Số 1 (2021)

					Xem Số 1 (2021)
Đã Xuất bản: 15-01-2021

Bài viết

  • NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY TRÌNH TÍCH HỢP ĐA GEN KHÁNG ĐA YẾU TỐ VÀO GIỐNG LÚA CHẤT LƯỢNG BẰNG CHỈ THỊ PHÂN TỬ (MABC)

    Abstract : 1 PDF: 1
    Nguyễn Thị Minh Nguyệt, Nguyễn Thị Nhài, Nguyễn Bá Ngọc, Đào Văn Khởi, Chu Đức Hà, Lê Hùng Lĩnh, Nguyễn Thị Thanh Thủy
    3-12

    Giống lúa chất lượng Bắc Thơm số 7 (BT7) là một trong những giống lúa chủ lực trong sản xuất lúa gạo ở các tỉnh phía Bắc. Tuy nhiên, canh tác giống BT7 đang chịu ảnh hưởng nghiêm trọng do sự phát triển của sâu bệnh hại, đặc biệt là bệnh bạc lá, bệnh đạo ôn và rầy nâu. Nghiên cứu này được thực hiện với mục đích xây dựng Quy trình tích hợp đa gen kháng đa yếu tố vào giống lúa chất lượng bằng chỉ thị phân tử (MABC). Kết quả nghiên cứu đã áp dụng thành công phương pháp chọn giống dựa vào chỉ thị phân tử và lai trở lại (MABC) để tích hợp được 5-6 gen kháng (bệnh bạc lá, rầy nâu và đạo ôn) vào giống lúa chất lượng BT7. Dòng lúa triển vọng AGI-6 (từ dòng gốc BT7.10.20) tích hợp 6 gen kháng xa5, Xa7, Bph20, Bph21, Pi1 và Pi9(t) đã biểu hiện khả năng chống chịu tốt với các tính trạng mục tiêu: kháng bạc lá điểm 2,9, kháng vừa rầy nâu điểm 3,7 và kháng đạo ôn điểm 3,0. Dòng AGI-6 mang các đặc điểm nông sinh học chính của giống gốc BT7, có chất lượng cơm gạo gần tương tự giống gốc BT7 và có năng suất vượt đối chứng 14,7% trong vụ mùa sẽ được tiếp tục chọn lọc làm thuần và gửi khảo nghiệm VCU, khảo nghiệm DUS và khảo nghiệm sản xuất tại các vùng sinh thái để đánh giá khả năng thích ứng và triển vọng của giống lúa tích hợp đa gen kháng. "Quy trình tích hợp đa gen kháng đa yếu tố vào giống lúa chất lượng bằng chỉ thị phân tử MABC" có khả năng áp dụng để cải tiến giống cây trồng mang những tính trạng mong muốn phục vụ sản xuất nông nghiệp bền vững tại Việt Nam.

    DOI: https://doi.org/10.71254/f0yr1443
  • TẠO DÒNG VÀ ĐÁNH GIÁ NỀN DI TRUYỀN CÁC DÒNG BỐ MẸ MANG ĐỘT BIẾN fea2-1328 NHẰM TĂNG SỐ HÀNG HẠT VÀ CẢI TIẾN NĂNG SUẤT GIỐNG NGÔ LVN10

    Abstract : 1 PDF: 1
    Vi Lạng Sơn, Trần Thị Thúy, Phí Công Nguyên, Nguyễn Thị Liễu, Nguyễn Thúy Điệp, Trần Đăng Khánh, Phương Hữu Pha, Phạm Thùy Chi, Trần Mạnh Báo, Đặng Cao Cường, Khuất Hữu Trung
    13-21

    Các dòng bố mẹ của tổ hợp lai LVN10 (DF2 và DF1) đã được phát triển đến thế hệ BC5F1. Trong tổng số 300 mồi SSR trên 10 nhiễm sắc thể, việc xác định đa hình giữa dòng cho và dòng nhận gen fea2-1328 W22 cho thấy 31 chỉ thị đa hình giữa dòng nhận DF2 và dòng cho gen fea2-1328 W22; 26 chỉ thị đa hình giữa dòng nhận DF1 và dòng cho gen W22 mang đột biến fea2-1328. Nền di truyền của các dòng bố mẹ ở thế hệ kể trên đã được đánh giá sử dụng các chỉ thị SSR đa hình. Dựa vào tính toán DF2 trên các chỉ thị đa hình rải đều trên toàn bộ hệ genome, các cá thể BC5F1 có nền di truyền tương đồng cao so với dòng gốc DF2, DF1 đạt tỷ lệ từ 93,5% đến 100%. Đã xác định được 23 cá thể BC5F1 đạt tỷ lệ 100% số chỉ thị tương đồng với dòng mẹ DF2 và 21 cá thể BC5F1 đạt tỷ lệ 100% tương đồng với dòng bố DF1. Những kết quả thu được sẽ là những thông tin có giá trị trong chọn giống nhờ chỉ thị phân tử và đánh giá mức độ biểu hiện kiểu hình của đột biến fea2-1328 trong các dòng bố mẹ của giống ngô lai LVN10.

