Số 13 (2024)
Bài viết
-
Ảnh hưởng của đèn led và môi trường trồng đến sinh trưởng và năng suất cây cải bẹ xanh (Brassica juncea)
Abstract : 691 PDF: 0Cải bẹ xanh (Brassica juncea) là cây rau trồng phổ biến trên thế giới, chất lượng và năng suất bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như: Nước, dinh dưỡng, ẩm độ không khí, cường độ ánh sáng. Trong đó, ánh sáng được xem là một trong những yếu tố quan trọng nhất, với bước sóng từ 400 - 700 nm để cây hấp thụ. Ngoài ra, năng suất và chất lượng còn phụ thuộc nhiều vào môi trường trồng là đất và thủy canh. Do đó, nghiên cứu này thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng hiệu quả của đèn LED chiếu bổ sung và môi trường trồng đến sinh trưởng và năng suất cây cải bẹ xanh. Kết quả nghiên cứu cho thấy, trồng cải bẹ xanh có kết hợp chiếu đèn LED đã tác động tích cực đến sự gia tăng năng suất cây cải bẹ xanh trồng tại Trường Đại học Kiên Giang. Môi trường đất sạch có kết hợp chiếu đèn LED (chiếu ba đèn trắng và một đèn đỏ) cho kết quả quả tối ưu khi trồng cải bẹ xanh với chiều cao cây đạt 44,82 cm, số lá đạt 9,1 lá/cây, chiều dài lá đạt 30,58 cm, chiều rộng lá đạt 13,96 cm, chỉ số diệp lục tố đạt 20,63, khối lượng tươi đạt 71,5 g/cây và khối lượng khô đạt 4,63 g/cây. Trồng cải bẹ xanh có kết hợp chiếu đèn LED tác động tích cực đến sự gia tăng năng suất.
-
Ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng năng suất và hiệu quả kinh tế của hai giống khoai lang rau (VDD1 và KLR3)
Abstract : 387 PDF: 0Nghiên cứu được tiến hành với 5 công thức mật độ trồng (5, 10, 15, 20, 25 dây/m2) trên 2 giống khoai lang rau là VĐ1 và KLR3 nhằm xác định được mật độ trồng thích hợp, đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất. Thí nghiệm được bố trí theo kiểu ô lớn, ô nhỏ (split-plot) với 3 lần nhắc tại Trung tâm Nghiên cứu và Dịch vụ nông nghiệp, Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế trong vụ hè thu năm 2022. Các chỉ tiêu theo dõi gồm: Các chỉ tiêu về sinh trưởng, phát triển; khả năng chống chịu sâu, bệnh; năng suất; tỷ lệ thương phẩm và hiệu quả kinh tế. Các chỉ tiêu nghiên cứu được thực hiện theo quy chuẩn Việt Nam và bảng mô tả về khoai lang. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tại mật độ trồng 15 - 20 dây/m2 giống VĐ1 và KLR3 sinh trưởng tốt, ít nhiễm sâu, bệnh hại, cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao. Giống VĐ1 đạt năng suất tương ứng là 7,87 và 8,13 tấn/ha; lãi ròng đạt 63,9 và 58,5 triệu đồng; giống KLR3 đạt 7,89 và 7,48 tấn/ha; lãi ròng đạt 64,3 và 46,1 triệu đồng. Từ kết quả nghiên cứu trên, bước đầu khuyến cáo trồng với mật độ là 15 - 20 dây/m2 cho 2 giống khoai lang rau VĐ1 và KLR3 trong vụ hè thu tại tỉnh Thừa Thiên Huế.
-
Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến nuôi cấy mô sẹo của giống mía K84-200 và Uthong 12
Abstract : 548 PDF: 0Chọn giống mía (Saccharum spp.) bằng công nghệ gen đã chứng minh tính hiệu quả vượt trội so với các phương pháp chọn giống truyền thống. Gần đây, công nghệ chỉnh sửa gen CRISPR/Cas9 ra đời đã tạo nên một cuộc cách mạng trong chọn giống phân tử. Tuy nhiên, hiệu quả ứng dụng chỉnh sửa gen trong chọn tạo giống cây trồng, bao gồm cả cây mía, phụ thuộc rất lớn vào quy trình nuôi cấy in vitro và hiệu suất tái sinh chồi. Cho đến nay, các nghiên cứu về tạo mô sẹo và tái sinh chồi của các giống mía phổ biến trong sản xuất như: K84-200 và Uthong 12 còn khá hạn chế. Nghiên cứu này đã xác định được thành phần môi trường tạo mô sẹo tối ưu của K84-200 và Uthong 12 chứa 2,4-D 3,0 mg/L, Casein 500 mg/L, L-proline 500 mg/L, nước dừa 10%; hiệu suất tạo mô sẹo đạt lần lượt 73,3% và 97,8%. Hơn nữa, nghiên cứu đã xác định được hiệu suất tái sinh chồi từ mô sẹo của K84-200 và Uthong 12 đạt lần lượt 48,5% và 16,6%. Nghiên cứu này là tiền đề quan trọng cho các nghiên cứu hệ thống chỉnh sửa gen trên hai giống mía K84-200 và Uthong 12 sau này.
