Số 2 (2024)
Bài viết
-
Nghiên cứu đặc điểm hình thái và giải phẫu của loài lan Kim tuyến (Anoectochilus roxburghii (Wall.) Lindl.) ở huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc
Abstract : 1052 PDF: 219Lan kim tuyến là vị thuốc quý, được sử dụng phổ biến trong y học cổ truyền. Nghiên cứu này tập chung mô tả các đặc điểm hình thái, giải phẫu của loài Lan kim tuyến được thu thập tại huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc, nhằm xây dựng bộ dữ liệu hình ảnh chi tiết và chỉ ra đặc điểm khác nhau về mặt hình thái của loài Lan kim tuyến với Anoectochilus setaceus. Kết quả, đã mô tả được hình thái, giải phẫu của loài Lan kim tuyến và đã chỉ ra một số điểm khác nhau so với loài A. setaceus (Sự hợp góc của cựa với bầu hoa, cánh hoa và râu hoa). Từ đó, làm cơ sở khoa học phục vụ công tác định danh, kiểm định tính đúng và bảo tồn loài Lan kim tuyến được thu thập tại huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.
-
Nghiên cứu nhân giống vô tính luân thùy (Spirolobium cambodianum Baill.)
Abstract : 812 PDF: 80Nghiên cứu nhân giống vô tính luân thuỳ (Spirolobium cambodianum Baill.) trong vườn ươm tại tỉnh Kiên Giang cho thấy: Chiều dài hom dùng nhân giống là 15 cm, sử dụng các hom bánh tẻ và tiến hành giâm hom vào tháng 4, cho tỷ lệ sống đạt trên 70%. Sử dụng IBA nồng độ 1.000 ppm tỷ lệ bật mầm đạt 78,2% và tỷ lệ sống khi xuất vườn đạt 76,7%. Giá thể giâm hom tốt nhất nên chọn giá thể cát đất theo tỷ lệ 1: 1 có tỷ lệ bật mầm đạt 77,2% và tỷ lệ sống khi xuất vườn đạt 74,7%. Cây giống sinh trưởng trong vườn ươm từ 120 ngày đủ tiêu chuẩn xuất vườn với tỷ lệ xuất vườn và tỷ lệ sống ngoài đồng ruộng đạt 80%.
-
Tối ưu hóa các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh tổng hợp enzyme fibrinolytic của dòng vi khuẩn Bacillus subtilis ML01
Abstract : 1102 PDF: 115Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu tối ưu hóa các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thu nhận enzyme fibrinolytic từ Bacillus subtilis ML01 sử dụng phương pháp đáp ứng bề mặt (RSM) với phương án cấu trúc có tâm (CCD). Thiết kế thí nghiệm Plackett - Burman được sử dụng để sàng lọc các yếu tố chính tác động đến quá trình sinh tổng hợp enzyme fibrinolytic trong 10 yếu tố được chọn, bao gồm: Glucose, maltose, sucrose, soya peptone, yeast extract, K2HPO4, MgSO4, CaCl2, pH và mật độ vi khuẩn ban đầu. Kết quả cho thấy, maltose, soya peptone, K2HPO4 và mật độ vi khuẩn là 4 yếu tố có ảnh hưởng nhiều nhất (p-value < 0,05). Trên cơ sở đó, khi sử dụng phương pháp RSM - CCD đã tìm ra môi trường thích hợp cho quá trình sinh tổng hợp enzyme fibrinolytic với các giá trị tối ưu được xác định là maltose 18,15 g/L, soya peptone 9,59 g/L, K2HPO4 2,33 g/L và mật độ vi khuẩn 2,6 x 106 tế bào/mL, sau 48 giờ lên men ở 37°C cho hoạt tính enzyme fibrinolytic cao nhất là 25,56 FU/mL, cao hơn trước khi tối ưu 2,9 lần (8,89 FU/mL). Ma trận Plackett - Burman kết hợp với RSM - CCD được đánh giá là công cụ phù hợp để tối ưu hóa giá trị của các yếu tố có ảnh hưởng đến quá trình sinh tổng hợp enzyme fibrinolytic.