    DOI: https://doi.org/10.71254/302tbs22
  • NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG DI TRUYỀN VÀ ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC MỘT SỐ CHỦNG NẤM MỘC NHĨ (Auricularia spp) THU THẬP TẠI VIỆT NAM

    Abstract : 1 PDF: 1
    Nguyễn Thị Giang, Hoàng Thị Đào, Kiều Thị Dung, Trần Thu Hà, Lê Thanh Uyên, Nguyễn Thị Hằng, Đỗ Thị Hạnh, Khuất Hữu Trung, Phạm Xuân Hội
    22-31

    Trong nghiên cứu này, đa dạng di truyền và đặc điểm nông sinh học của 9 mẫu nấm mộc nhĩ trong đó có 5 mẫu thu thập ngoài tự nhiên (Vườn Quốc gia Bidoup-Núi Bà) và 4 mẫu thu thập từ các cơ sở nuôi trồng nấm (tại Bắc Giang, Đồng Nai, Đắk Lắk và Hà Nội) đã được đánh giá. Trình tự vùng ITS (Internal transcribed spacer) của gen ribosom nhân đã được sử dụng để đánh giá đa dạng di truyền. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy hệ số tương đồng di truyền của 9 mẫu giống mộc nhĩ dao động trong khoảng 54,4% (giữa mẫu giống Aucg5 và Aucg6) đến 99,83% (giữa mẫu giống Au8 và Au9). Dựa vào cây quan hệ phát sinh loài của 9 mẫu nấm mộc nhĩ và các mẫu tham chiếu, đã xác định được: Aucg1 và Aucg4 thuộc loài Auricularia delicata; Aucg6 thuộc loài Auricularia polytricha; Aucg7, Au8, Au9 và Au1 thuộc loài Auricularia cornea. Kết quả đánh giá đặc điểm nông sinh học cho thấy  chủng Aucg2 và Aucg6 không bung sợi trên cơ chất nuôi trồng nên không hình thành mầm quả thể, 7 chủng còn lại có khả năng hình thành và phát triển mầm quả thể. Chủng Aucg5, Aucg7 và Au8 có năng suất nấm tươi cao lần lượt là 720,6; 715,6 và 680,3 kg nấm tươi/tấn nguyên liệu, cao hơn giống đối chứng Au1 (610,5 kg nấm tươi/ tấn nguyên liệu) khoảng 11,5-18,1%; có thể đưa vào  nuôi trồng để khảo nghiệm hướng tới phục vụ sản xuất.

    DOI: https://doi.org/10.71254/p9qdg190
  • KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT HỌC CÁC MẪU GIỐNG HOA LAN NHẬP NỘI TẠI HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

    Abstract : 1 PDF: 0
    Hoàng Đăng Dũng, Nguyễn Thị Ngọc Hân, Vũ Thị Xuân Bình
    32-39

    Việt Nam được thiên nhiên ưu đãi, điều kiện môi trường tự nhiên thuận lợi cho sự phát triển của cây lan. Các giống hoa lan tại Việt Nam rất phong phú với nhiều loài lan, có những loài đặc biệt chỉ có ở Việt Nam. Nghiên cứu tiến hành thu thập một số mẫu giống (nhập nội) và đánh giá đặc điểm sinh học của các mẫu giống phục vụ cho công tác tuyển chọn giống mới. Kết quả thu thập 15 mẫu giống khác nhau (trong đó có 10 mẫu giống từ Trung Quốc và 5 mẫu giống từ Lào). Kết quả theo dõi cho thấy có 13 mẫu giống thuộc chi Dendrobium và 1 mẫu giống thuộc chi Anoectochilus và 1 mẫu giống thuộc chi Bletia hyacinthine. Các mẫu giống có chiều dài của thân dao động từ 5,5 - 60,8 cm; đường kính thân từ 0,2 - 1,9 cm, chiều dài lóng dao động từ 0,5 - 2,5 cm; chiều dài lá dao động từ 3,5 – 35 cm; chiều rộng 1,1 - 3 cm. Chiều dài cuống hoa dao động từ 1,5 - 3 cm và đường kính hoa dao động từ 2 - 6 cm; độ bền hoa của các giống hoa khá cao, đa số từ 5 - 10 ngày. Các giống lan cho hoa đều có mùi thơm, chỉ riêng giống lan Thạch hộc tía là không có mùi thơm.

    DOI: https://doi.org/10.71254/thy37410
  • NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA MẪU GIỐNG BẠCH TRUẬT BT1 (Atractylodes macrocephala Koidz) TẠI LÀO CAI

    Abstract : 1 PDF: 0
    Trần Văn Thắng, Lê Văn Giỏi, Lương Vũ Đức, Nguyễn Hải Văn, Trần Thị Lan, Trịnh Văn Vượng, Nguyễn Văn Tâm, Nguyễn Quang Tin
    40-43

    Cây bạch truật (Atractylodes macrocephala Koidz.) là cây thuốc quý được sử dụng rộng rãi trong y học. Nghiên cứu đánh giá đặc điểm sinh trưởng và phát triển mẫu giống bạch truật BT1 chọn lọc đã được tiến hành. Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ 3 lần nhắc lại. Kết quả nghiên cứu mẫu giống BT1 có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt với năng suất thực thu hạt giống là 1,57 tạ/ha và năng suất thực thu dược liệu là 2,96 tấn/ha.

