất phổ biến trên thế giới cũng như tại Việt Nam, thịt bò có tỉ lệ mỡ giắt cao ngày càng được ưa chuộng. Tuy giống bò vàng Việt Nam được nuôi để lấy thịt, khả năng cho thịt cũng như tỉ lệ mỡ giắt của bò vàng còn chưa tối ưu. Nhằm đặt nền móng cho việc nghiên cứu sâu về cơ chế cho thịt cũng như tạo mỡ giắt ở giống bò vàng Việt Nam để cải thiện chất lượng thịt bò vàng thông qua lai giống, nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật Long-Range PCR nhằm tạo dòng và giải trình tự các gen tham gia vào quá trình phát triển cơ và tạo mỡ giắt, gồm các gen Pax3, Pax7, Mrf4, Myf5,Myod1, MyMyog và PPARƴ.  Bài viết này trình bày kết quả tạo dòng, giải trình tự bằng phương pháp Sanger và phân tích đa hình 7 gen mã hoá protein liên quan đến quá trình phát triển cơ cũng như kiểm soát tỉ lệ mỡ giắt của giống bò vàng Việt Nam, sử dụng nguyên liệu là tế bào gốc vệ tinh nuôi cấy in vitro.

    DOI: https://doi.org/10.71254/wsy5df12
  • Nghiên cứu trích ly pectin, polyphenol từ thịt, vỏ quả cà phê ứng dụng làm mứt đông

    Abstract : 856 PDF: 0
    Trần Thị Thu Trà, Tôn Nữ Minh Nguyệt
    71-81

    Thịt và vỏ quả cà phê là phụ phẩm của quá trình chế biến cà phê thóc theo phương pháp ướt. Phụ phẩm này chứa nhiều hợp chất sinh học rất tốt cho sức khỏe con người. Tuy nhiên, các phụ phẩm này thường chỉ được tận dụng làm phân bón, nhiên liệu đốt, hoặc làm cơ chất trong nuôi trồng nấm. Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu xác định các điều kiện tối ưu để trích ly pectin và các hợp chất polyphenol với sự hỗ trợ của enzyme cellulase từ phụ phẩm thịt và vỏ quả cà phê. Nguyên liệu (NL) sử dụng là thịt và vỏ quả của hai giống cà phê là cà phê chè và cà phê vối. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình trích ly đã được khảo sát bao gồm: Hàm lượng enzyme cellulase (từ 0 - 800 U/g NL), pH của dung dịch (từ 4,0 – 5,7), nhiệt độ trích ly (từ 40 - 600C), tỷ lệ dung môi với NL (mL/g từ 4: 1 - 12: 1), thời gian trích ly (từ 30 - 90 phút). Kết quả cho thấy, với điều kiện nhiệt độ 550C, pH 5,0, tỷ lệ dung môi và NL (mL/g) là  8: 1, thời gian 75 phút, quá trình trích ly pectin đạt hiệu quả cao nhất. Ở điều kiện này, trong 1 lít dịch trích ly thu  được từ cà phê vối chứa 17,91 ± 0,33 g chất khô hòa tan, 1,70 ± 0,01 g pectin, 7,11 ± 0,14 g GAE. Đối với cà phê chè, các giá trị này lần lượt là: 9,77 ± 0,07 g chất khô hòa tan, 1,61 ± 0,03 g pectin, 0,53 ± 0,02 g GAE. Dịch trích ly sau đó được lọc, cô đặc, điều chỉnh với axit citric và đường để đạt pH 3,0 và nồng độ chất khô 65%, thanh trùng và đóng chai để tạo thành mứt đông. Mặc dù sản phẩm thu được có cấu trúc tương tự như mứt đông thương mại, nhưng vẫn còn tồn tại vị chát, đòi hỏi cần cải thiện thêm trong quá trình phát triển sản phẩm.