-
Nghiên cứu hoàn thiện công nghệ nuôi cấy in vitro quy mô sản xuất các dòng Keo lai tam bội (Dòng X101, X102)
Abstract : 482 PDF: 0Nghiên cứu hoàn thiện công nghệ nuôi cấy in vitro quy mô sản xuất được thực hiện cho các dòng Keo lai tam bội (Dòng X101 và X102). Kết quả nghiên cứu cho thấy, giai đoạn tạo mẫu sạch, chồi vượt hay chồi nách được khử trùng bằng NaClO 5,0% trong thời gian 8 phút cho tỷ lệ nảy chồi hữu hiệu là 20% đối với dòng X101 và X102. Số chồi/cụm cao nhất đạt được trong môi trường Murashige và Skoog cải tiến (MS*) + 1,0 mg/l BAP + 30 mg/l Ads (Dòng X101 có 5,54 chồi/cụm, dòng X102 có 5,07 chồi/cụm). Môi trường MS* + 1,0 mg/l BAP + 0,25 mg/l GA3 + 0,05 mg/l NAA được sử dụng cho giai đoạn nâng cao chất lượng chồi (Dòng X101 có 6,65 chồi/cụm, tỷ lệ chồi hữu hiệu (TLCHH): 87,78%, chiều cao chồi: 4,52 cm; dòng X102 có 5,56 chồi/cụm, TLCHH: 87,78%, chiều cao chồi: 4,65 cm). Chồi hữu hiệu đạt tiêu chuẩn được ra rễ trong môi trường ½ MS* + 2 mg/l IBA + 0,25 mg/l ABT, tỷ lệ ra rễ dòng X101 đạt 97,78% và dòng X102 đạt 98,89%. Thời gian huấn luyện 10 ngày cho tỷ lệ cây con sống ở ngoài vườn ươm cao với dòng X101 đạt 83,33% và dòng X102 đạt 81,11%. Trên giá thể 42% trấu + 43% xơ dừa + 15% than bùn (vỏ bầu tự tiêu) cây sống đạt tỷ lệ 95%. Cây sinh trưởng và phát triển tốt với chế độ chăm sóc là bón phân NPK (13: 13: 13 TE) 1,0%, liều lượng nước tưới là 100 lít/20.000 cây, tưới 15 ngày/lần.
-
Ảnh hưởng yếu tố môi trường đến sự sinh trưởng, phát triển và tạo củ năng kim (Eleocharis ochrostachys Steud.) trong điều kiện tự nhiên ở Vườn Quốc gia Tràm Chim, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp
Abstract : 474 PDF: 0Các yếu tố môi trường đóng một vai trò rất quan trọng cho sự sinh trưởng, phát triển và tạo củ của Năng kim (Eleocharis ochrostachys). Mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố môi trường đến sự sinh trưởng, phát triển và tạo củ của Năng kim. Kết quả nghiên cứu cho thấy, Năng kim sinh trưởng, phát triển và tạo củ tốt trong điều kiện pH đất rất thấp, khoảng 3,26 - 3,74, độ ẩm đất 70 - 100%, giá trị EC trong đất từ 2,18 - 3,96 mS/cm, có hàm lượng đạm dễ tiêu thấp, khoảng 0,020 - 0,032 mg/100 g đất, hàm lượng lân dễ tiêu thấp, khoảng 3,84 - 4,31 mg/100 g đất, hàm lượng chất hữu cơ trong đất cao (13,0 - 15,0%OM). Năng kim sinh trưởng, phát triển kém và không tạo củ trong điều kiện độ ẩm đất thấp, khoảng 30 - 40%. Đồng thời, khi mực nước trong vườn cao, cây Năng kim bị ngập chìm trong nước liên tục trong thời gian kéo dài, Năng kim không tạo củ.