-
Nghiên cứu chẩn đoán dinh dưỡng lá để xác định thiếu hụt và sử dụng phân bón phù hợp cho giống cam Sành Hà Giang
Abstract : 757 PDF: 80Nghiên cứu với mục đích xác định thực trạng và xây dựng thang phân cấp dinh dưỡng trong lá của giống cam Sành nhằm phát hiện, xác định và khắc phục được yếu tố hạn chế theo mỗi vùng canh tác cụ thể, góp phần điều chỉnh chế độ bón phân hợp lý, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất. Kết quả quan trắc, đánh giá được tình trạng dinh dưỡng trong lá đối với giống cam Sành (Citrus reticulata x maxima) tại 3 huyện Bắc Quang, Quang Bình và Vị Xuyên của tỉnh Hà Giang trên 90 vườn, được thực hiện liên tục trong giai đoạn 2021 - 2022, áp dụng theo phương pháp Hệ thống Chẩn đoán và Khuyến cáo Tổng hợp (DRIS - Diagnosis and Recommendation Integrated System) trong việc đánh giá các yếu tố dinh dưỡng đa, trung và vi lượng. Kết quả, xác định được ngưỡng phân cấp dinh dưỡng phù hợp trong lá đối với giống cam Sành là: N: 2,53 - 2,89%, P2O5: 0,12 - 0,16%, K2O: 1,32 - 1,68%, Ca: 2,59 - 3,46%, Mg: 0,23 - 0,41%, S: 0,17 - 0,22%, Cu: 16,22 - 45,59 mg/kg, Zn: 4,70 - 10,56 mg/kg, B: 32,69 - 46,33 mg/kg; xây dựng được thang phân cấp dinh dưỡng trong lá ở các cấp độ khác nhau gồm: Rất thiếu, thiếu, phù hợp, thừa và rất thừa; xác định được yếu tố dinh dưỡng thiếu phổ biến theo thứ tự Cu>Mg>S>Ca>B>N>P>K>Zn; chỉ số cân bằng dinh dưỡng (NBI) giữa các vườn dao động từ 32 - 94; dựa trên đó đã khắc phục được các yếu tố hạn chế và xây dựng chế độ phân bón phù hợp cho giống cam Sành tại tỉnh Hà Giang.
-
Nghiên cứu quy trình công nghệ sản xuất trà lá sen dạng túi lọc
Abstract : 2096 PDF: 439Lá sen, cỏ ngọt và trà xanh là 3 loại thảo dược giàu hợp chất có hoạt tính sinh học, có lợi cho sức khoẻ người dùng. Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu quy trình công nghệ sản xuất trà lá sen dạng túi lọc bao gồm: Sao nguyên liệu, nghiền và sàng phân loại, phối trộn và đóng túi lọc, kiểm tra chất lượng sản phẩm bằng phương pháp cảm quan, kiểm tra lý hóa và vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP). Kết quả cho thấy, thời gian và nhiệt độ sao phù hợp cho lá sen là 50 phút, nhiệt độ 110oC; cỏ ngọt sao trong 35 phút, nhiệt độ 90oC và trà xanh sao trong 40 phút, nhiệt độ 100oC. Thảo dược từng loại được nghiền nhỏ và sàng phân loại, phần thảo dược thu được khi lọt lưới số 18 x 18 và nằm trên lưới số 44 x 44 là loại có kích thước phù hợp cho đóng túi lọc. Tỷ lệ phối trộn giữa 3 loại thảo dược lá sen - cỏ ngọt - trà xanh theo (% khối lượng) là 85 - 05 - 10, sản phẩm trà lá sen túi lọc đạt loại khá và có điểm chất lượng theo phương pháp cảm quan là 17,80.
-
Ảnh hưởng của độ chín và vùng trồng đến các hợp chất có hoạt tính sinh học và hoạt tính chống oxy hóa của các phần trong quả mít Thái tỉnh Hậu Giang
Abstract : 621 PDF: 142Nghiên cứu khảo sát sự thay đổi của độ ẩm và các hợp chất có hoạt tính sinh học như vitamin C, β-carotene, polyphenol tổng số (TPC), flavonoid tổng số (TFC) và hoạt tính chống oxy hóa thể hiện qua khả năng loại gốc DPPH (1,1-diphenyl-2-picrylhydrazyl) trong các phần của quả mít tại các vùng trồng mít Thái thuộc huyện Châu Thành, Châu Thành A, Phụng Hiệp và thành phố Ngã Bảy (Hậu Giang). Các thành phần trên được đánh giá tại hai khoảng độ chín của quả mít (độ chín I - già: 90 - 105 ngày, độ chín II - chín: 105 - 125 ngày sau đậu trái). Kết quả cho thấy, khi chuyển từ già sang chín, độ ẩm các phần giảm (từ 72,1 - 73,7 còn 69,03 - 71,54% trong thịt quả, từ 76,85 - 77,96 còn 69,89 - 71,37% trong xơ và từ 68,25 - 69,70 còn 63,18 - 63,95% trong hột). TPC tăng từ 1,23 - 1,36 lên 1,46 - 1,88 mg GAE/g trong thịt quả; từ 1,01 - 1,10 lên 1,32 - 1,52 mg GAE/g trong xơ và từ 0,98 - 1,18 lên 1,36 - 1,69 mg GAE/g trong hột. TFC tăng từ 0,38 - 0,43 lên 0,52 - 0,73 mg QE/g trong thịt quả; từ 0,25 - 0,31 lên 0,32 - 0,55 mg QE/g trong xơ và từ 0,12 - 0,20 lên 0,21 - 0,29 mg QE/g trong hột. Khả năng loại gốc DPPH tăng từ 26,54 - 29,4 lên 30,6 - 31,98% trong thịt quả; từ 22,67 - 27,01 lên 27,58 - 31,79% trong xơ và từ 18,73 - 22,48 lên 22,71 - 27,98% trong hột. Hàm lượng vitamin C tăng từ 9,51 - 10,94 lên 13,25 - 14,62 mg/100 g trong thịt quả; từ 2,67 - 2,90 lên 3,93 - 4,87 mg/100 g trong xơ, song trong hột không thay đổi đáng kể. β-carotene tăng từ 48,56 - 51,76 lên 56,98 - 58,79 mg/g trong thịt quả; không thay đổi đáng kể trong xơ và giảm từ 1,41 - 1,67 còn 0,83 - 0,99 mg/g trong hột. Vùng trồng hầu như chỉ không ảnh hưởng đến độ ẩm và hàm lượng β-carotene trong hột, độ ẩm và vitamin C trong xơ. Hàm lượng nước và các thành phần có hoạt tính sinh học cùng với hoạt tính chống oxy hóa trong các phần đều bị ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê (α < 0,05) bởi vùng trồng. Khi chín, mít trồng tại các vùng có hàm lượng các hợp chất có hoạt tính sinh học và hoạt tính chống oxy hóa cao.
-
Kiểm soát Bacillus sinh bào tử kháng nhiệt để sản xuất sữa an toàn và giảm thiểu dấu chân các bon
Abstract : 877 PDF: 146Trong ngành chế biến sữa, việc áp dụng phổ biến các phương pháp nhiệt để xử lý nhiệt sữa như thanh trùng và tiệt trùng nhằm tiêu diệt vi khuẩn mục tiêu Bacillus hình thành bào tử kháng nhiệt và màng sinh học, sản sinh các enzyme protease và lipase ngoại bào ổn định nhiệt có mặt trong sữa bò tươi nguyên liệu gây ra hư hỏng các sản phẩm sữa. Tuy nhiên, việc áp dụng các chế độ xử lý nhiệt không phù hợp dẫn đến tiêu thụ năng lượng nhiệt và phát thải khí nhà kính (dấu chân các bon) nhiều hơn. Tại Việt Nam, áp dụng nhiệt để chế biến 1.124,7 triệu lít sữa bò tươi thu gom, ước tính sơ bộ chi phí thất thoát khoảng 3,2 tỷ đồng khi nhiệt độ chế biến cao hơn yêu cầu 1oC. Do vậy, để loại bỏ hoàn toàn Bacillus sinh bào tử kháng nhiệt từ sữa bò nguyên liệu bằng phương pháp xử lý nhiệt, việc kiểm soát nguồn lây nhiễm và nhận diện chúng để từ đó chọn chế độ xử lý nhiệt phù hợp nhằm sản xuất ra các sản phẩm sữa an toàn, đồng thời tiết kiệm chi phí năng lượng nhiệt sử dụng cũng như giảm thiểu lượng khí thải các bon trong nhà máy sản xuất sữa trong tương lai.
-
Đánh giá hiện trạng công trình ổn định cửa sông miền Trung và đề xuất giải pháp khắc phục
Abstract : 683 PDF: 63Nghiên cứu phòng, chống bồi tụ cửa sông, xói lở bờ biển là vấn đề thời sự cấp thiết luôn được quan tâm, nghiên cứu. Vùng cửa sông miền Trung, trong vòng 30 năm trở lại đây có khoảng hơn 20 công trình ổn định cửa sông đã và đang được xây dựng. Dạng công trình chủ yếu là đê ngăn cát, giảm sóng (Jetty). Đến nay, tại một số cửa sông sau khi xây dựng công trình cửa sông đã được ổn định nhưng một số cửa sông vẫn còn xảy ra hiện tượng bồi tụ, biến động luồng lạch vào cửa; một công trình ổn định cửa sông bị xuống cấp, hư hỏng. Nghiên cứu này đưa ra bức tranh tổng quát thực trạng các công trình ổn định cửa sông miền Trung và tập trung phân tích thực trạng công trình cho 4 cửa sông lựa chọn nghiên cứu chi tiết (Cửa Sót, tỉnh Hà Tĩnh; cửa Tùng, tỉnh Quảng Trị; cửa Thuận An, tỉnh Thừa Thiên Huế; cửa Đề Gi, tỉnh Bình Định). Nghiên cứu đã đưa ra khuyến nghị nhằm khắc phục những tồn tại cho việc sửa chữa và xây dựng mới các công trình ổn định cửa sông trong tương lai.