    DOI: https://doi.org/10.71254/wagpt613
  • Ảnh hưởng của protein trong thức ăn đến tăng trưởng, tỷ lệ sống và hiệu quả sử dụng thức ăn của cá bỗng (Spinibarbus denticulatus Oshima, 1926) giai đoạn cá giống lớn

    Abstract : 585 PDF: 0
    Lê Minh Hải, Tạ Thị Bình, Ngô Việt Phú, Nguyễn Đình Quân, Hồ Thị Dung, Hồ Văn Khoa
    82-89

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu đánh giá ảnh hưởng của protein trong thức ăn đến tỷ lệ sống, tăng trưởng và hiệu quả chuyển đổi thức ăn của cá bỗng (Spinibarbus denticulatus Oshima, 1926) giai đoạn giống lớn. Thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên với 3 nghiệm thức protein: 28%, 30%, 32%, mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần. Cá bỗng cỡ 20 ± 1,46 g được ương trong giai có kích thước 2,0 x 1,0 x 1,5 m với mật độ 100 con/m2 trong thời gian 60 ngày. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ sống của cá không bị ảnh hưởng bởi hàm lượng protein trong thức ăn. Tốc độ tăng trưởng hàng ngày của cá nhanh nhất ở nghiệm thức thức ăn chứa 32% protein và khác biệt có ý nghĩa giữa các nghiệm thức (P < 0,05). Ngoài ra, chỉ số FCR đạt thấp nhất ở nghiệm thức thức ăn mức protein 32%. Bên cạnh đó, hiệu quả sử dụng protein cũng đạt cao nhất ở nghiệm thức cá ăn thức ăn mức protein 32%. Như vậy, ương cá lóc giai đoạn cá 10 - 40 ngày tuổi thì thức ăn chứa 32% protein là thích hợp nhất. Do vậy, ương cá bỗng giai đoạn cá giống lớn thì thức ăn chứa 32% protein là thích hợp nhất.

    DOI: https://doi.org/10.71254/pxqz5492
  • Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng của cây Cóc đỏ (Lumnitzera littorea (Jack) Voigt. 1845) giai đoạn vườn ươm tại Khu Dự trữ sinh quyển Rừng ngập mặn Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh

    Abstract : 529 PDF: 0
    Đặng Ngọc Hiệp, Huỳnh Đức Hoàn, Bùi Nguyễn Thế Kiệt, Phạm Thanh Hải
    90-100

    Loài Cóc đỏ (Lumnitzera littorea (Jack) Voigt. 1845) là một trong 35 loài cây ngập mặn hiện diện tại hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ. Thí nghiệm tháng 12 năm 2023 đến tháng 6 năm 2024 với 2 công thức thí nghiệm (bố trí 5 nghiệm thức/công thức), mỗi nghiệm thức gồm 90 cây Cóc đỏ theo 4 chế độ bón thúc khác nhau để đánh giá ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng của cây Cóc đỏ 3 tháng tuổi. Kết quả cây Cóc đỏ ươm theo CT I có HvnTB là 12,01 ± 2,48 cm, DoTB là 3,26 ± 0,87 mm và cây Cóc đỏ ươm theo CT II có HvnTB là 13,54 ± 4,35 cm, DoTB là 3,60 ± 1,28 mm. Nghiệm thức cho sinh trưởng tốt nhất là NT 1 giá thể hỗn hợp (HvnTB = 15,10 ± 4,99 cm, DoTB = 3,85 ± 1,25 mm). Số lượng cây Cóc đỏ còn sống là 784 cây (tỷ lệ sống ở CT I là 87,3% và CT II là 86,9%), chỉ có cây Cóc đỏ loại I và II. Cây Cóc đỏ tăng trưởng chậm, tỷ lệ chết tự nhiên cao (trung bình 12,8%).

    DOI: https://doi.org/10.71254/xz35v548
  • Đánh giá thực trạng và lựa chọn cây dược liệu tiềm năng tại tỉnh Lào Cai: Một phân tích đa tiêu chí

    Abstract : 462 PDF: 0
    Đỗ Văn Hải, Hoàng Văn Hùng, Đàm Thị Hạnh¬
    13-22

    Cây dược liệu đóng vai trò quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của nhân loại, ở các quốc gia đang phát triển, cây dược liệu góp phần cải thiện sinh kế, phát triển kinh tế - xã hội. Nghiên cứu này thực hiện tại tỉnh Lào Cai, sử dụng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA), đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA), kết hợp phân tích đa tiêu chí (sử dụng kỹ thuật phân tích thứ bậc) để phân tích 4 nhóm tiêu chí hướng tới mục tiêu xác định cây dược liệu tiềm năng tại tỉnh Lào Cai. Kết quả nghiên cứu cho thấy, giai đoạn 2012 - 2022 không chỉ gia tăng về diện tích đất trồng dược liệu từ 375,6 ha lên 3.550,0 ha, mà còn điều chỉnh cơ cấu giữa các loại cây dược liệu. Kết quả phân tích thứ bậc (AHP) cho thấy, "kinh tế - hạ tầng" là tiêu chí quan trọng khi lựa chọn cây dược liệu với trọng số 0,558, tiêu chí "xã hội", "điều kiện tự nhiên", "môi trường" có trọng số ảnh hưởng tới quyết định lựa chọn cây dược liệu, lần lượt là 0,263; 0,122; 0,057. Tổng hợp trọng số các tiêu chí xác định 5/10 cây dược liệu: Cát cánh, tam thất, đương quy, actiso và xuyên khung được khuyến nghị là cây dược liệu tiềm năng nhất, cần ưu tiên phát triển trong thời gian tới.