    DOI: https://doi.org/10.71254/rsf6y339
  • NGHIÊN CỨU, CHỌN TẠO GIỐNG LẠC MỚI KHÁNG BỆNH ĐỐM LÁ MUỘN ĐM4 NHỜ CHỈ THỊ PHÂN TỬ

    Abstract : 1 PDF: 1
    Nguyễn Thúy Ngoan, Phan Thanh Phương, Nguyễn Đức Cương, Nguyễn Thanh Loan, Phạm Văn Linh, Phạm Duy Trình, Đồng Thị Kim Cúc
    44-52

    Giống lạc ĐM4 là giống lạc kháng bệnh đốm lá muộn được tạo ra bằng phương pháp truyền thống kết hợp với chỉ thị phân tử do lai tạo giữa 2 giống lạc TB25 và giống lạc TN6. Kết quả khảo nghiệm DUS tại Trung tâm KKNG & SPCT Quốc gia cho thấy giống ĐM4 có tính khác biệt, tính đồng nhất và tính ổn định. Trong vụ xuân giống có thời gian sinh trưởng 112 - 120 ngày. Dạng cây đứng, có số cành cấp I và khối lượng 100 hạt lớn. Năng suất vụ xuân dao động 3,10 – 3,95 tấn/ha; vụ thu đông dao động từ 2,87 – 3,50 tấn/ha. Tỷ lệ hạt/quả cao trên 72%. Có khả năng chống chịu tốt với các loại sâu bệnh hại chính như héo xanh, nhiễm nhẹ gỉ sắt, đốm nâu, đặc biệt kháng được bệnh đốm lá muộn (điểm 1) đã được xác định nhờ chỉ thị phân tử và đánh giá ngoài đồng ruộng. Giống đã được được khảo nghiệm sản xuất tại một số tỉnh phía Bắc.

    DOI: https://doi.org/10.71254/e0235391
  • KẾT QUẢ PHỤC TRÁNG GIỐNG LÚA QUẾ RÂU TẠI TÂN UYÊN, LAI CHÂU

    Abstract : 1 PDF: 1
    Hoàng Thị Nga, Lã Tuấn Nghĩa, Phạm Hùng Cương, Lê Văn Tú, Nguyễn Thanh Hưng, Nguyễn Thị Thúy Hằng
    53-58

    Quế Râu là giống lúa địa phương, hiện được trồng tại huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu. Giống được phục tráng trong 3 năm từ năm 2016 đến năm 2018. Kết quả đánh giá theo dõi G0 trên đồng ruộng đã lựa chọn 298 dòng để tiếp tục đánh giá các chỉ tiêu trong phòng, từ kết quả đánh giá đã chọn lọc được 40 dòng đạt yêu cầu. Từ 40 dòng G1 có cùng thời gian sinh trưởng là 114 ngày, nhiều tính trạng như chiều dài bông, chiều cao thân, số hạt chắc/cây, khối lượng 1.000 hạt đồng đều, từ đó đã chọn lọc được 14 dòng G1 đạt yêu cầu. Ở thế hệ G2, đã chọn lọc được 10 dòng đạt tiêu chuẩn từ 14 dòng đánh giá ban đầu. Lượng hạt giống từ thí nghiệm chọn dòng và nhân dòng được hỗn lại và đạt khối lượng 300 kg, lượng hạt giống này được xác nhận đạt tiêu chuẩn hạt giống siêu nguyên chủng với mã số SNC.M18.002. 

    DOI: https://doi.org/10.71254/86fwn795
  • KHẢO SÁT THÀNH PHẦN VÀ TÌNH TRẠNG VIRUS GÂY BỆNH HẠI CÀ CHUA TẠI VÙNG TRỒNG CHÍNH CỦA TỈNH LÂM ĐỒNG

    Abstract : 1 PDF: 0
    Hoàng Việt Hậu, Hồ Minh Hiền, Lưu Thế Trung, Nguyễn Khoa Trưởng, Lê Ngọc Triệu
    59-66

    Bệnh xoăn lá do virus trên cà chua đã gây thiệt hại lớn cho sản xuất tại các vùng trồng cà chua chính của Lâm Đồng. Để tạo cơ sở cho các giải pháp phòng trừ, việc khảo sát tình trạng virus ở vườn ươm, các kiểu canh tác khác nhau, trên hạt giống, mẫu đất trồng được thực hiện. Trong nghiên cứu này, kỹ thuật RT-PCR được sử dụng để kiểm tra sự xâm nhiễm trên mẫu thu thập từ hai huyện Đức Trọng và Đơn Dương. Kết quả ghi nhận tại khu vực canh tác bị xâm nhiễm 7 loại virus sau: ToMV (17,05%), CMV (7,75%), TMV (4,65%), TSWV (3,10%), TNRV (3,10%), Begomovirus (6,98%) và  Tospovirus (14,73%); các vườn canh tác không che chắn hoặc che chắn không tốt bị nhiễm cả 7 loại virus; các vườn che chắn tốt, tỷ lệ nhiễm virus thấp và ít chủng loại: ToMV (6,00%), CMV (2,00%), TMV (2,00%), Tospovirus (6,00%). Ở các vườn ươm, ghi nhận được sự xuất hiện của các loại virus ToMV (44,93%), CMV (27,22%), TMV (0,63%) và Tospovirus (1,27%), các vườn ươm che chắn tốt hạn chế đáng kể tình trạng xâm nhiễm virus so với các vườn che chắn không tốt. Hạt giống được sử dụng để gieo ươm tạo cây con làm gốc ghép có tỷ lệ nhiễm virus ToMV là 43,75% trong khi không phát hiện virus ở hạt để gieo ươm tạo cây con làm ngọn ghép. Các mẫu bọ trĩ, bọ phấn và bọ cưa thu thập trong các khu vực khảo sát có mang các loại virus ToMV, CMV, Tospovirus và Begomovirus. Với các mẫu đất thu thập được từ các vườn canh tác, 26,67% mẫu nhiễm ToMV và 33,33% mẫu nhiễm TMV.