-
Nghiên cứu lựa chọn cỡ loại tàu thuyền khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản vùng biển ven bờ tỉnh Quảng Nam
Abstract : 707 PDF: 52Nghiên cứu nhằm làm rõ thực trạng 3 nhóm nghề lưới rê, nghề câu và nhóm nghề khác hoạt động khai thác hải sản tại vùng biển ven bờ tỉnh Quảng Nam trong giai đoạn 2017 - 2022 với cỡ loại tàu dưới 12 m. Để lựa chọn cỡ tàu khai thác hợp lý tại vùng biển ven bờ tỉnh Quảng Nam, đã phân đội tàu thành 4 nhóm gồm: Chiều dài Lmax <3 m; chiều dài Lmax = 3 - <6 m; Lmax = 6 - <9 m; Lmax = 9 - <12 m. Đã sử dụng chuỗi số liệu điều tra thực trạng hoạt động khai thác thuỷ sản (tàu thuyền, năng suất, sản lượng khai thác...) của 3 nhóm nghề lưới rê, nghề câu và nghề khác hoạt động trong vùng biển ven bờ tỉnh Quảng Nam từ năm 2017 - 2022 với độ tin cậy cao. Sử dụng phương pháp phân tích đánh giá theo 5 tiêu chí (kinh nghiệm, tập quán của ngư dân địa phương; thực trạng hoạt động khai thác thủy sản tại vùng biển ven bờ tỉnh Quảng Nam; thực trạng tàu thuyền neo đậu, lên cá, trú tránh gió bão; hiệu quả sản xuất của từng nhóm tàu theo nghề; ý kiến ngư dân và chuyên gia) để xác định cỡ loại tàu khai thác hợp lý vùng biển ven bờ tỉnh Quảng Nam của 4 nhóm tàu có Lmax <3 m, Lmax = 3 - <6 m, Lmax = 6 - <9 m, Lmax = 9 - <12 m. Kết quả nghiên cứu đã đưa ra đề xuất lựa chọn cỡ loại tàu khai thác hợp lý vùng biển ven bờ tỉnh Quảng Nam là loại tàu có chiều dài Lmax = 6 - <9 m, Lmax = 9 - <12 m cho 3 nhóm nghề lưới rê, nghề câu và nhóm nghề khác.
-
Đánh giá một số yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương
Abstract : 924 PDF: 155Xây dựng nông thôn mới (NTM) vừa là mục tiêu, yêu cầu của phát triển bền vững, vừa là nhiệm vụ cấp bách và chủ trương có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng trong phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân. Hiện trên địa bàn huyện Thanh Miện có 15/16 xã đang hoàn thiện xây dựng NTM nâng cao và 1 xã hoàn thành xây dựng NTM nâng cao, tiếp tục xây dựng NTM kiểu mẫu (xã Chi Lăng Nam). Nghiên cứu đã đánh giá 4 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện quy hoạch xây dựng NTM được xem là điểm mạnh, có ý nghĩa thống kê và được sắp xếp theo thứ tự ảnh hưởng như sau: Y = 0,327 X1 + 0,278 X2 + 0,241 X3 + 0,164 X4 + Ei. Mức độ đóng góp như sau: (1) Biến X1 - Nguồn nhân lực, đóng góp 32,38%; (2) Biến X2 - Xã hội, đóng góp 27,52%; (3) Biến X3 - Kinh tế, đóng góp 23,86%; (4) Biến X4 - Cơ chế, pháp lý, đóng góp 16,24%. Để nâng cao việc thực hiện quy hoạch xây dựng NTM tại huyện Thanh Miện trong thời gian tới cần tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền về thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng NTM; nâng cao vai trò, trách nhiệm của Cấp ủy, chính quyền cấp xã; đẩy nhanh tiến độ lập và phê duyệt quy hoạch chung xây dựng xã đến năm 2030; tranh thủ mọi nguồn hỗ trợ và tiếp tục tổ chức triển khai Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng NTM, đô thị văn minh”.