    DOI: https://doi.org/10.71254/a9kaz306
  • Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại dung dịch dưỡng hữu cơ phun qua lá đến sinh trưởng và năng suất cây rau xà lách trong hệ thống kết hợp nuôi cá - trồng rau (Aquaponics) tại tỉnh Lào Cai

    Abstract : 829 PDF: 0
    Bàn Văn Kiên, Nguyễn Thị Ngọc Dinh, Lục Quang Tấn, Đỗ Thị Hường, Hoàng Công Mệnh
    23-31

    Hệ thống nuôi cá - trồng rau (aquaponics) là giải pháp giúp sản xuất rau an toàn, tiết kiệm dinh dưỡng và nước tưới. T: Đối chứng: phun nước lã; phun dung dịch dinh dưỡng hữu cơ Soymic V; phun dung dịch dinh dưỡng hữu cơ Super Hume, với nồng độ khuyến cáo cho rau ăn lá là 1% với 3 lần nhắc lại nhằm đánh giá ảnh hưởng của các loại dung dịch dinh dưỡng hữu cơ bổ sung qua lá đến sinh trưởng, sinh lý, năng suất và chất lượng của cây rau xà lách trong vụ thu và vụ đông 2022 tại tỉnh Lào Cai. Các kết quả nghiên cứu cho thấy, việc bổ sung dung dịch dinh dưỡng hữu cơ phun lên lá của rau xà lách làm tăng các chỉ tiêu sinh trưởng, sinh lý và năng suất so với đối chứng phun nước lã. Trong hệ thống aquaponics, bổ sung dung dịch dinh dưỡng hữu cơ qua lá Soymic V cho các chỉ tiêu sinh trưởng, sinh lý và năng suất của rau xà lách cao nhất trong cả 2 vụ, có ý nghĩa so với các công thức còn lại. Bổ sung dung dịch dinh dưỡng hữu cơ qua lá Soymic V đã làm tăng năng suất thực thu của rau xà lách là 38,18% và 11,25% trong vụ thu và vụ đông tương ứng so với đối chứng phun nước lã. Vì thế, trồng rau xà lách trong hệ thống aquapoincs nên bổ sung dung dịch dinh dưỡng hữu cơ qua lá Soymic V.

    DOI: https://doi.org/10.71254/8mw8gf70
  • Hiệu quả của việc phối hợp các loại phân hữu cơ đến sinh trưởng và năng suất lúa hữu cơ tại huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế

    Abstract : 438 PDF: 0
    Phạm Văn Cường, Bùi Hồng Nhung, Phan Thị Hồng Nhung, Tăng Thị Hạnh
    32-40

    Nghiên cứu được tiến hành đánh giá ảnh hưởng của việc phối hợp các loại phân hữu cơ gồm phân hữu cơ sản xuất công nghiệp (HCCN) bao gồm: Phân hữu cơ vi sinh và phân hữu cơ sinh học với phân chuồng ủ (PCU) với tỷ lệ khác nhau đến một số đặc tính sinh lý và năng suất lúa hữu cơ tại huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế trong vụ đông xuân 2022 - 2023 và vụ hè thu năm 2023. Kết quả nghiên cứu cho thấy, năng suất thực thu ở công thức bón phối hợp 50% lượng đạm nguyên chất (N) từ phân HCCN + 50%N từ PCU (đạt lần lượt trong vụ đông xuân và hè thu là 61,0 tạ/ha và 56,2 tạ/ha) và công thức bón 25%N từ phân HCCN + 75%N từ PCU (đạt 60,3 tạ/ha và 57,1 tạ/ha lần lượt trong vụ đông xuân và hè thu) cao hơn ở mức ý nghĩa so với chỉ sử dụng một loại phân hữu cơ. Hai công thức phân bón này có giá trị SPAD (chỉ tiêu đánh giá hàm lượng diệp lục), chỉ số diện tích lá (LAI), khối lượng chất khô, số hạt/bông, tỉ lệ hạt chắc và khối lượng 1.000 hạt cao hơn các công thức còn lại. Lợi nhuận trong canh tác lúa hữu cơ ở hai công thức phối hợp phân này cũng cao hơn so với công thức chỉ bón phân HCCN. Như vậy, việc bón phối hợp các loại phân hữu cơ vừa góp phần tăng năng suất, tăng hiệu quả kinh tế, vừa góp phần giảm ô nhiễm môi trường do tái sử dụng có hiệu quả phế phụ phẩm trong nông nghiệp.