    DOI: https://doi.org/10.71254/czpxye67
  • ĐẶC ĐIỂM CỦA PHẪU DIỆN ĐẤT PHÈN TRỒNG THANH LONG (Hylocereus costaricensis L.) TẠI HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG

    Abstract : 1 PDF: 1
    Nguyễn Quốc Khương, Nguyễn Minh Chánh, Lê Vĩnh Thúc, Võ Thị Bích Thủy, Phan Chí Nguyện, Trần Chí Nhân, Lý Ngọc Thanh Xuân
    67-76

    Nghiên cứu nhằm xác định đặc điểm hình thái và tính chất hóa học đất phèn trồng thanh long tại huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Kết quả nghiên cứu cho thấy hai phẫu diện đất phèn trồng thanh long bằng trụ được phân loại là đất phèn hoạt động, với tầng phèn xuất hiện cạn (TB-TL-01) và đất phèn tiềm tàng với tầng sinh phèn xuất hiện rất sâu (TB-TL-02) trong khi đất trồng thanh long bằng giàn được phân loại là đất phèn hoạt động với tầng phèn xuất hiện cạn (TB-TL-03) và đất phèn tiềm tàng với tầng sinh phèn xuất hiện sâu (TB-TL-04). Giá trị pHH2O và pHKCl đất tầng mặt của các phẫu diện đất phèn được ghi nhận đối với trồng thanh long bằng trụ tương ứng là 4,40-5,26 và 3,52-5,00 và giàn tương ứng là 4,43-4,45 và 3,51-3,90. Hàm lượng độc chất Al3+ trong đất lên đến 18,9 meq/100 g và Fe2+ 832,9 mg/kg. Hàm lượng N tổng số ở tầng mặt của bốn phẫu diện được đánh giá ở mức thấp trong khi hàm lượng P tổng số được đánh giá ở mức trung bình đối với phẫu diện TB-TL-02, TB-TL-03, TB-TL-04 và thấp đối với phẫu diện TB-TL-01. Hàm lượng NH4+ và PO­43- dễ tiêu ở tầng mặt được xác định lần lượt là 5,41-31,9 mg NH4+ kg-1, 12,6-44,1 mg P kg-1. Hàm lượng các dạng P-Al và P-Fe trong đất tầng mặt cao đối với trồng trụ (170,9 và 461,1 mg/kg) và giàn (290,8 và 195,1 mg/kg) theo thứ tự. Đất có hàm lượng chất hữu cơ và khả năng trao đổi cation được xác định ở ngưỡng thấp. Đất phèn trồng thanh long bằng trụ có hàm lượng Al3+ và P tổng số thấp hơn trồng giàn, nhưng hàm lượng Fe2+ và N tổng số tương đương nhau.

    DOI: https://doi.org/10.71254/qkwaac51
  • THIẾT LẬP “HỆ THỐNG CHẨN ĐOÁN VÀ KHUYẾN CÁO TÍCH HỢP (DRIS)” ĐỂ ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG CỦA CÂY BẮP LAI TRÊN ĐẤT PHÙ SA TỈNH AN GIANG

    Abstract : 1 PDF: 1
    Lê Phước Toàn, Ngô Ngọc Hưng
    77-84

    Mục tiêu của nghiên cứu nhằm: (1) Xây dựng được bộ DRIS chuẩn cho bắp lai trên đất phù sa An Giang; (2) Đánh giá mức độ thích hợp của bộ chuẩn DRIS để chẩn đoán tình trạng dinh dưỡng bắp lai ở An Giang. Đề tài được thực hiện vào vụ đông xuân 2014 - 2015 và 2015 - 2016 trên các ruộng trồng bắp lai trên đất phù sa tại huyện An Phú, tỉnh An Giang. Mẫu lá của giống bắp lai NK7328 (n=129) được thu vào giai đoạn phát triển của cây R1 (là giai đoạn phun râu của cây bắp). Đã xây dựng được bộ DRIS chuẩn để sử dụng trong chẩn đoán tình trạng dinh dưỡng khoáng của cây bắp lai trên đất phù sa. Có mối tương quan hồi qui giữa hàm lượng N, P, K, Ca và Mg trong lá bắp lai và chỉ số DRIS với hệ số xác định (R2) dao động 0,4-0,7. Ngoại trừ trên đất phù sa bao đê, Mg có hệ số xác định R2 = 0,9. Các nghiệm thức bón khuyết dưỡng chất được sử dụng để thẩm định kết quả chẩn đoán tính thích hợp của DRIS, chỉ số DRIS đối với N, P và K của đất bao đê mang giá trị âm thể hiện tình trạng cung cấp các dưỡng chất này rất kém và nó được đánh giá kém hơn so với đất không bao đê. Sử dụng chỉ số DRIS cho kết quả chẩn đoán phù hợp với thực tế về đáp ứng năng suất của hai loại đất, việc bổ sung các loại dinh dưỡng khoáng N, P, K, Ca và Mg làm tăng năng suất bắp lai trên đất bao đê cao hơn so với đất không bao đê.