-
Đánh giá thích hợp đất đai cho cây gai xanh trên diện tích đất sản xuất nông nghiệp của huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa
Abstract : 405 PDF: 0Nghiên cứu được thực hiện trên 15.944,36 ha diện tích đất sản xuất nông nghiệp của huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Kết quả đánh giá chất lượng đất và xây dựng bản đồ đơn vị đất đai cho cây gai xanh đã xác định được 32 đơn vị đất đai (ĐVĐĐ) thuộc 4 loại đất thuộc 2 nhóm đất chính là đất đỏ và đất đen, trong đó đất đỏ chiếm 98,97% tổng diện tích đưa vào đánh giá. Diện tích của mỗi ĐVĐĐ có sự chênh lệch lớn, ĐVĐĐ nhỏ nhất có diện tích chỉ 0,2 ha và ĐVĐĐ có diện tích lớn nhất là 7.255,08 ha. Đất sản xuất nông nghiệp ở huyện Như Xuân có tầng đất dày, nằm chủ yếu trên địa hình vàn cao, diện tích có độ dốc từ bằng phẳng đến 150, chiếm khoảng 95%. Đất canh tác nông nghiệp phần lớn có độ phì nhiêu thấp, hàm lượng đạm tổng số (Nts), lân dễ tiêu (P2O5dt), kali dễ tiêu (K2Odt), chất hữu cơ tổng số (OM) và dung tích hấp thu trao đổi (CEC) trong đất thấp; hàm lượng pHH2O trong đất từ chua vừa đến rất chua. Kết quả đánh giá thích hợp đất đai cho thấy, hầu hết diện tích đất sản xuất nông nghiệp ở huyện Như Xuân đều phù hợp để phát triển cây gai xanh. Tuy nhiên, diện tích ít thích nghi (S3) chiếm tới 40,38%, do hạn chế về độ dốc, đất bị chua, hàm lượng dinh dưỡng trong đất thấp. Mức độ không thích hợp trồng cây gai xanh (N) chỉ chiếm 0,22%, do yếu tố hạn chế về độ dốc lớn hơn 250 nằm trên vùng núi cao, độ cao này không phù hợp để trồng cây gai xanh.
-
Nghiên cứu sự đa dạng vi sinh vật ở một số mẫu đất canh tác nông nghiệp điển hình thu thập từ vùng Đồng Tháp Mười
Abstract : 622 PDF: 0Nghiên cứu này nhằm khảo sát thành phần và đa dạng của vi sinh vật đất ở vùng Đồng Tháp Mười (ĐTM). Mẫu đất thu thập từ ba tỉnh: Long An, Đồng Tháp và Tiền Giang trong khoảng từ tháng 6 - 12 năm 2022. Kết quả cho thấy, sự đa dạng của vi sinh vật trong các mẫu đất, với mẫu ĐT3 (tại xã Thường Lạc, huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp) là khu vực trồng lúa có mật độ vi khuẩn, xạ khuẩn và nấm cao nhất. Phân tích metagenomics cho thấy, cổ khuẩn chiếm 5,7%, trong đó có 6 ngành, 11 lớp, 17 bộ, 21 họ và 24 chi. Vi khuẩn chiếm tỉ lệ lớn nhất với 94,3%, gồm 33 ngành, 90 lớp, 161 bộ, 300 họ và 587 chi. Phân tích vùng ITS xác định được 11 ngành, 32 lớp, 67 bộ, 131 họ, 185 chi và 230 loài của giới nấm.
-
Ảnh hưởng của các mức xơ trung tính lên lượng ăn và tỷ lệ tiêu hóa của dê lai Boer
Abstract : 379 PDF: 0Thí nghiệm được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của các mức xơ trung tính (NDF) lên lượng ăn, tỷ lệ tiêu hóa, các thông số lên men dạ cỏ và tích lũy nitơ của dê lai Boer. Thí nghiệm được tiến hành trên 4 con dê đực lai Boer (♂ Boer × ♀ Bách Thảo), 3 tháng tuổi có khối lượng trung bình trước khi bắt đầu thí nghiệm là 15,6 ± 0,82 kg. Thí nghiệm được bố trí theo mô hình ô vuông Latin (4 × 4). Mỗi giai đoạn thí nghiệm bao gồm 21 ngày với 15 ngày thích nghi và 6 ngày lấy mẫu. Dê được cung cấp khẩu phần ăn cơ bản có 14% CP và ME là 9,8 MJ/kg DM với 4 mức NDF là 40, 44, 48, 52% DM, tương ứng với các nghiệm thức NDF40, NDF44, NDF48, NDF52. Kết quả thí nghiệm cho thấy, lượng DM tiêu thụ cao nhất là ở nghiệm thức NDF40 với 537 g/con/ngày và thấp nhất là nghiệm thức NDF52 với 422 g/con/ngày (P<0,001). Lượng DM tiêu hóa cao hơn (325 - 335 g/con/ngày; P<0,01) khi NDF trong khẩu phần từ 40 - 48% và thấp nhất ở khẩu phần có 52% NDF (270 g/con/ngày). Các thông số lên men dạ cỏ không có sự khác biệt thống kê giữa các nghiệm thức. Nghiệm thức NDF48 cho N tích lũy là 7,75 g/con/ngày, có xu hướng cao hơn (P= 0,057) nghiệm thức NDF52 là 5,96 g/con/ngày. Kết quả nghiên cứu cho thấy, khi tăng mức NDF trong khẩu phần từ 40 - 48% không ảnh hưởng đến lượng ăn vào, lượng dưỡng chất tiêu hóa và nitơ tích lũy của dê, nhưng các chỉ tiêu này giảm có ý nghĩa khi tăng mức NDF lên 52%. Ở mức 48% NDF trong khẩu phần ăn của dê giai đoạn 3 - 6 tháng tuổi là phù hợp với nhu cầu ăn vào và tận dụng hiệu quả thức ăn thô.