    DOI: https://doi.org/10.71254/dejth096
  • Tuyển chọn và định tên chủng nấm có khả năng sinh tổng hợp enzyme cellulase và xylanase

    Abstract : 236 PDF: 0
    Nguyễn Thị Hồng Hà, Nguyễn Thị Hương Trà, Lê Thị Trang, Nguyễn Ngọc Huyền, Nguyễn Tuấn, Vũ Thu Diễm, Nguyễn Trọng Uyên, Lê Khánh Linh, Nguyễn Văn Hiếu
    41-50

    Mục tiêu của nghiên cứu này là tuyển chọn chủng nấm được phân lập từ đất trồng dong riềng có khả năng phân giải cellulose và hemicellulose. Kết quả cho thấy, 36 chủng Trichoderma đã được phân lập và tuyển chọn được 3 chủng Trichoderma có khả năng phân giải cellulose và hemicellulose cao nhất là Trichoderma D5 có vòng phân giải cơ chất cellulose và xylan, tương ứng 3,02 cm và 3,43 cm; Trichoderma D19 là 2,65 cm và 2,88 cm; Trichoderma D25 là 2,86 cm và 2,61 cm. Cả 3 chủng Trichoderma đều có khả năng ức chế nấm gây bệnh Collectotrichum musae, Lasiodiplodia theobromaeThielaviopsis paradoxa với tỷ lệ từ 74,1 - 91,3%; 58,2 - 70,2% và 55,1 - 77,2%, theo thứ tự ở điều kiện in vitro. Ba chủng đã được định danh là: Trichoderma viride (T. viride D5), Trichoderma harzianum (T. harzianum D19), Trichoderma asperellum (T. asperellum D25) và được đăng kí trên GenBank với mã số tương ứng là: OR686312, OR690335, OR686311. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tiềm năng phân giải cellulose và xylan của 3 chủng Trichoderma phân lập từ đất trồng dong riềng.

    DOI: https://doi.org/10.71254/bsxhv881
  • Khảo sát thành phần nấm gây bệnh thối trái nhãn tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

    Abstract : 469 PDF: 0
    Chu Trung Kiên, Lê Phước Thạnh, Nguyễn Đắc Khoa
    51-61

    Thành phần nấm gây bệnh thối trái trên 3 giống nhãn trồng tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu gồm: Xuồng cơm vàng, edor và tiêu da bò được khảo sát trong các vườn nhãn ở giai đoạn kinh doanh. Khi bệnh chớm xuất hiện, ở giai đoạn 12 - 16 ngày và 1 - 3 ngày trước khi thu hoạch, 90 mẫu trái bệnh được thu thập cho mỗi giống nhãn trồng tại 3 vườn. Các mẫu nấm bệnh được phân lập và thực hiện quy trình Koch để xác định mầm bệnh. Dựa vào hình thái nấm, 5 chi nấm được xác định tương ứng với 5 nhóm triệu chứng bệnh thối trái gồm: Lasiodiplodia, Diaporthe, Calonectria, PestalotiopsisFusarium. Trong đó, thối nâu vỏ trái do chi Lasiodiplodia gây ra là triệu chứng phổ biến nhất trên cả 3 giống nhãn. Chi Lasiodiplodia là phổ biến nhất, chiếm 62,96% tổng số mẫu nấm phân lập. Mức độ phổ biến của các chi nấm gây bệnh thối trái nhãn còn lại lần lượt là Diaporthe 26,30%, Calonectria 18,52%, Pestalotiopsis 4,81% và Fusarium 1,85%. Đây là nghiên cứu đầu tiên về thành phần nấm gây bệnh thối trái nhãn trong giai đoạn trước khi thu hoạch tại Việt Nam, trong đó chi Calonectria lần đầu được ghi nhận là tác nhân gây bệnh.

    DOI: https://doi.org/10.71254/qh0p8351