    DOI: https://doi.org/10.71254/tebhq096
  • ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC CHẤT KÍCH THÍCH SINH TRƯỞNG THỰC VẬT ĐẾN NHÂN GIỐNG IN VITRO CÂY CÁT TƯỜNG (Eustoma grandiflorum) TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIÊN GIANG

    Abstract : 0 PDF: 0
    Nguyễn Thị Thu Hậu, Chương Thị Hoài Thương
    85-91

    Cát tường (Eustoma grandiflorum (RAF.) Shinn) cây thuộc họ lông đởm (Gentianaceae). Hạt Cát tường có kích thước nhỏ và tỷ lệ nảy mầm thấp. Do vậy, quá trình nhân giống in vitro loài cây này đã và đang được nhiều nhà khoa học trên thế giới triển khai. Để nhân giống in vitro cây Cát tường tại Việt Nam, các thí nghiệm về ảnh hưởng của chất khử trùng khi tạo mẫu sạch và nồng độ chất kích kích sinh trưởng thực vật lên quá trình hình thành callus, tạo chồi và ra rễ trong điều kiện nuôi cấy in vitro đã được triển khai. Kết quả thí nghiệm chỉ ra rằng, khi sử dụng chất khử trùng là Javel (nồng độ 50%) trong thời gian 8 phút cho tỷ lệ mẫu sạch cao nhất (86,11%) đồng thời trên môi trường MS có bổ sung 0,7-0,9 mg/L 2,4 D kết hợp 0,1 mg/l NAA, 30 g/l sucrose, là thích hợp cho quá trình hình thành callus (98,67-100%). Mặt khác, trên môi trường MS có bổ sung 0,6 mg/L BA hay 0,6 mg/L Kn cho tỷ lệ nhân chồi Cát tường in vitro là 100% hình thành chồi. Trên môi trường MS có bổ sung 1 mg/l IBA cho kết quả quá trình ra rễ cây Cát tường in vitro là 71,11 %, chiều dài rễ 8,14 cm.

    DOI: https://doi.org/10.71254/p8cvt363
  • XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN CÂY GIỐNG IN VITRO SÂM NGỌC LINH (Panax vietnamensis Ha et Grushv.) ĐƯA RA VƯỜN ƯƠM

    Abstract : 0 PDF: 1
    Đinh Xuân Tú, Nguyễn Phúc Quân, Vũ Duy Dũng, Hoàng Thị Giang, Nguyễn Thanh Tuấn
    92-98

    Sâm Ngọc Linh là cây dược liệu quý và đặc hữu của Việt Nam. Mở rộng diện tích trồng sâm Ngọc Linh sử dụng cây giống in vitro đang là hướng đi đúng đắn trong bối cảnh khan hiếm nguồn cây giống. Tuy nhiên, việc xây dựng tiêu chuẩn của cây giống in vitro sâm Ngọc Linh để chuyển ra vườn ươm vẫn chưa được nghiên cứu nhiều. Trong bài báo này đã xác định được tiêu chuẩn để lựa chọn cây giống in vitro sâm Ngọc Linh đưa ra vườn ươm, gồm: cây in vitro đạt 8 tháng tuổi, củ có đầu mầm, thân rễ phình tạo củ có đường kính đạt từ 0,5 - 1,0 cm; chiều cao cây từ 4 – 5 cm; có 1 lá kép màu xanh đậm và có tối thiểu 2-3 rễ. Sau 6 tháng ươm trồng dưới tán rừng tại xã Măng Ri, huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum cho cho tỷ lệ cây sống đạt 82,72 – 88,74%, tỷ lệ ra rễ mới đạt 77,93 – 83,14% và trung bình số lượng rễ đạt 5,12 – 5,29 rễ/cây.

    DOI: https://doi.org/10.71254/mcj8am16
  • ẢNH HƯỞNG CỦA NHIỆT ĐỘ VÀ THỜI GIAN CÔ ĐẶC CHÂN KHÔNG ĐẾN HÀM LƯỢNG POLYPHENOL VÀ KHẢ NĂNG CHỐNG OXY HÓA DỊCH QUẢ LÊKIMA (Pouteria campechiana) CÔ ĐẶC

    Abstract : 1 PDF: 1
    Trần Xuân Hiển, Huỳnh Liên Hương, Nguyễn Trung Thành
    99-103

    Các đặc tính dược liệu của quả lêkima (Pouteria campechiana) ở Việt Nam hiện nay vẫn chưa được nghiên cứu nhiều. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của nhiệt độ và thời gian cô đặc chân không đến hàm lượng polyphenol tổng và hoạt tính kháng oxy hóa dịch quả lêkima cô đặc. Hiệu quả của quá trình cô đặc được đánh giá thông qua hàm lượng polyphenol tổng số (TPC) và hoạt tính kháng oxy hóa dựa trên khả năng trung hòa gốc tự do DPPH. Kết quả thực nghiệm cho thấy ở nhiệt độ 750C và thời gian 50 phút, hàm lượng polyphenol tổng số (TPC) của dịch cô đặc là 7,69±0,04 mgGAE/g, khả năng loại gốc tự do (DPPH) là 73,82±2,79% và có giá trị IC50 đạt 7,35 mg/mL. Kết quả từ nghiên cứu này góp phần cung cấp dẫn liệu khoa học quý giá về quả lêkima, đặc biệt cho ngành công nghệ thực phẩm.

