Số 15 (2024)

					Xem Số 15 (2024)
Đã Xuất bản: 15-08-2024

Bài viết

  • NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG CHỊU HẠN CỦA 150 GIỐNG LÚA ĐỊA PHƯƠNG TẠI NGÂN HÀNG GEN CÂY TRỒNG QUỐC GIA

    Abstract : 479 PDF: 0
    Trần Thị Thu, Tô Thị Mai Hương, Hà Thị Thanh Đoàn,Trần Thị Ngọc Diệp, Lê Thị Huyền Trang, Vũ Đăng Toàn
    3-12

    Nghiên cứu nhằm xác định khả năng chịu hạn và khả năng phục hồi của 150 giống lúa địa phương được lưu giữ và bảo tồn tại Ngân hàng gen cây trồng Quốc gia theo phương pháp gây hạn nhân tạo ở các giai đoạn sinh trưởng khác nhau. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các giống lúa có phản ứng khác nhau với điều kiện hạn ở mỗi giai đoạn sinh trưởng, phát triển. Giai đoạn mầm có 28 giống lúa, giai đoạn 3 lá có 22 giống lúa, giai đoạn đẻ nhánh có 51 giống lúa, giai đoạn trỗ có 4 giống lúa có khả năng chịu hạn tốt… Đặc biệt, 2 giống lúa (Tám đen Hải Phòng và Tẻ lề Hòa Bình) có khả năng chịu hạn tốt ở cả 3 giai đoạn sinh trưởng (giai đoạn 3 lá, giai đoạn đẻ nhánh và giai đoạn trỗ), 2 giống lúa (Một bụi và Neang con) có khả năng chịu hạn tốt ở 2 giai đoạn (giai đoạn đẻ nhánh và giai đoạn trỗ). Trong điều kiện hạn nhân tạo 4 giống lúa: Tám đen Hải Phòng (SĐK 253), Tẻ lề Hòa Bình (SĐK 553), Một bụi (SĐK 2332) và Neang con (SĐK 12068) cho năng suất tương đương hoặc cao hơn đối chứng CH5 (3,13 tấn/ha).

    DOI: https://doi.org/10.71254/ydecq722
  • ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ PHÂN TỬ CỦA LOÀI SÂM THUỘC CHI Panax THU THẬP Ở HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN

    Abstract : 425 PDF: 0
    Khuất Thị Mai Lương, Nguyễn Thị Thúy Ngoan, Trần Huyền Trang, Hồ Thị Hương, Đặng Thị Xuân, Lê Hùng Lĩnh
    13-20

    Đánh giá đặc điểm hình thái học, di truyền phân tử và so sánh mức độ quan hệ với các loài sâm khác, đặc biệt với sâm Việt Nam của quần thể sâm mới phát hiện tại khu vực núi Phja Boóc, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn là cơ sở quan trọng trong công tác bảo tồn và phát triển vùng trồng sâm trên địa bàn tỉnh. Sâm Ba Bể có đặc điểm hình thái sinh học đặc trưng tương tự sâm Việt Nam. Sử dụng chỉ thị phân tử đặc hiệu bước đầu xác định đây có thể là loài/thứ mới thuộc chi Panax khác với các loài/thứ đã được biết đến ở Việt Nam. Phân tích mối quan hệ di truyền kiểu gen của các loài sâm nghiên cứu cho thấy, ở hệ số tương đồng 0,42, 9 mẫu sâm nghiên cứu chia thành hai nhóm. Nhóm I bao gồm: Sâm Ngọc Linh và sâm Lang Biang; nhóm II gồm: Mẫu sâm Ba Bể, tam thất hoang, sâm Vũ Diệp, tam thất bắc và sâm Lai Châu 1, 2, 3. Sâm Ba Bể có hệ số tương đồng di truyền phân tử gần nhất với mẫu sâm Vũ Diệp và tam thất hoang (0,64), xa nhất với mẫu sâm Ngọc Linh và sâm Lang Biang (0,45); với mẫu tam thất bắc và sâm Lai Châu, hệ số tương đồng lần lượt là 0,55 và 0,58. Cần có thêm nghiên cứu xác định giá trị dược liệu của sâm Ba Bể, so sánh với các loài sâm đã được biết đến để làm cơ sở cho định hướng bảo tồn và phát triển trồng sâm trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn.

