ĐÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA SÁU DÒNG ĐẬU NÀNH BC3F4 TẠI XÃ LỊCH HỘI THƯỢNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Các tác giả

  • Nguyễn Châu Thanh Tùng, Vũ Thị Xuân Nhường, Võ Thị Phương Thảo, Ngô Thụy Diễm Trang

DOI:

https://doi.org/10.71254/src7z525

Abstract

This study aimed to evaluate the growth and seed yield of six BC3F4 soybean lines in Lich Hoi Thuong commune, Can Tho city (formerly Lich Hoi Thuong commune, Tran De district, Soc Trang province). The two maternal control varieties in the crossing scheme were MTĐ176 and MTĐ878-2, while the paternal varieties carrying the salt-tolerance gene Ncl were NILs and FH 92-1. The experiment was conducted in a randomized complete block design with four replications and a total experimental area of 150 m2. Growth-related traits, such as plant height at flowering and maturity, fruit-bearing height, number of productive branches and number of internodes, were recorded at the flowering and harvesting stages. Number of pods/plant, number of seeds/pod, number of empty pods, 100-seed weight and seed yield were collected at harvest. The plant height at flowering (25.6 cm), plant height at maturity (73.3 cm) and number of internodes (13) of line 1500 were the highest, while the number of empty pods was the lowest (0.88 pod). Line 1600-1 exhibited the highest fruit-bearing height (12.48 cm), while lines 1400-1 and 1200-3 produced three productive branches. Lines 1500 (3.87 t/ha), 1600-1 (3.74 t/ha) and 1400-1 (3.41 t/ha) achieved the highest seed yields, demonstrating soybean lines with promising yields. Notably, line 1500, which showed the lowest number of empty pods and the highest seed yield, is well-suited to local conditions.

Keywords:

BC3F4, soybean, seed yield, growth

Tóm tắt

Nghiên cứu này nhằm đánh giá sinh trưởng và năng suất của 6 dòng đậu nành BC3F4 được thực hiện tại xã Lịch Hội Thượng, thành phố Cần Thơ (trước sáp nhập là xã Lịch Hội Thượng, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng). Hai giống đối chứng làm mẹ trong tổ hợp lai là MTĐ176 và MTĐ878-2; trong khi các giống làm cha mang gen chịu mặn Ncl là NILs và FH 92-1. Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 4 lần lặp lại và tổng diện tích thí nghiệm là 150 m2. Các chỉ tiêu sinh trưởng như: Chiều cao cây lúc trổ, chiều cao cây lúc chín và chiều cao đóng trái, số cành hữu hiệu và số lóng được ghi nhận ở thời điểm ra hoa và thu hoạch. Tổng số trái/cây, tổng số hạt/trái, số trái lép, khối lượng 100 hạt và năng suất hạt của các dòng đậu nành được đánh giá khi thu hoạch. Dòng 1500 có chiều cao cây lúc trổ (25,6 cm), chiều cao cây lúc chín (73,3 cm) và số lóng (13 lóng) cao nhất, trong khi có số trái lép thấp nhất (0,88 trái). Chiều cao đóng trái cao nhất ở dòng 1600-1 (12,48 cm), dòng 1400-1 và 1200-3 có số cành hữu hiệu là 3 cành. Các dòng đậu nành 1500 (3,87 tấn/ha), 1600-1 (3,74 tấn/ha), 1400-1 (3,41 tấn/ha) cao nhất, đây là những dòng đậu nành có năng suất triển vọng. Đặc biệt là dòng đậu nành 1500 có số trái lép thấp nhất và năng suất hạt cao nhất thích hợp ở điều kiện địa phương.

Từ khóa:

BC3F4, đậu nành, năng suất hạt, sinh trưởng

Tải xuống

Ngày nhận bài:

03-06-2026

Ngày nhận bài sửa:

14-07-2026

Ngày duyệt đăng:

20-08-2026

Ngày xuất bản:

10-09-2026

Title:

EVALUATION OF GROWTH AND SEED YIELD OF SIX BC3F4 SOYBEAN LINES IN LICH HOI THUONG COMMUNE, CAN THO CITY
Cách trích dẫn
ĐÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA SÁU DÒNG ĐẬU NÀNH BC3F4 TẠI XÃ LỊCH HỘI THƯỢNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ. (2026). Tạp Chí Nông nghiệp Và Môi trường, 17, 29-38. https://doi.org/10.71254/src7z525
Bài viết

Các trích dẫn

ĐÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA SÁU DÒNG ĐẬU NÀNH BC3F4 TẠI XÃ LỊCH HỘI THƯỢNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ. (2026). Tạp Chí Nông nghiệp Và Môi trường, 17, 29-38. https://doi.org/10.71254/src7z525
Lượt xem
0
Lượt tải
0