    DOI: https://doi.org/10.71254/298vqd64
  • KHẢO SÁT MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ CỦA CHÓ MẮC BỆNH CARRE VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ Ở MỘT SỐ PHÒNG KHÁM THÚ Y TẠI TỈNH TRÀ VINH

    Abstract : 1 PDF: 0
    Châu Công Đáng, Trần Ngọc Bích, Lê Quang Trung, Nguyễn Thị Anh Thư
    104-110

    Đề tài được tiến hành bằng phương pháp nghiên cứu cắt ngang trên 319 con chó được nuôi tại tỉnh Trà Vinh. Chẩn đoán lâm sàng dựa trên các dấu hiệu đặc trưng của bệnh Carre trên chó. Chó được lập bệnh án theo dõi và điều trị sau khi được xác định dương tính với CDV bằng bộ xét nghiệm nhanh (Công ty Gemc Technology-Trung Quốc). Kết quả hỏi bệnh và khám lâm sàng có 70 chó nghi mắc bệnh Carre, chiếm tỷ lệ 21,94%. Kết quả xét nghiệm cận lâm sàng bằng bộ xét nghiệm nhanh đã xác định có 32 ca nhiễm virus Carre, chiếm tỷ lệ 45,71% trên 70 chó nghi nhiễm và 10,03% trên tổng số chó khảo sát. Chó dưới 6 tháng tuổi có tỷ lệ mắc bệnh 65,22%, cao hơn so với các nhóm tuổi khác. Tỷ lệ dương tính với CDV giữa chó đực (50,00%) và chó cái (42,50%), khác nhau không có ý nghĩa thống kê. Tuy nhiên, có sự khác biệt rất có ý nghĩa thống kê giữa giống chó nội (77,42%) và giống chó ngoại (20,51%). Chó được tiêm phòng đủ liều có tỷ lệ nhiễm bệnh 6,45%, thấp hơn so với chó chưa được tiêm phòng là 78,95% và chó được tiêm phòng không đủ liều là 68,18%. Chó mắc bệnh Carre có các triệu chứng lâm sàng điển hình như biếng ăn, ủ rũ, sốt, nôn mửa, chảy nước mũi xanh và tiêu chảy phân đen. Hiệu quả điều trị của phác đồ 1 và 2 là tương tự nhau và hiệu quả điều trị khỏi bệnh còn thấp (20,00-30,00%) ở cả hai phác đồ điều trị.

    DOI: https://doi.org/10.71254/jy7r8141
  • ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG NGHỆ COPEFLOC ĐẾN CHẤT LƯỢNG AN TOÀN SẢN PHẨM TÔM THẺ CHÂN TRẮNG

    Abstract : 1 PDF: 0
    Nguyễn Thị Biên Thùy, Trần Thị Nguyệt Minh, Lê Văn Khôi
    111-118

    Bài báo trình bày nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của công nghệ Copefloc đến chất lượng an toàn sản phẩm tôm chân trắng thương phẩm. Kết quả cho thấy, công nghệ Copefloc không ảnh hưởng đến chất lượng an toàn sản phẩm tôm thẻ chân trắng về dư lượng các hóa chất, kháng sinh độc hại. Tôm thẻ chân trắng không chứa dư lượng Chloramphenicol, các chất chuyển hóa của Nitrofuran và Malachite Green. Công nghệ Copefloc không ảnh hưởng đến chất lượng an toàn sản phẩm tôm thẻ chân trắng về hàm lượng Pb, Hg nhưng lại ảnh hưởng đến hàm lượng As, Cd. Ứng dụng công nghệ nuôi Copefloc tạo ra sản phẩm tôm chân trắng thương phẩm chứa hàm lượng kim loại nặng As (0,62 µg/kg), Cd (0,06 µg/kg) thấp hơn công nghệ nuôi thông thường (As, Cd trung bình lần lượt là 1,49; 0,28 µg/kg). Công nghệ Copefloc không ảnh hưởng đến mật độ Salmonella spp (0/25 g thịt tôm) và Staphylococcus spp (0,25 x 102 - 0,27 x 102 cfu/g), nhưng lại ảnh hưởng đến mật độ tế bào vi khuẩn hiếu khí tổng số và mật độ E. coli trong 1 g thịt tôm thương phẩm. Ứng dụng công nghệ Copefloc cho sản phẩm tôm thương phẩm nhiễm vi khuẩn tổng số (4,98 x 104 cfu/g) và E. coli (0,12 x 102 cfu/g) thấp hơn công nghệ nuôi thông thường (vi khuẩn tổng số và E. coli lần lượt là 14,87 x 104; 2,36 x 102 cfu/g). Sản phẩm tôm thẻ chân trắng nuôi ứng dụng công nghệ Copefloc đạt chất lượng an toàn thực phẩm về dư lượng hóa chất, kháng sinh, kim loại nặng và vi sinh theo quy định hiện hành. Đối với sản phẩm tôm thẻ chân trắng nuôi thông thường, đạt chất lượng an toàn thực phẩm về dư lượng hóa chất, kháng sinh, vi khuẩn tổng số, Salmonella, Staphylococcucs theo quy định hiện hành; chưa đạt yêu cầu an toàn thực phẩm về vi khuẩn tổng số (theo quy định của EU) và E. coli  (theo quy định tại Việt Nam và trên thế giới).