    DOI: https://doi.org/10.71254/ymm32h75
  • ẢNH HƯỞNG CỦA KỸ THUẬT CẮT TỈA CÀNH VÀPHÂN BÓN LÁ ĐẾN SỰ RA HOA, ĐẬU QUẢ, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG MÍT SIÊU SỚM TẠI HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

    Abstract : 406 PDF: 0
    Trần Thị Vân, Hoàng Thị Thao, Nguyễn Tuấn Vũ, Nguyễn Quang Tin
    21-31

    Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật cắt tỉa cành và phân bón lá đến sự ra hoa, đậu quả, năng suất và chất lượng mít Siêu sớm tại huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang được thực hiện từ tháng 8/2023 đến tháng 5/2024 trên vườn mít Siêu sớm 5 năm tuổi. Thí nghiệm 2 nhân tố được bố trí theo kiểu lô phụ (Split - plot design): Nhân tố phụ gồm 3 nghiệm thức (K1: Tỉa thưa cành, K2: Tỉa trụi cành và đối chứng K3: Không tỉa cành), nhân tố chính gồm 4 nghiệm thức (P1: Phun phân bón lá YaraVita BudBooster, P2: Phun phân bón lá Kali Bo, P3: Phun phân bón lá siêu Canxi Bo và đối chứng P4: Phun nước lã). Kết quả cho thấy, áp dụng kỹ thuật tỉa thưa cành kết hợp phun phân bón lá siêu Canxi Bo giúp cây mít có thời gian ra hoa sớm nhất (38,7 ngày sau cắt tỉa cành), đồng thời thúc đẩy tăng tỷ lệ phát hoa cái trên cây mít Siêu sớm với tỷ lệ phát hoa cái đạt 65,6%, năng suất đạt cao nhất 33,5 kg/cây so với đối chứng chỉ đạt năng suất 26,1 kg/cây, chất lượng thịt quả không có khác biệt so với các công thức khác. Áp dụng kỹ thuật tỉa thưa cành kết hợp phun phân bón lá Kali Bo, cây có thời gian ra hoa là 40 ngày sau cắt tỉa, tỷ lệ hoa cái đạt cao nhất 67,7%, năng suất đạt 32,8 kg/cây, độ Brix trong thịt quả đạt 23,4%, cao hơn so với các nghiệm thức khác và so với đối chứng chỉ đạt 21,4%. Áp dụng kỹ thuật tỉa thưa cành kết hợp phun phân bón lá siêu Canxi Bo hoặc phân bón lá Kali Bo trên cây mít giúp tăng hiệu quả kinh tế với lợi nhuận đạt 252,8 - 279,1 triệu đồng/ha.

    DOI: https://doi.org/10.71254/w3jzam89
  • NGHIÊN CỨU TÍNH CHỐNG CHỊU BỆNH HÉO VÀNG (Panama) VỚI MỘT SỐ GIỐNG CHUỐI TRONG ĐIỀU KIỆN NHÀ LƯỚI

    Abstract : 499 PDF: 0
    Phí Đình Nam, Nguyễn Hồng Tuyên, Lê Thị Loan, Vũ Đăng Toàn, Vũ Đăng Tường
    32-38

    Chuối là một trong những cây ăn quả quan trọng ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới. Hiện nay, bệnh héo vàng (Panama) do nấm Fusarium oxysporum f. sp. cubense (Foc) là bệnh gây hại nặng nhất trên chuối. Đánh giá tập đoàn chuối địa phương trong điều kiện đồng ruộng đã xác định được 5 giống chuối có tiềm năng năng suất cao (35 - 40 tấn/ha), chất lượng tốt (ngọt, thơm) gồm: Chuối ngự, chuối tiêu xiêm, chuối tây ta, chuối tây thái và chuối đỏ, 5 giống chuối tiềm năng được đánh giá phản ứng với bệnh héo vàng trong điều kiện nhà lưới. Đánh giá kết quả phản ứng của các giống chuối với bệnh héo vàng ở thời điểm 90 ngày sau lây nhiễm (90 NSLN): Chỉ số bệnh ở các giống từ 2,38 - 35,24% (cấp 3 - 7. Thấp nhất là giống chuối tiêu xiêm (2,38% - cấp 3), cao nhất là giống chuối tây ta (35,24% - cấp 7). Căn cứ thang phân cấp bệnh và đánh giá phản ứng của các giống chuối với bệnh héo vàng, đã xác định được giống chuối tiêu xiêm kháng, giống chuối ngự và giống chuối đỏ trung bình nhẹ với bệnh héo vàng.