-
Ảnh hưởng điều kiện rang đến chất lượng của hạt cà phê Robusta (Coffea canephora)
Abstract : 709 PDF: 0Cà phê Robusta, một sản phẩm đặc sản ở Buôn Mê Thuột, tỉnh Đắk Lắk, chứa nhiều hợp chất có hoạt tính sinh học quan trọng có lợi cho sức khỏe con người. Nghiên cứu lựa chọn điều kiện rang phù hợp nhằm tạo ra sản phẩm cà phê Robusta có chất lượng tốt: Duy trì được với hàm lượng chất chống oxy hóa như: Polyphenol tổng số (TPC), hàm lượng flavonoid (TFC) vốn có trong nguyên liệu ở mức cao; các thành phần lipid và axit tổng số, caffeine được duy trì ở mức cân đối nhằm tạo ra sản phẩm có màu sắc và các giá trị cảm quan tốt trong suốt quá trình rang ở nhiệt độ và thời gian khác nhau. Trong nghiên cứu này, hạt cà phê được rang ở nhiệt độ 230 và 2400C trong khoảng thời gian 15, 17, 19 và 21 phút. Kết quả nghiên cứu cho thấy, chất lượng hạt cà phê rang ở 2400C trong thời gian 17 phút là tốt nhất, hạt có độ ẩm thấp 1,55 ± 0,04%, đáp ứng TCVN 7035:2002, hàm lượng lipid 12,50 ± 0,35%CK, hàm lượng caffeine 25,98 ± 0,48 mg CE/gCK và axit tổng số 0,50 ± 0,02%CK vừa phải, hàm lượng polyphenol tổng số 18,64 ± 0,65 mg GAE/gCK và flavonoid tổng số 5,26 ± 0,13 mg QE/gCK được duy trì ở mức cao cho thấy, giá trị màu sắc (L*, a*, b*), chỉ số hóa nâu (BI) được duy trì ở mức độ ổn định với các giá trị lần lượt là 40,58 ± 1,01; 5,49 ± 0,25; 1,46 ± 0,42; 12,55 ± 1,07 và tạo ra được sản phẩm có giá trị cảm quan tốt, hài hòa về màu sắc, mùi và vị (≥ 4,6 điểm theo thang từ 0 - 5).
-
Đa dạng thành phần côn trùng trong rừng ngập mặn Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh
Abstract : 798 PDF: 0Hệ sinh thái rừng ngập mặn được phục hồi tạo điều kiện thuận lợi cho các loài động thực vật quay trở lại sinh sống và phát triển, trong đó có côn trùng. Tiến hành điều tra thành phần loài côn trùng trên 12 tuyến thuộc các sinh cảnh khác nhau trong Rừng ngập mặn Cần Giờ từ năm 2017 đến năm 2022. Ghi nhận thông tin và thu mẫu vật tất cả các loài côn trùng. Đánh giá khu hệ côn trùng thông qua 2 chỉ số đa dạng Shannon Wiener (H’) và ưu thế Simpson (D). Kết quả nghiên cứu đã ghi nhận 374 loài, trong đó xác định được 10 bộ và 49 họ. Bộ Lepidoptera và Hymenoptera có số lượng loài lớn nhất, chiếm tỷ lệ lần lượt là 30,5% và 24,9% và gặp thường xuyên ở tất cả các sinh cảnh. Ghi nhận 9 loài gây hại cây Rừng ngập mặn Cần Giờ, 1 loài Attacus atlas (Bướm đêm atlas) là loài có kích thước lớn và ít gặp. Khu hệ côn trùng ở Rừng ngập mặn Cần Giờ có sự đa dạng cao (H’ trung bình là 3,42 ± 0,23) và có sự ưu thế về loài (D trung bình là 0,043 ± 0,010). Kết quả nghiên cứu là cơ sở dữ liệu ban đầu phục vụ công tác bảo tồn đa dạng sinh học trong hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ.