    DOI: https://doi.org/10.71254/f4ahah92
  • NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VÀ KHẢ NĂNG PHỤC HỒI RỪNG SAU NƯƠNG RẪY TẠI VƯỜN QUỐC GIA TÀ ĐÙNG, TỈNH ĐẮK NÔNG

    Abstract : 2 PDF: 1
    Nguyễn Thanh Tân, Nguyễn Thị Thanh Hương
    119-127

    Nghiên cứu được thực hiện trên hai kiểu rừng phục hồi sau nương rẫy là kiểu rừng ít tre, nứa và kiểu rừng tre, nứa tại Vườn Quốc gia Tà Đùng, tỉnh Đắk Nông. Số liệu thu thập từ 37 ô tiêu chuẩn điển hình với diện tích 2.500 m2/ô (50 m x 50 m), trong đó 33 ô được thiết lập ở rừng sau nương rẫy đại diện các kiểu rừng và thời gian phục hồi, 4 ô được thiết lập ở rừng ổn định. Kết quả nghiên cứu cho thấy, phân bố số cây theo cấp kính 2 giai đoạn phục hồi đầu là 5 - 9 năm và 10 - 14 năm tuân theo quy luật dạng giảm theo hàm Meyer, giai đoạn 15 - 20 năm có dạng một đỉnh lệch trái, số cây tập trung nhiều nhất ở cỡ kính thấp đối với cả 2 kiểu rừng. Mạng hình phân bố cây rừng trên mặt bằng có quy luật phân bố cách đều với cả 3 giai đoạn phục hồi trên hai kiểu rừng. Cấu trúc tầng thứ và độ tàn che tăng dần theo giai đoạn phục hồi, cấu trúc tăng từ 1 đến 3 tầng, độ tàn che biến động từ 0,31 đến 0,54 tương ứng với các giai đoạn phục hồi là 5 - 9 năm, 10 - 14 và 15 - 20 năm. Thời gian phục hồi đạt đến trạng thái rừng ổn định đối với kiểu rừng ít tre, nứa được dự đoán khoảng 41 đến 46 năm, thấp hơn so với kiểu rừng tre, nứa, khoảng 55 đến 58 năm.

    DOI: https://doi.org/10.71254/txcp1018
  • MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VÀ TÍNH CHẤT THỂ NỀN CỦA RỪNG NGẬP MẶN TRỒNG VEN BIỂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH

    Abstract : 1 PDF: 0
    Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Bùi Mạnh Cường, Trương Đức Cảnh, Lê Đắc Trường, Nguyễn Quốc Hoàn
    128-137

    Nhằm góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc phục hồi và bảo tồn rừng ngập mặn tại khu vực ven biển tỉnh Nam Định, một số đặc điểm cấu trúc và tính chất thể nền của rừng trồng thuần loài trang (Kandelia obovata), thuần loài bần chua (Sonneratia caseolaris) và rừng hỗn giao trồng ven biển huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định đã được đánh giá trên cơ sở xác định chiều cao, đường kính thân cây, mật độ cây và phân tích 54 mẫu đất. Kết quả nghiên cứu cho thấy, rừng trang, rừng bần chua và rừng hỗn giao có mật độ lần lượt là 8.533 ± 1.300 cây/ha, 1.600 ± 346 cây/ha và 7.733 ± 550 cây/ha; đường kính thân lần lượt là 6,7 ± 1,1 cm, 23,5 ± 1,7 cm và 9,3 ± 6,1 cm; chiều cao cây lần lượt là 3,2 ± 0,6 m, 11,8  ± 1,1 m và 5,3 ± 0,9 m. Giữa các kiểu rừng trồng (thuần loài trang, bần chua và rừng hỗn giao), không có sự khác nhau đáng kể giữa các đặc điểm vật lý như Eh, pH hay thành phần cơ giới của đất. Trong đó Eh của đất ở cả 3 kiểu rừng nghiên cứu dao động trong khoảng -108,2 đến - 97,5 mV, pH trong khoảng 6,9 đến 7,1. Tỷ lệ các cấp hạt cát, limon và sét cũng ít thay đổi ở các kiểu rừng khác nhau. Hàm lượng mùn trong đất dao động trong khoảng 0,98 đến 1,13% và hàm lượng kali giao động trong khoảng 573,1 - 676,0 mg/kg. Hàm lượng nitơ dễ tiêu và photpho dễ tiêu ở rừng trang lần lượt là 12,1 ± 5,9 mg/100 g và 91,2 ± 38,7 mg/kg cao hơn đáng kể so với rừng bần chua (hàm lượng nitơ và photpho dễ tiêu lần lượt là 5,4 ± 2,0 mg/100 g và 53,7 ± 13,9 mg/kg) và rừng hỗn giao (hàm lượng nitơ và photpho dễ tiêu lần lượt là 4,4 ± 2,7 mg/100 g và 45,7 ± 13,4 mg/kg). Trong khi đó hàm lượng Fe cao nhất ở rừng hỗn giao (2.339,1 ± 1.612,7 mg/kg, sau đó là ở rừng bần chua (1.670,8 ± 1.089 mg/kg) và thấp nhất ở rừng trang (936,1 ± 443,1 mg/kg).

    DOI: https://doi.org/10.71254/1ja03905
  • ĐÁNH GIÁ BIẾN ĐỘNG HIỆN TRẠNG VÀ CHẤT LƯỢNG RỪNG NGẬP MẶN TẠI VƯỜN QUỐC GIA XUÂN THỦY BẰNG ẢNH VỆ TINH LANDSAT ĐA THỜI GIAN

    Abstract : 1 PDF: 1
    Trần Thị Mai Sen, Nguyễn Thị Kim Cúc, Phạm Minh Toại, Phạm Tiến Dũng, Nguyễn Huy Hoàng
    138-145