    DOI: https://doi.org/10.71254/7j641w88
  • ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM ĐẤT CANH TÁC LÚA BỊ NHIỄM MẶN TẠI MỘT SỐ TỈNH VEN BIỂNVÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

    Abstract : 660 PDF: 0
    Đinh Quang Hiếu, Bùi Thị Phương Loan, Mai Văn Trịnh, Cao Hương Giang
    39-47

    Đất mặn là một trong những loại đất chính của vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), thực chất là đất phù sa bị nhiễm mặn bởi nước ngầm mặn hoặc nước mặt mặn. Trong những năm qua, trước diễn biến bất thường của biến đổi khí hậu, diện tích đất mặn của vùng ĐBSCL có xu hướng gia tăng về diện tích và mức độ nhiễm mặn. Nhiễm mặn đất ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp của vùng, trong đó có sản xuất lúa. Kết quả đánh giá đặc điểm đất canh tác lúa bị nhiễm mặn ít, trung bình và nhiều tại một số tỉnh thuộc vùng ĐBSCL cho thấy: không có sự gia tăng về mức độ nhiễm mặn. Hàm lượng dinh dưỡng tổng số và độ phì nhiêu của đất ở mức trung bình đến khá. Ngoại trừ độ mặn của đất, các tính chất lý - hoá của đất nhiễm mặn ít, trung bình và nhiều cơ bản vẫn ở mức thích hợp cho canh tác lúa. Một số yếu tố hạn chế của đất bao gồm: độ mặn, dung trọng cao, hàm lượng các chất dinh dưỡng đa lượng và vi lượng ở mức trung bình.

    DOI: https://doi.org/10.71254/2v0ggq83
  • CHỌN LỌC NÂNG CAO NĂNG SUẤTHAI DÒNG VỊT BIỂN 15 - ĐẠI XUYÊN

    Abstract : 429 PDF: 0
    Nguyễn Văn Duy, Nguyễn Thanh Sơn, Chu Hoàng Nga, Đặng Vũ Bình, Vương Thị Lan Anh, Đào Anh Tiến, Tạ Phan Anh
    48-61

    Thí nghiệm được tiến hành trên giống vịt biển 15 - Đại Xuyên tại Trung tâm Nghiên cứu Vịt Đại Xuyên qua 4 thế hệ, vịt dòng trống ĐX15.1 được chọn lọc tăng khối lượng cơ thể 7 tuần tuổi, vịt dòng mái ĐX15.2 được chọn lọc tăng năng suất trứng ở 20 tuần đẻ. Sử dụng chọn lọc cá thể, ước tính các tham số di truyền, dự đoán giá trị giống bằng phần mềm VCE6 và PEST, giữ lại làm giống các cá thể có giá trị giống cao nhất về khối lượng cơ thể lúc 7 tuần tuổi đối với dòng ĐX15.1 và năng suất trứng sau 20 tuần đẻ đối với dòng ĐX15.2. Kết quả cho thấy, vịt dòng trống ĐX15.1 có khối lượng cơ thể vịt mái lúc 7 tuần tuổi ở thế hệ 3 đạt 2.605,63 g/con, vịt trống là 2.754,32 g/con, cao hơn so với thế hệ xuất phát, tương ứng 237,10 và 316,56 g/con, tương đương với 10,01 và 12,99%, năng suất trứng/52 tuần đẻ ổn định qua các thế hệ 221,87 - 223,01 quả/mái, tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng là 3,23 kg. Dòng mái ĐX15.2 có khối lượng 8 tuần tuổi là 1.790,11 g/vịt trống, 1.760,97 g/vịt mái, năng suất trứng thế hệ 4 là 263,07 quả/mái/52 tuần đẻ, cao hơn so với đàn đối chứng (đàn không chọn lọc) 238,35 quả/mái/52 tuần đẻ, tương ứng với 10,37%, tỷ lệ phôi đạt cao 94,04%, tỷ lệ nở/trứng có phôi đạt cao 90,09%.