    Nghiên cứu sử dụng các ảnh vệ tinh Landsat từ 5 - 8 để đánh giá hiện trạng và chất lượng rừng ngập mặn của Vườn Quốc gia Xuân Thủy, tỉnh Nam Định trong khoảng thời gian từ năm 2005 – 2019. Biến động hiện trạng rừng ngập mặn được xác định dựa vào kết quả giải đoán và bảng ma trận biến động; biến động về chất lượng rừng ngập mặn theo thời gian được đánh giá dựa vào chỉ số thực vật khác biệt chuẩn hóa (NDVI) và chỉ số thực vật tăng cường (EVI) trích xuất từ ảnh Landsat. Kết quả cho thấy, trong giai đoạn từ năm 2005 – 2019, diện tích rừng ngập mặn tại khu vực tăng hơn 600 ha, diện tích rừng trồng Phi lao trên đất cát tăng 125,4 ha. Chỉ số NDVI và chỉ số EVI phản ánh rõ rệt xu hướng biến động về chất lượng rừng. Đối với khu vực không có rừng tại năm quan sát 2019 ghi nhận chỉ số NDVI và EVI biến đổi theo 2 xu hướng chính: Giai đoạn 2005 - 2012 chỉ số NDVI và EVI luôn đạt tiêu chí để thành rừng trước khi hai chỉ số này giảm dưới ngưỡng thành rừng trong giai đoạn 2013 - 2019. Đối với khu vực có rừng tại năm quan sát 2019 ghi nhận 2 xu hướng biến đổi tương ứng với 2 khu vực: Khu vực vùng đệm (Bãi Trong) rừng bị suy thoái mạnh hơn trong khi khu vực vùng lõi (cồn Ngạn, cồn Lu) ít bị suy thoái do cấu trúc rừng cơ bản đã ổn định để có thể thích ứng với các điều kiện ngoại cảnh tác động. Các kết quả nghiên cứu sẽ được sử dụng làm cơ sở hữu ích cho việc theo dõi diễn biến và quản lý chất lượng rừng ngập mặn ở Việt Nam.

    DOI: https://doi.org/10.71254/rnabhj40
  • NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG THIẾT BỊ PHÂN LOẠI TĂM HƯƠNG

    Abstract : 1 PDF: 1
    Tạ Thị Phương Hoa, Vũ Huy Đại, Lê Xuân Ngọc, Nguyễn Đức Thành
    146-151

    Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu ứng dụng thiết bị phân loại tăm hương để phân loại tăm hương chất lượng cao. Đưa ra quy trình công nghệ phân loại tăm hương trên thiết bị được thiết kế chế tạo. Quy trình bao gồm 2 công đoạn: phân loại sơ bộ theo chiều dài tăm hương loại bỏ những tăm có kích thước nhỏ hơn yêu cầu và phân loại chất lượng tăm hương loại bỏ những loại tăm gẫy, dập nát ở thân, đầu tăm. Thử nghiệm phân loại tăm hương đường kính 1,2; chiều dài 885 mm. Tỷ lệ tăm hương đạt chất lượng tương đối cao đạt tỷ lệ 93%. Khi áp dụng hệ thống thiết bị phân loại tăm hương với kích thước đầu vào khác nhau, cần thiết phải điều chỉnh kích thước băng chuyền, tốc độ biến tần, vị trí mũi gạt, tốc độ gió hợp lý cho phù hợp với đặc điểm của nguyên liệu. Thiết bị có khả năng thay thế cho phân loại thủ công truyền thống hiện nay tại các làng nghề.

    DOI: https://doi.org/10.71254/3xwe9h57
  • PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU: KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ BÀI HỌC CHO VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

    Abstract : 11 PDF: 4
    Vũ Thị Lê Hoa
    152-160

    Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là khu vực nằm cuối của lưu vực sông Mê Kông, trải dài trên 6 quốc gia và đổ ra biển Đông. Sau hơn 30 năm đổi mới, ĐBSCL đã có bước phát triển vượt bậc, trở thành vùng nông nghiệp trọng điểm của cả nước. Tuy nhiên, hiện nay ĐBSCL đang đứng trước những thay đổi khó dự đoán nhất trong lịch sử kiến tạo vùng đồng bằng châu thổ. Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi này là biến đổi khí hậu đã ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của ĐBSCL, đặc biệt đối với ngành nông nghiệp. Vì vậy, vùng cần đề xuất và thực hiện những giải pháp để phát triển nông nghiệp bền vững thích ứng với biến đổi khí hậu. Bên cạnh những kết quả đạt được trong quá trình phát triển nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu, cụ thể: áp dụng công nghệ trong sản xuất, lựa chọn giống chống chịu hạn, mặn, chuyển đổi cơ cấu cây trồng và vật nuôi,…; việc phát triển nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu vẫn tồn tại những hạn chế như: các giống cây trồng chưa đáp ứng được hạn, mặn, chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm chưa được đảm bảo, mô hình sản xuất nông nghiệp bền vững còn nhỏ lẻ và tự phát, vùng chưa chủ động kiểm soát tình hình ngập úng…Hiện nay, vấn đề phát triển nông nghiệp bền vững thích ứng với biến đổi khí hậu đang được các quốc gia trên thế giới nghiên cứu và thực hiện khá thành công. Bài viết dưới đây tập trung phân tích thực trạng phát triển nông nghiệp bền vững thích ứng với biến đổi khí hậu ở ĐBSCL; kinh nghiệm phát triển nông nghiệp bền vững thích ứng với biến đổi khí hậu ở Hà Lan, Trung Quốc; từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho vùng ĐBSCL để phát triển nông nghiệp bền vững thích ứng với biến đổi khí hậu trong thời gian tới.

    DOI: https://doi.org/10.71254/tsskc804