    DOI: https://doi.org/10.71254/4epn9z94
  • ẢNH HƯỞNG CỦA TỶ LỆ NHÂN HẠT XOÀI BỔ SUNG VÀ CHẾ ĐỘ THANH TRÙNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG NƯỚC ÉP DƯA HẤU

    Abstract : 432 PDF: 0
    Nguyễn Nhật Minh Phương, Mai Thị Bình, Trần Kim Bảo, Nguyễn Bảo Lộc, Trần Chí Nhân
    62-70

    Mục đích của nghiên cứu nhằm xác định một số thông số công nghệ trong quá trình chế biến sản phẩm nước ép dưa hấu có bổ sung bột từ dịch trích giàu phenolic của nhân hạt xoài Cát Chu (có hàm lượng phenolic là 10,5 mg GAE/g CKNL). Tiến hành các thí nghiệm bao gồm: (i) Khảo sát tỉ lệ bột hạt xoài bổ sung 2, 3 và 4% (w/v) so với nước ép dưa hấu; (ii) Khảo sát các chế độ thanh trùng với nhiệt độ từ 90 - 100oC và thời gian thanh trùng từ 15 - 25 phút. Kết quả nghiên cứu cho thấy, sản phẩm với tỉ lệ bổ sung bột nhân hạt xoài 2% so với lượng nước ép dưa hấu đáp ứng được các chỉ tiêu về màu sắc và cảm quan, đồng thời sản phẩm được tăng cường hàm lượng chất chống oxy hóa đáng kể. Sản phẩm nước giải khát được thanh trùng ở nhiệt độ 95oC giữ nhiệt trong 25 phút (giá trị thanh trùng F đạt 58 phút) đã ức chế được vi sinh vật, đảm bảo chất lượng sản phẩm. Do điều kiện thí nghiệm, sản phẩm nước ép dưa hấu được theo dõi đến ngày thứ 30 ở nhiệt độ phòng. 

    DOI: https://doi.org/10.71254/f6anhq76
  • ẢNH HƯỞNG CỦA ENZYME PROTEASE ĐẾN KHẢ NĂNG TRÍCH TINH BỘT TỪ HẠT MÍT (Artocarpus heterophyllus Lam.)

    Abstract : 709 PDF: 0
    Dương Thị Phượng Liên, Hồ Thị Khả Tú, Võ Thị Diệu, Dương Kim Thanh
    71-80

    Mít (Artocarpus heterophyllus Lam.) là loại trái cây phổ biến được trồng ở nhiều nước châu Á. Hạt mít tuy rất giàu tinh bột, protein và chất khoáng nhưng thường được xem như phế phẩm bị loại bỏ trong quá trình sản xuất sản phẩm từ thịt quả mít. Nghiên cứu khả năng trích tinh bột từ hạt mít được thực hiện với nội dung khảo sát ảnh hưởng của tỷ lệ enzyme protease (0 - 3 U/mL) và thời gian xử lý enzyme (2 - 4 giờ) đến hiệu suất thu hồi tinh bột và chất lượng tinh bột hạt mít. Kết quả cho thấy, hạt mít được xử lý enzyme protease với tỉ lệ 2 U/mL, trong thời gian ngâm trích 3 giờ cho hiệu suất thu hồi tinh bột cao (57,02 ± 1,41%), bột thành phẩm có hàm lượng tinh bột 88,49 ± 0,23%, hàm lượng protein duy trì ở mức thấp (2,38 ± 0,09%), chỉ số hấp thụ nước (WAI) và khả năng trương nở (SP) của bột tương ứng với 2,12 ± 0,02 g/g và 3,35 ± 0,11%, đồng thời có độ trắng cao (giá trị L* = 96,67 ± 0,12), khối lượng riêng biểu kiến, khối lượng riêng thực, độ tạo bọt (FC) và khả năng ổn định bọt (FS) của tinh bột hạt mít lần lượt là 0,50 ± 0,01 g/cm3, 0,60 ± 0,01 g/cm3, 27,46 ± 0,66% và 6,38 ± 0,23%. Nghiên cứu mở ra triển vọng trích và tinh sạch tinh bột từ nguồn phế phẩm hạt mít để ứng dụng trong nhiều lĩnh vực như: Thực phẩm, dược phẩm, mỹ phẩm mang lại giá trị cao hơn cho nguồn nguyên liệu này.

    DOI: https://doi.org/10.71254/fbrdhe28
  • TỐI ƯU HÓA ĐIỀU KIỆN XỬ LÝ ENZYME NHẰM THU NHẬN DỊCH CHIẾT CỦ HOÀNG SIN CÔ SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP BỀ MẶT ĐÁP ỨNG

    Abstract : 432 PDF: 0
    Đỗ Thị Thanh Huyền, Nguyễn Mạnh Đạt, Nguyễn Thế Huỳnh, Nguyễn Thị Thu, Nguyễn Thị Hồng Lĩnh, Chu Thắng, Nguyễn Khánh Hồng
    81-92

    Mục tiêu của nghiên cứu là thiết lập kế hoạch thực nghiệm đa yếu tố và sử dụng phương pháp bề mặt đáp ứng (RSM) để tối ưu hóa quá trình xử lý enzyme thu nhận dịch chiết củ hoàng sin cô có hàm lượng đường fructooligosaccharides (FOS) tối đa và tốc độ dòng thấm màng siêu vi lọc (UF) cao. Tiến hành xử lý dịch chiết củ hoàng sin cô ở điều kiện: Nồng độ pectinase G (0,2 - 0,5%), nồng độ cellulase T4 (0,2 - 0,5%), nhiệt độ (45 - 55°C) và thời gian (60 - 120 phút). Mô hình hồi quy với hệ số xác định có ý nghĩa R2 = 0,9879 và 0,9853, tương ứng với sự thay đổi của hàm lượng đường FOS và tốc độ dòng thấm màng UF. Nồng độ pectinase G và celllulase T4 là yếu tố ảnh hưởng lớn đến khả năng thu nhận đường FOS và tốc độ thấm màng lọc (p < 0,05) đối với tất cả các biến phụ thuộc. Dựa trên biểu đồ bề mặt phản ứng và đường đồng mức, điều kiện xử lý enzyme tối ưu ở nồng độ pectinase G là 0,39%, nồng độ celllulase là T4 0,4%, nhiệt độ 50,4oC và thời gian 97,5 phút. Với điều kiện tối ưu này, thu nhận đường FOS đạt 32,14%, tốc độ dòng thấm đạt 7,64 L/h/m2, thu nhận đường FOS tăng 26,0% và tốc độ dòng thấm màng lọc tăng 53,4% so với mẫu đối chứng (không xử lý bằng enzyme). Dịch chiết củ hoàng sin cô sau quá trình xử lý enzyme và lọc màng siêu vi lọc, có thể được sử dụng trong sản xuất nước uống hoặc làm nguyên liệu để phát triển các sản phẩm thực phẩm khác.

    DOI: https://doi.org/10.71254/be65qf83
  • NGHIÊN CỨU CẤU TẠO, TÍNH CHẤT CƠ LÝ VÀ THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA GỖ QUẾ (Cinnamomum cassia Blume)

    Abstract : 484 PDF: 0
    Nguyễn Đức Thành, Trần Văn Vũ, Vũ Thị Ngoan, Tạ Thị Thanh Hương
    93-100

    Cây quế (Cinnamomum cassia Blume) là một trong những cây trồng có giá trị kinh tế cao, góp phần bảo vệ thiên nhiên, môi trường sinh thái, đồng thời giúp xóa đói, giảm nghèo. Tuy nhiên, gỗ quế có nhược điểm là có tính chất cơ học, vật lý thấp, dễ bị nấm và côn trùng tấn công. Bên cạnh đó, sau khi khai thác trong gỗ vẫn tồn tại hàm lượng tinh dầu cao, điều này có ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng dán dính cũng như việc trang sức sản phẩm. Nghiên cứu đã tiến hành xác định đặc tính nguyên liệu gỗ quế tại 2 cấp độ tuổi khai thác là 8 tuổi và 13 tuổi, bao gồm: Cấu tạo (thô đại, hiển vi) gỗ, một số tính chất vật lý (khối lượng riêng, độ co rút và giãn nở, độ hút nước), cơ học (độ bền uốn tĩnh, độ bền nén song song với thớ) và thành phần hóa học. Kết quả nghiên cứu cho thấy, gỗ quế 13 tuổi có tính chất tốt hơn gỗ quế 8 tuổi, tuy nhiên sự khác biệt là không lớn. Tính chất vật lý và cơ học của gỗ quế ở cả 2 cấp độ tuổi này đều đáp ứng được yêu cầu nguyên liệu để sản xuất ván ghép thanh. Tuy nhiên, hàm lượng tinh dầu chứa trong gỗ còn tương đối cao (0,15%), sẽ ảnh hưởng đến độ bền dán dính nên cần có bước nghiên cứu tiếp theo nhằm loại bỏ lượng tinh dầu này.

    DOI: https://doi.org/10.71254/rsez0z89